Vụ án hình sự là Vụ việc phạm pháp có dấu hiệu là tội phạm đã được quy định trong Bộ luật hình sự đã được cơ quan điều tra ra lệnh khởi tố về hình sự để tiến hành điều tra, truy tố, xét xử theo các trình tự, thủ tục đã được quy định ở Bộ luật hình
Bị hại có đơn bãi nãi thì vụ án hình sự có bị tiếp tục khởi tố không? Vụ án hình sự không được khởi tố dựa vào các căn cứ nào? Các tình tiết nào được giảm nhẹ hình phạt trong vụ án hình sự?Chào luật sư, con tôi đang bị khởi tố hình sự về tội cố ý gây thương tích theo Điều 134 Bộ luật hình
Khởi tố vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng độc lập, mở đầu các hoạt động điều tra. Trong giai đoạn này, cơ quan có thẩm quyền khởi tố tiến hành các hoạt động để xác định dấu hiệu của tội phạm. Khởi tố vụ án hình sự được ghi nhận trong các quy
Thủ tục khởi kiện vụ án dân sự. trịcó tranh chấp vượt quá 1.000.000.000 đồng. 4/ Mức án phí dân sự phúc thẩm đối với tất cả các vụ án dân sự là 50.000 đồng. 5/ Đối với vụ án hôn nhân và gia đình mà có tranh chấp về việc chia ứng án phí sơ thẩm là 50.000
Khởi tố vụ án hình sự sẽ được thể hiện bằng Quyết định khởi tố vụ án hình sự. Quyết định khởi tố vụ án hình sự là quyết định được lập bởi những người tiến hành tố tụng có thẩm quyền theo những trình tự thủ tục luật định để chính thức thể
Trình tự để khởi tố một vụ án hình sự. Để khởi tố vụ án hình sự cân tuân thủ các bước theo quy định của Bộ Luật Tố tụng hình sự như sau: Thứ nhất: Phải xác định xem có dấu hiệu của tội phạm hay không Muốn khởi tố được vụ án hình sự thì phải có dấu hiệu tội phạm. Dấu hiệu tội phạm được dựa trên các căn cứ quy định tại điều 143 Bộ luật tố tụng hình sự
hazpVB. 1. Tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định về thủ tục tiếp nhận tin tức tội phạm đối với từng nhóm chủ thểThứ nhất, nếu cơ quan, tổ chức, cá nhân trực tiếp tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải lập biên bản tiếp nhận và ghi vào sổ tiếp nhận có thể ghi âm, ghi hình có âm thanh việc tiếp nhận. Nếu tố giác tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố được gửi qua dịch vụ bưu chính, điện thoại hoặc qua phương tiện thông tin khác thì ghi vào sổ tiếp nhận. Viện kiểm sát có trách nhiệm chuyển ngay các tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố kèm theo các tài liệu có liên quan đã tiếp nhận cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền. Thứ hai, công an cấp xã, phường, thị trấn, đồn Công an có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, lập biên bản tiếp nhận, tiến hành kiểm tra, xác minh sơ bộ và chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo các đồ vật, tài liệu có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền. Thứ ba, đối với các cơ quan, tổ chức khác, sau khi nhận được tố giác, tin báo về tội phạm phải chuyển ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền, trường hợp khẩn cấp thì có thể báo tin trực tiếp qua điện thoại hoặc hình thức khác cho Cơ quan điều tra nhưng sau đó phải thể hiện bằng văn bản Điều 146 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Hình minh họa. Trình tự, thủ tục khởi tố vụ án hình sự 2. Kiểm tra, xác minh các nguồn tin về tội phạm Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố gắn với thẩm quyền điều tra, do đó cơ quan có trách nhiệm kiểm tra, xác minh nguồn tin để quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự bao gồm Cơ quan điều tra và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra. Thời hạn kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 là 20 ngày, kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố. Đối với tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng thì ngày tính thời hạn kiểm tra, xác minh là ngày cơ quan, phương tiện thông tin đại chúng phát nguồn tin đó. Trong trường hợp vụ việc bị tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải tiến hành kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì có thể kéo dài nhưng không quá 02 tháng. Trường hợp chưa thể kết thúc việc kiểm tra, xác minh đối với loại vụ việc phức tạp này thì Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền có thể gia hạn một lần nhưng không quá 02 tháng Điều 147. Như vậy, điểm mới trong quy định này là gia hạn thời hạn giải quyết tin báo tố giác về tội phạm, đã góp phần tháo gỡ những vướng mắc trong thực tiễn tố tụng nước ta thời gian trước đây, đồng thời bảo đảm chặt chẽ, tránh lợi dụng kéo dài thời gian giải quyết dẫn đến bỏ lọt tội phạm. Những biện pháp kiểm tra, xác minh nguồn tin bao gồm Tiến hành kiểm tra giấy tờ tuỳ thân, hộ khẩu, đăng ký tạm trú của người bị tố cáo; yêu cầu cơ quan nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân có liên quan đến sự việc cung cấp những tài liệu, vật cần thiết có giá trị chứng minh sự việc phạm tội như các văn bản, giấy tờ, tài liệu hoặc các biên bản kiểm tra, kết luận thanh tra… Nghĩa vụ của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và công dân có liên quan phải chấp hành các yêu cầu của cơ quan khởi tố; Yêu cầu cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có liên quan giải thích những vấn đề liên quan đến vụ việc. Nội dung yêu cầu giải thích chủ yếu để tìm ra dấu hiệu tội phạm. Khi yêu cầu giải thích, người xác minh không được áp dụng biện pháp hỏi cung hoặc cưỡng chế tố tụng đối với người được yêu cầu giải thích; Nếu bắt người trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang thì tiến hành ngay việc lấy lời khai của người bị bắt; Trong những trường hợp cần thiết thì khám nghiệm hiện trường và tiến hành các biện pháp khác theo quy định của pháp luật để thu thập chứng cứ, xác định dấu hiệu tội phạm. Tóm lại, các tin tức về tội phạm đều phải được kiểm tra, xác minh và tuỳ theo tính chất từng tin báo, từng sự việc, từng đối tượng mà đề ra biện pháp kiểm tra phù hợp. Việc kiểm tra phải tuân theo các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Sau khi kiểm tra, xác minh, kết quả giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước phải được Cơ quan điều tra gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp và thông báo cho cơ quan, tổ chức, người báo tin hoặc tố giác biết. 3. Quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự Quyết định khởi tố vụ án hình sự Quyết định khởi tố vụ án hình sự là văn bản pháp lý xác định có sự việc phạm tội và sự việc đó có dấu hiệu tội phạm làm cơ sở để tiến hành các hoạt động điều tra và áp dụng các biện pháp tố tụng tiếp theo. Các hoạt động điều tra chỉ được coi là hợp pháp nếu được thực hiện sau khi đã có quyết định khởi tố vụ án trừ trường hợp khám nghiệm hiện trường để thu thập các dấu vết của tội phạm, bắt người trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ và khám xét trong các trường hợp này. Vì vậy, khi tiến hành kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm đã xác định có dấu hiệu tội phạm, cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự. Ngày khởi tố vụ án hình sự là thời điểm bắt đầu để tính thời hạn điều tra vụ án. Chính vì vậy, trong quyết định khởi tố vụ án phải ghi rõ ngày, tháng, năm ra quyết định; ghi rõ căn cứ pháp lý để quyết định khởi tố vụ án; ghi rõ tội danh, điều, khoản Bộ luật Hình sự được áp dụng làm cơ sở cho các hoạt động tố tụng tiếp theo. Việc ghi rõ căn cứ khởi tố trong quyết định giúp cho người có thẩm quyền khởi tố phải cân nhắc kỹ, tránh sự lạm dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng. Ví dụ nếu vụ án được khởi tố về tội theo khung có mức hình phạt cao nhất dưới 02 năm tù thì không thể áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam. Để việc tiến hành điều tra vụ án được nhanh chóng, kịp thời, đúng pháp luật, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, Viện kiểm sát đã khởi tố vụ án phải gửi quyết định khởi tố đó đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền để tiến hành điều tra. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải gửi quyết định đó kèm theo tài liệu liên quan đến Viện kiểm sát có thẩm quyền để kiểm sát việc khởi tố. Trong trường hợp Hội đồng xét xử khởi tố vụ án thì quyết định khởi tố được gửi tới Viện kiểm sát cùng cấp để xem xét, kèm theo tài liệu liên quan. Việc xác định tội danh, hành vi phạm tội, điều khoản Bộ luật Hình sự được áp dụng trong quyết định khởi tố vụ án sẽ là cơ sở cho nhiều vấn đề của quá trình tố tụng tiếp theo cả về trình tự, thủ tục, thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử cũng như việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo. Tuy nhiên, khi tiến hành các hoạt động điều tra, Cơ quan điều tra có điều kiện thu thập thêm tài liệu, chứng cứ. Các tài liệu, chứng cứ mới được thu thập giúp cho nhận thức, đánh giá về hành vi phạm tội đầy đủ, chính xác hơn. Vì vậy, những nhận thức ban đầu về tội phạm khi khởi tố vụ án đã không đúng với hành vi phạm tội xảy ra hoặc mới phát hiện thêm tội phạm khác thì quyết định khởi tố cần phải được thay đổi hoặc bổ sung cho phù hợp. Điều 156 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định khi có căn cứ xác định tội phạm đã khởi tố không đúng với hành vi phạm tội xảy ra hoặc còn có tội phạm khác chưa bị khởi tố thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát ra quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự. Việc thay đổi quyết định khởi tố được tiến hành khi có căn cứ xác định tội phạm đó khởi tố không đúng với hành vi phạm tội xảy ra. Còn khi xác định còn có tội phạm khác chưa bị khởi tố thì tiến hành quyết định khởi tố bổ sung vụ án hình sự. Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chỉ Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát mới có thẩm quyền thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự. Các cơ quan Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư tuy có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự nhưng chỉ trong một thời gian ngắn phải chuyển cho Viện kiểm sát trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội quả tang, chứng cứ và lai lịch người phạm tội rõ ràng thì các cơ quan này khởi tố vụ án, tiến hành điều tra và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát có thẩm quyền trong thời hạn 01 tháng hoặc cho Cơ quan điều tra trường hợp tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội phạm ít nghiêm trọng nhưng phức tạp thì khởi tố vụ án, tiến hành những hoạt động điều tra ban đầu và chuyển hổ sơ cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn 07 ngày. Đối với các cơ quan khác của Công an nhân dân và Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, mặc dù được giao thẩm quyển khởi tố vụ án, nhưng chỉ được tiến hành một số hoạt động điều tra ban đầu và cũng phải chuyển hồ sơ vụ án cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn 07 ngày. Thẩm quyền thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố đối với các cơ quan này cũng không được đặt ra. Quyết định khởi tố vụ án của Hội đồng xét xử được giao ngay cho Viện kiểm sát để xem xét việc điều tra, và sau khi xét xử vụ án, Hội đồng xét xử giải tán nên thẩm quyền thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố cũng không đặt ra. Quyết định không khởi tố vụ án hình sự Quyết định không khởi tố vụ án hình sự là văn bản pháp lý của người có thẩm quyền khởi tố xác định nguồn tin về tội phạm hoặc một sự việc nào đó không có căn cứ khởi tố vụ án hình sự. Quyết định không khởi tố vụ án hình sự được thực hiện khi có một trong những căn cứ không khởi tố vụ án hình sự được quy định tại Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Đó là không có sự việc phạm tội; hành vi không cấu thành tội phạm; người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự; người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật; đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; tội phạm đã được đại xá; người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác; tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật Hình sự năm 2015 mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố. Khi có một trong những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự thì cơ quan có thẩm quyền khởi tố trong phạm vi trách nhiệm của mình ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự; nếu đã khởi tố thì phải ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố. Sau khi ra quyết định không khởi tố vụ án hoặc quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố, nếu xét thấy cần thiết, cơ quan đã ra quyết định gửi hồ sơ cho cơ quan, tổ chức hữu quan giải quyết bằng biện pháp hành chính, xử lý kỷ luật, trách nhiệm dân sự… Cơ quan đã ra quyết định phải thông báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác hoặc báo tin về tội phạm biết lý do. Trong thời hạn 24 giờ, cơ quan đã ra quyết định phải gửi quyết định không khởi tố vụ án, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự và các tài liệu liên quan đến Viện kiểm sát cùng cấp để kiểm sát việc ra quyết định. Nếu thấy việc ra quyết định không có căn cứ thì Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án và ra quyết định khởi tố vụ án để tiến hành điều tra.
Khởi tố vụ án hình sự là gì?Căn cứ khởi tố vụ án hình sựGây tai nạn giao thông đường bộ có bị khởi tố và bồi thường thiệt hại? Khởi tố được hiểu là bắt đầu quá trình tố tụng, là bước đầu tiên trong quá trình tố tụng. Quyết định khởi tố là quyết định có giá trị pháp lý được lập bởi những người tiến hành tố tụng có thẩm quyền theo những trình tự thủ tục luật định để chính thức thể hiện ý chí của Nhà nước trong việc giải quyết vụ việc có dấu hiệu tội phạm. Vậy nên, quyết định khởi tố vụ án hình sự là một văn bản pháp lý đánh dấu sự khởi đầu của quá trình tố tụng vụ án hình sự. Chính bởi tính chất quan trọng như vậy mà căn cứ để ra quyết định khởi tố vụ án hình sự phải thật chặt chẽ, xác đáng để tránh lãng phí thời gian và công sức của các bên có liên quan. Khi nào thì quyết định khởi tố vụ án hình sự?Khởi tố vụ án hình sự là gì?Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng hình sự trong đó các cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm kiểm tra, xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc là Quyết định không khởi tố vụ án hình sự để làm cơ sở cho các hoạt động tố tụng tiếp theo của quá trình giải quyết vụ cứ khởi tố vụ án hình sựĐiều 143 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định cụ thể về căn cứ khởi tố vụ án hình sự như sau“Chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những căn cứ1. Tố giác của cá nhân;2. Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân;3. Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng;4. Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước;5. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm;6. Người phạm tội tự thú.”Trong đó, dấu hiệu tội phạm được hiểu là những dấu hiệu của hành vi phạm tội được quy định trong bộ luật hình sự, đó là dấu hiệu của những hành vi có tính chất nguy hiểm đối với xã hội. Những dấu hiệu đó có thể là một hành vi trái pháp luật hoặc một thiệt hại cụ thể nào đó và có thể được chia thành 3 nhómThứ nhất, nhóm các dấu hiệu tội phạm trong tin tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Đây là những căn cứ khởi tố vụ án hình sự dựa trên sự đóng góp, giúp đỡ của các cá nhân, tổ chức cơ quan đoàn thể trong xã hội, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm tiếp nhận và xác minh tính chính xác của dấu hiệu phạm tội được cung cấp trên trước khi ra quyết định có khởi tố vụ án hình sự hay không?Vấn đề này đã được quy định khá chi tiết tại các điều 144 và điều 145 Bộ luật tố tụng hình sự 2015“Điều 144. Tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố1. Tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm Tin báo về tội phạm là thông tin về vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo với cơ quan có thẩm quyền hoặc thông tin về tội phạm trên phương tiện thông tin đại Kiến nghị khởi tố là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiến nghị bằng văn bản và gửi kèm theo chứng cứ, tài liệu liên quan cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét, xử lý vụ việc có dấu hiệu tội Tố giác, tin báo về tội phạm có thể bằng lời hoặc bằng văn Người nào cố ý tố giác, báo tin về tội phạm sai sự thật thì tuỳ tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của nhiệm tiếp nhận và thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm,kiến nghị khởi Mọi tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố phải được tiếp nhận đầy đủ, giải quyết kịp thời. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận không được từ chối tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố gồma Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố;b Cơ quan, tổ chức khác tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm3. Thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tốa Cơ quan điều tra giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố theo thẩm quyền điều tra của mình;b Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm theo thẩm quyền điều tra của mình;c Viện kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong trường hợp phát hiện Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc Cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố có trách nhiệm thông báo kết quả giải quyết cho cá nhân, cơ quan, tổ chức đã tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố.”Thứ hai, nhóm dấu hiệu tội phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện được quy định tại điều 151 Bộ luật tố tụng hình sự 2015“Điều 151. Giải quyết vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiệnCơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm thì quyết định việc khởi tố vụ án theo thẩm quyền hoặc chuyển cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền giải quyết.”Đây thường là nhưng dấu hiệu tội phạm mà cơ quan tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện ra trong khi thực hiện nhiệm vụ. Đó có thể là những thông tin về một hành vi tội phạm phát hiện trong quá trình tìm hiểu các tài liệu, chứng cứ hoặc thông tin về một vụ việc khác hoặc thông qua lời khai của nhân chứng hay bị can, bị cáo trong một vụ án ba, dấu hiệu tội phạm thu được do người phạm tội đầu thú hoặc tự thú. Trong trường hợp này, người phạm tội tự mình đến cơ quan có thẩm quyền trình bày về những hành vi phạm tội của mình. Trên cơ sở những thông tin đó, cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền sẽ xác minh, đối chiếu trước khi xem xét ra quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với người đó và hành vi của họ. Điều 152 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định cụ thể về vấn đề này như sau“Điều 152. Người phạm tội tự thú, đầu thú1. Khi người phạm tội đến tự thú, đầu thú, cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản ghi rõ họ tên, tuổi, nghề nghiệp, chỗ ở và lời khai của người tự thú, đầu thú. Cơ quan, tổ chức tiếp nhận người phạm tội tự thú, đầu thú có trách nhiệm thông báo ngay cho Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm Trường hợp xác định tội phạm do người tự thú, đầu thú thực hiện không thuộc thẩm quyền điều tra của mình thì Cơ quan điều tra tiếp nhận người tự thú, đầu thú phải thông báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền để tiếp nhận, giải Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi tiếp nhận người phạm tội tự thú, đầu thú, Cơ quan điều tra có thẩm quyền phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp.”Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp có các dấu hiệu tội phạm thì cơ quan tiến hành tố tụng đều ra quyết định khởi tố vụ án hình sự bởi khoản 1 điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại quy định“1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.”Theo đó, nhóm các tội phạm chỉ có thể được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại là những tội như cố ý gây thương tích hoặc tổn hại về sức khỏe cho người khác điều 134, cố ý gây thương tích hoặc tổn hại về sức khỏe cho người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh điều 135, tội hiếp dâm điều 141, cưỡng dâm điều 143…Đây là các tội phạm mà việc khởi tố vụ án hình sự sẽ có thể có những ảnh hưởng lớn đến tâm sinh lý, cũng như danh dự, nhân phẩm và những lợi ích của người bị hại nên việc khởi tố chỉ diễn ra khi có yêu cầu của người bị những phân tích trên có thể thấy, khởi tố vụ án hình sự là một hoạt động có ý nghĩa lớn đối với cả quá trình tố tụng hình sự. Về nguyên tắc, quyết định khởi tố vụ án hình sự được ban hành khi có các dấu hiệu của tội phạm, tuy nhiên có những trường hợp vụ án hình sự chỉ được khởi tố khi có yêu cầu khởi tố của người bị trường hợp cần tư vấn thêm, bạn có thể liên hệ với Luật sư của Luật Hoàng Phi qua TỔNG ĐÀI TƯ VẤN LUẬT HÌNH SỰ 1900 6557 để được tư vị có thể tham khảo mục Hỏi đáp Luật Hình sự về những nội dung có liên quan đến bài viết trên như sauCâu hỏi Gây tai nạn giao thông đường bộ có bị khởi tố và bồi thường thiệt hại? Kính thưa Luật sư. Chồng tôi lái xe ô tô, trong lúc vượt xe thì lấn sang phần đường của xe khác và gây tai nạn cho một người đi xe máy. Người đi xe máy bị trật khớp cổ chân và gãy xương đùi. Sau đó, gia đình tôi đã bồi thường 15 triệu đồng và chăm sóc cho nạn nhân khi đi mổ nhưng giờ gia đình họ đưa ra những yêu cầu quá đáng quá đòi gia đình tôi bồi thường nhiều hơn. Tôi xin hỏi trong trường hợp này gia đình tôi bồi thường bao nhiêu là hợp lý và chồng tôi có bị khởi tố hình sự không?Trả lờiCảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho Luật Hoàng Phi. Về câu hỏi này chúng tôi trả lời như sauTheo thông tin bạn cung cấp thì chồng bạn khi lái xe ô tô và có vượt xe đã lấn sang phần đường của xe máy, gây tổn thương sức khỏe của người lái xe máy. – Căn cứ quy định tại Điều 14 Luật giao thông đường bộ 2008 thì khi vượt xe người điều khiển xe xin vượt phải thực hiện theo các quy định sau+ Có báo hiệu bằng đèn hoặc còi; trong đô thị và khu đông dân cư từ 22h đến 5h chỉ được báo hiệu xin vượt bằng đèn.+ Chỉ được vượt khi không có chướng ngại vật phía trước, không có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt, xe chạy trước không có tín hiệu vượt xe khác và đã tránh về bên phải.+ Khi có xe xin vượt, nếu đủ điều kiện an toàn, người điều khiển phương tiện phía trước phải giảm tốc độ, đi sát về bên phải của phần đường xe chạy cho đến khi xe sau đã vượt qua, không được gây trở ngại đối với xe xin vượt.+ Khi vượt, các xe phải vượt về bên trái, trừ các trường hợp sau đây thì được phép vượt bên phải Khi xe phía trước có tín hiệu rẽ trái hoặc đang rẽ trái; Khi xe điện đang chạy giữa đường; Khi xe chuyên dùng đang làm việc trên đường mà không thể vượt bên trái được.– Các trường hợp không được vượt xeTheo quy định, không được vượt xe khi có một trong các trường hợp sau đây+ Không bảo đảm các quy định chỉ được vượt khi không có chướng ngại vật phía trước, không có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt, xe chạy trước không có tín hiệu vượt xe khác và đã tránh về bên phải;+ Trên cầu hẹp có một làn xe;+ Đường vòng, đầu dốc và các vị trí có tầm nhìn hạn chế;+ Nơi đường giao nhau, đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt;+ Khi điều kiện thời tiết hoặc đường không bảo đảm an toàn cho việc vượt;+ Xe được quyền ưu tiên đang phát tín hiệu ưu tiên đi làm nhiệm vậy, nếu như chồng bạn không đảm bảo an toàn khi vượt xe thì chồng bạn đã có hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ và gây thiệt hại đến sức khỏe người khác, theo đó– Căn cứ Điều 260 Bộ Luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ ” 1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ đồng đến đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năma Làm chết người;b Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;c Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;d Gây thiệt hại về tài sản từ đồng đến dưới Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năma Không có giấy phép lái xe theo quy định;b Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác;c Bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;d Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;đ Làm chết 02 người;e Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;g Gây thiệt hại về tài sản từ đồng đến dưới Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năma Làm chết 03 người trở lên;b Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;c Gây thiệt hại về tài sản đồng trở Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả quy định tại một trong các điểm a, b và c khoản 3 Điều này nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ đồng đến đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”Như vậy, qua thông tin bạn trình bày và đối chiếu với quy định trên, hành vi của chồng bạn có những dấu hiệu của tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trên đây nên cơ quan có thẩm quyền có thể tiến hành khởi tố khi có một trong các căn cứ theo Điều 143 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuy nhiên để làm sáng tỏ trách nhiệm hình sự, cơ quan có thẩm quyền sẽ tiến hành giám định xác định hậu quả cụ thể xảy ra đối với sức khỏe người bị về mức bồi thường thiệt hại hợp lý pháp luật dân sự vẫn tôn trọng sự thỏa thuận giữa các bên, trong trường hợp có tranh chấp có thể yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, bạn có thể tham khảo quy định về bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm nếu vẫn muốn thỏa thuận nhưng theo mức hợp lý hơn trong trường hợp của mình. Điều 590 Bộ luật dân sự 2015 quy định về các khoản bồi thường thiệt hại bao gồm– Chi phí hợp lý cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng;– Thu nhập thực tế bị mất của người bị thiệt hại;– Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị, nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động cần có người thường xuyên chăm sóc thì phải bồi thường chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;– Thiệt hại khác do luật quy trường hợp cần tư vấn thêm, khách hàng có thể liên hệ với Luật sư của Luật Hoàng Phi qua TỔNG ĐÀI TƯ VẤN LUẬT MIỄN PHÍ 19006557 để được tư vấn.
Khái niệm khởi tố là gì? Khởi tố vụ án hình sự là gì? Phân biệt giữa khởi tổ vụ án và khởi tố bị can? Quyền hạn và trình tự, thủ tục đăng ký bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp?Hiện nay, khi nền kinh tế đang ngày càng phát triển đã kéo theo nhiều vấn đề tiêu cực phát sinh. Vì vậy, hiện tượng vi phạm pháp luật ngày càng diễn ra phổ biến, đặc biệt là tại các thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng…Tuy nhiên, nhiều người vẫn còn thắc mắc việc vi phạm pháp luật sẽ bị xử lý theo trình từ như thế nào. Và giai đoạn khởi tố chính là giai đoạn đầu tiên trong quá trình giải quyết một vụ án nào đó. Căn cứ pháp lý Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Thông tư 46/2019/TT-BCA quy định trách nhiệm của lực lượng công an nhân dân trong việc thực hiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 Tư vấn luật trực tuyến miễn phí qua tổng đài điện thoại Mục lục bài viết 1 1. Khởi tố là gì? 2 2. Khởi tố vụ án hình sự là gì? 3 3. Phân biệt giữa khởi tổ vụ án và khởi tố bị can 4 4. Quyền hạn và trình tự, thủ tục đăng ký bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp Khởi tố là giai đoạn đầu tiên trong tố tụng hình sự, theo đó cơ quan tư pháp hình sự sẽ tiến hành xác định có hay không các dấu hiệu của tội phạm trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Đồng thời cơ quan có thẩm quyền cũng ban hành quyết định về việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự có liên quan tới hành vi này. Khởi tố hay khởi tố hình sự là giai đoạn tố tụng độc lập, mở đầu các hoạt động điều tra nên nó có chức năng chính là thực hiện nhiệm vụ cụ thể để xác định các tiền đề pháp luật về nội dung và pháp luật về hình thức đối với việc điều tra vụ án hình sự. Khởi tố bắt đầu từ thời điểm nhận được những thông tin đầu tiên về việc thực hiện hành vi phạm tội và kết thúc bằng quyết định của cơ quan có thẩm quyền về việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự có liên quan tới hành vi đó. Khởi tố vụ án hình sự cũng được xem là một giai đoạn tố tụng hình sự cơ bản và quan trọng để tăng cường pháp chế, bảo vệ các quyền và tự do của công dân trước khi khởi tố bị can và áp dụng các biện pháp nghiệp vụ trong giai đoạn tiếp theo là giai đoạn điều tra. Khởi tố hình sự cùng với các giai đoạn tiếp theo trong tố tụng hình sự sẽ góp phần hiệu quả trong việc đấu tranh phòng, chống tội phạm trong xã hội. 2. Khởi tố vụ án hình sự là gì? Quá trình giải quyết vụ án hình sự theo quy định của BLTTHS gồm 05 giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, và thi hành bản án, quyết định của Tòa án. Lênin nói rằng “Tác dụng ngăn ngừa của hình phạt… hoàn toàn không phải ở chỗ hình phạt đó phải nặng mà ở chỗ đã phạm tội thì không thoát khỏi bị trừng phạt. Điều quan trọng không phải ở chỗ đã phạm tội thì trừng phạt nặng mà là ở chỗ không tội phạm nào không bị phát hiện”. Qua đó có thể thấy được tầm quan trọng của việc phát hiện tội phạm, người phạm tội, hay nói cách khác tầm quan trọng của giai đoạn khởi tố trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự thì khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn mở đầu quá trình tố tụng. Giai đoạn này được bắt đầu kể từ khi cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận nguồn tin về tội phạm tố giác của công dân; tin báo của cơ quan tổ chức; tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng, kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước; cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu phạm tội; người phạm tội tự thú và kết thúc khi cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự mà quyết định này không bị hủy bỏ theo quy định của pháp luật. Quyết định khởi tố vụ án hình sự là văn bản pháp lý kết thúc giai đoạn khởi tố vụ án, bắt đầu giai đoạn điều tra vụ án hình sự, nói cách khác quyết định khởi tố vụ án hình sự là cơ sở pháp lý để tiến hành điều tra. Trong khi quyết định không khởi tố vụ án hình sự là căn cứ chấm dứt mọi hoạt động tố tụng, đình chỉ giải quyết vụ việc. Về khái niệm khởi tố vụ án hình sự là gì, đã có rất nhiều sách, giáo trình đưa ra một số định nghĩa như sau Theo định nghĩa trong Từ điển luật học “Khởi tố vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng độc lập, mở đầu các hoạt động điều tra. Trong giai đoạn này, cơ quan có thẩm quyền khởi tố tiến hành các hoạt động để xác định dấu hiệu của tội phạm” GS. TS. Lê Cảm trong cuốn sách “Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự phần chung” thì định nghĩa khởi tố vụ án hình sự như sau “khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng hình sự, được thực hiện kể từ khi cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận và kiểm tra, xác minh những tố giác, tin báo về tội phạm của cơ quan, tổ chức, công dân hoặc tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong trường hợp người phạm tội đầu thú, các cơ quan có thẩm quyền trực tiếp phát hiện tội phạm để ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự”. Tại Giáo trình Luật tố tụng hình sự, Đại học Luật Hà Nội, có đưa ra định nghĩa “khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn mở đầu của tố tụng hình sự, trong đó, cơ quan có thẩm quyền xác định sự việc xảy ra có hay không có dấu hiệu tội phạm để quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự” Giáo trình Luật tố tụng hình sự, Đại học Luật Cần Thơ cũng đưa ra định nghĩa của khởi tố vụ án hình sự như sau “Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng hình sự, trong đó cơ quan có thẩm quyền thu thập, xử lý các thông tin ban đầu và ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự”. Ở cấp độ luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ, đã có một số tác giả đưa ra khái niệm khởi tố vụ án hình sự như sau Tác giả Somexai Keomane tại luận văn thạc sĩ Kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Lào và Việt Nam dưới góc độ so sánh” của mình đưa ra khái niệm “Khởi tố vụ án hình sự là việc các cơ quan có thẩm quyền xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự, làm cơ sở cho các hoạt động tố tụng tiếp theo của quá trình giải quyết vụ án hình sự” Tác giả Trần Thị Ngọc Lê tại luận văn thạc sĩ “Kiểm sát việc Khởi tố vụ án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam” đưa ra khái niệm “Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên trong tố tụng hình sự. Trong đó, cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, áp dụng một số hoạt động điều tra, xác minh ban đầu và ra quyết định khởi tố hay quyết định không khởi tố vụ án hình sự” Trong bài viết “Yêu cầu khởi tố vụ án hình sự” của tác giả Mai Thanh Hiếu trên tạp chí Nghề Luật số 01/2010 thì định nghĩa khởi tố vụ án hình sự như sau “Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng hình sự, được thực hiện kể từ khi cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận và kiểm tra, xác minh những tố giác, tin báo về tội phạm của cơ quan, tổ chức, công dân hoặc tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong trường hợp người phạm tội đầu thú, các cơ quan có thẩm quyền trực tiếp phát hiện tội phạm để ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự”. Tuy có sự khác nhau nhưng những khái niệm trên đều có chung quan điểm rằng khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên của hoạt động tố tụng hình sự; trong đó, các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng điều tra, xác minh xem có hay không có dấu hiệu của tội phạm; cơ quan có thẩm quyền trên cơ sở điều tra xác minh của mình mà ban hành quyết định khởi tố vụ án hình sự nếu thấy có dấu hiệu của tội phạm, hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự nếu không có dấu hiệu của tội phạm, hoặc có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi đó không đáng kể. Quyết định khởi tố vụ án hình sự, hay quyết định không khởi tố vụ án hình sự là một văn bản pháp lý quan trọng để làm cơ sở cho các cơ quan tiến hành tố tụng tiến hành các hoạt động tố tụng tiếp theo nếu có. Kế thừa, học hỏi từ những khái niệm, phân tích nói trên, tác giả đưa ra khái niệm khởi tố vụ án hình sự như sau “khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên trong các giai đoạn tố tụng hình sự mà trong đó các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền tiến hành điều tra, xác minh có hay không có tội phạm và tội phạm đó có đủ điều kiện khởi tố vụ án hình sự theo quy định của pháp luật hay không để ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự, làm cơ sở cho các giai đoạn tố tụng tiếp theo”. 3. Phân biệt giữa khởi tổ vụ án và khởi tố bị can Khởi tố vụ án và khởi tố bị can là hai hoạt động trong tố tụng hình sự. Khởi tố vụ án và khởi tố bị can có điểm giống nhau đều là quyết định bắt đầu điều tra công khai theo trình tự thủ tục TTHS, nhưng khác nhau về thời điểm, yêu cầu và căn cứ khởi tố Khởi tố vụ án Khởi tố bị can Đối tượng của quyết định khởi tố Khởi tố về HÀNH VI có dấu hiệu phạm tội. Khởi tố NGƯỜI hoặc PHÁP NHÂN có dấu hiệu phạm tội. Căn cứ khởi tố Chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những căn cứ Tố giác của cá nhân; Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân; Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng; Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước; Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm; Người phạm tội tự thú. Sau khi đã có quyết định khởi tố vụ án, cơ quan điều tra sẽ tiến hành điều tra vụ án. Từ đó, nếu có đủ căn cứ để xác định một người hoặc pháp nhân đã thực hiện hành vi mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm thì Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị bị can. Quyết định khởi tố bị can phải được sự phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp với cơ quan điều tra. Thẩm quyền ra quyết định khởi tố Có 04 cơ quan – Cơ quan điều tra; – Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; – Viện kiểm sát; – Hội đồng xét xử. Có 03 cơ quan – Cơ quan điều tra; – Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; – Viện kiểm sát. Các giai đoạn ra quyết định khởi tố Có 04 giai đoạn có thể khởi tố – Giai đoạn khởi tố; – Giai đoạn điều tra; – Giai đoạn truy tố; – Giai đoạn xét xử. Có 02 giai đoạn có thể khởi tố – Giai đoạn điều tra; – Giai đoạn truy tố. Kết thúc khởi tố Thời điểm kết thúc của giai đoạn khởi tố vụ án được tính từ khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp xác định có dấu hiệu tội phạm, hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự khi xác định không có dấu hiệu tội phạm. Khởi tố bị can không phải là giai đoạn tố tụng mà chỉ là hành vi tố tụng tại giai đoạn điều tra của người có thẩm quyền ra quyết định khởi tố bị can khi đã xác định được một người cụ thể có hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong pháp luật hình sự, cần phải tiến hành các hoạt động điều tra đối với họ theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Mối quan hệ Quyết định khởi tố vụ án hình sự phải có trước quyết định khởi tố bị can. vì sau khi khởi tố vụ án bước vào giai đoạn điều tra thì cơ quan có thẩm quyền mới điều tra căn cứ xác định 04 yếu tố cấu thành tội phạm để có căn cứ khởi tố bị can. Tuy nhiên, trong thực tế giải quyết vụ án hình sự, cơ quan có thẩm quyền có thể ban hành hai quyết định này cùng một thời điểm ngay khi xác định tại sự việc, sự kiện phạm tội có dấu hiệu tội phạm thì cũng đồng thời xác định được ngay người thực hiện hành vi phạm tội. như trường hợp bắt tội phạm quả tang 4. Quyền hạn và trình tự, thủ tục đăng ký bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp Thứ nhất, Luật sư xuất trình Thẻ luật sư kèm theo bản sao có chứng thực và giấy nhờ Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố; Thứ hai, bào chữa viên nhân dân xuất trình Chứng minh nhân dân hoặc thẻ Căn cước công dân kèm theo bản sao có chứng thực và văn bản cử bào chữa viên nhân dân của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận; Thứ ba, người đại diện của bị hại, đương sự, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố xuất trình Chứng minh nhân dân hoặc thẻ Căn cước công dân kèm theo bản sao có chứng thực và giấy tờ có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về mối quan hệ của họ với bị hại, đương sự, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố. Sau khi Cơ quan điều tra hoặc trực ban hình sự của từng đơn bị điều tra, trực ban các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ đăng ký bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Bên cạnh đó phải có trách nhiệm ghi rõ giờ, ngày, tháng, năm nhận, thực hiện việc đóng dấu văn bản đến và giao ngay cho Điều tra viên được phân công vụ giải quyết vụ án, vụ việc. Trường hợp hồ sơ đảm bảo theo quy định thì trong thời hạn không quá 24 giờ kể từ khi tiếp nhận, Điều tra viên, Cán bộ điều tra có trách nhiệm trình Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Cấp trưởng, Cấp phó cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ký Thông báo về việc đăng ký bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp và vào sổ đăng ký bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Trường hợp hồ sơ đăng ký bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chưa bảo đảm theo quy định thì Điều tra viên, Cán bộ điều tra thông báo cho người đăng ký bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp biết để bổ sung hồ sơ. Trường hợp có căn cứ từ chối việc đăng ký bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, cơ quan đang thụ lý vụ án, vụ việc có trách nhiệm thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do từ chối cho người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố. Ngoài ra, trách nhiệm trong việc thực hiện một số hoạt động của người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cũng được quy định cụ thể tại Thông tư này. Cơ quan đang thụ lý vụ án, vụ việc phải báo trước về thời gian, địa điểm tiến hành tố tụng mà người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố có quyền tham gia tối thiểu 24 giờ đối với trường hợp người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cư trú cùng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương với cơ quan đang thụ lý vụ án, vụ việc, 48 giờ đối với trường hợp người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cư trú khác tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương với cơ quan đang thụ lý vụ án, vụ việc trước ngày tiến hành hoạt động tố tụng. Trường hợp người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp nhất trí với Điều tra viên, Cán bộ điều tra thời hạn sớm hơn thì việc thực hiện các hoạt động tố tụng được thực hiện theo thỏa thuận đó. Khi lấy lời khai người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, Điều tra viên, Cán bộ điều tra và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, kiến nghị khởi tố phải thực hiện theo quy định của điểm c khoản 3 Điều 83 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trường hợp Điều tra viên, Cán bộ điều tra đồng ý cho người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, kiến nghị khởi tố được hỏi thì phải ghi câu hỏi của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, câu trả lời của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố vào biên bản lấy lời khai. Khi kết thúc việc lấy lời khai, Điều tra viên, Cán bộ điều tra phải đọc lại hoặc đưa cho người bào chữa đọc lại biên bản lấy lời khai, sau khi xác nhận đúng nội dung câu hỏi của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, câu trả lời của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố thì Điều tra viên, Cán bộ điều tra yêu cầu người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố ký vào biên bản. Trường hợp biên bản ghi chưa đầy đủ, chưa chính xác nội dung câu hỏi và câu trả lời, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố có quyền đề nghị sửa đổi, bổ sung hoặc ghi ý kiến của mình trước khi ký vào biên bản. Lưu ý Khi người bào chữa đề nghị, Điều tra viên phải xác nhận thời gian làm việc thực tế của người bào chữa tham gia tố tụng trong quá trình điều tra vụ án hình sự.
Bạn đang xem bài viết ✅ Mẫu đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự ✅ tại website có thể kéo xuống dưới để đọc từng phần hoặc nhấn nhanh vào phần mục lục để truy cập thông tin bạn cần nhanh chóng nhất nhé. Mẫu đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMĐộc lập-Tự do-Hạnh phúc—————————— …………….., ngày …… tháng …… năm …. Kính gửi – Trưởng Công an quận …………………………………………..…………….– Viện Trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân quận …………………………………. Tôi tên là ……, thường trú tại …… và hiện đang ở tại …………………………………….… Kính thưa Quý ông, tôi xin trình bày sự việc xảy ra vào hồi …… ngày …… mà tôi là người bị hại …… trong vụ việc này Trình bày diễn biến sự việc xảy ra …………………………………………………………………………….……………………… …………………………………………………………………………….…………………………………………………………………………………………………….…………………………………………………………………………………………………….…………………………………………………………………………………………………….……………………… Căn cứ Điều 104 Bộ luật Hình sự, Điều 105 Bộ luật Tố tụng hình sự, tôi khẩn thiết làm đơn này kính mong Quý ông 1. Khởi tố vụ án hình sự đối với hành vi ……………… ………………; 2. Yêu cầu anh ………………………bồi thường thiệt hại đối với tổn hại về sức khỏe đã gây ra và những chi phí phát sinh cho tôi như cấp cứu, phẫu thuật điều trị. 3. Xử lý trách nhiệm hình sự một cách nghiêm minh theo quy định của pháp luật đối với anh …………………………… Tôi xin gửi kèm theo toàn bộ hồ sơ bệnh án và các kết luận giám định về tình trạng sức khỏe hiện tại của tôi. Tôi xin chân thành cảm ơn! Nơi nhận– CA quận ……;– VKSND quận ……. NGƯỜI LÀM ĐƠN Cảm ơn bạn đã theo dõi bài viết Mẫu đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự của nếu thấy bài viết này hữu ích đừng quên để lại bình luận và đánh giá giới thiệu website với mọi người nhé. Chân thành cảm ơn.
Mỗi một vụ án hình sự lại có tính chất và mức độ nguy hiểm khác nhau chính vì vậy việc giải quyết một vụ án hình sự là rất khó khăn và phức tạp. Một vụ án hình sự đều sẽ được giải quyết theo một trình tự nhất định theo quy định của pháp trình giải quyết vụ án hình sự bao gồm các giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự; truy tố; xét xử; thi hành Khởi tố vụ án hình sựKhởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu của tố tụng hình sự, trong đó các cơ quan có thẩm quyền xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để ra quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự. Giai đoạn này được bắt đầu từ khi các cơ quan có thẩm quyền nhận được tin báo hoặc tố giác về tội phạm và kết thúc khi ra quyết định khởi tố vụ án hình Điều tra vụ án hình sựTrong giai đoạn này các cơ quan điều tra áp dụng mọi biện pháp do luật tố tụng hình sự quy định để xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội làm cơ sở cho việc xét xử của Tòa án. Nhiệm vụ của giai đoạn điều tra là xác định tội phạm và người thực hiện tội phạm; xác định thiệt hại do tội phạm gây ra; xác định nguyên nhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng biện pháp khắc phục và ngăn ngừa. Thẩm quyền điều tra vụ án hình sự thuộc các cơ quan điều tra. Các cơ quan hải quan, kiểm lâm, đơn vị bộ đội biên phòng được thực hiện một số các hoạt động điều kết thúc điều tra cơ quan điều tra làm bản kết luận điều tra và đề nghị truy tố nếu có đủ chứng cứ, hoặc đình chỉ điều tra nếu có một trong các căn cứ quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự hay đã hết thời hạn điều tra mà không chứng minh được bị can là người thực hiện tội Truy tố vụ án hình sựViệc truy tố vụ án hình sự do Viện kiểm sát thực hiện. Khoản 1 Điều 240 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định "Trong thời hạn 20 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ ngày nhận hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra, Viện kiểm sát phải ra một trong các quyết địnha Truy tố bị can trước Tòa án;b Trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung;c Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án; đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án đối với bị hợp cần thiết, Viện trưởng Viện kiểm sát có thể gia hạn thời hạn quyết định việc truy tố nhưng không quá 10 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, không quá 15 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng, không quá 30 ngày đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng."Viện kiểm sát truy tố bị can bằng bản cáo trạng. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra bản cáo trạng, Viện kiểm sát phải chuyển hồ sơ vụ án và bản cáo trạng đến Tòa án. Trường hợp vụ án phức tạp thì thời hạn chuyển hồ sơ vụ án và bản cáo trạng đến Tòa án có thể kéo dài nhưng không quá 10 hợp vụ án có bị can bị tạm giam thì trước khi hết thời hạn tạm giam 07 ngày thì Viện kiểm sát thông báo cho Tòa án biết để xem xét, quyết định việc tạm giam bị can khi nhận hồ sơ vụ Xét xử sơ thẩm vụ án hình sựGiai đoạn xét xử sơ thẩm được bắt đầu từ khi Tòa án nhận được hồ sơ vụ án do Viện kiểm sát chuyển sang. Trình tự xét xử tại phiên tòa bao gồmKhai mạc, xét hỏi, tranh luận trước tòa, nghị án và tuyên án. Quá trình xét xử được thực hiện theo nguyên tắc xét xử trực tiếp bằng lời nói và liên tục, chỉ xét xử những bị cáo, những hành vi theo tội danh mà viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã có quyết định đưa ra xét xử. Khi kết thúc hội đồng xét xử ra bản án hoặc các quyết định5. Xét xử phúc thẩm vụ án hình sựPhúc thẩm là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại những bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo kháng kháng cáo thuộc về bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án … Quyền kháng nghị thuộc về Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp và cấp trên của Tòa án sơ thẩm. Khi xét xử Hội đồng xét xử chỉ xử lại những phần bị kháng cáo, kháng nghị trong bản án của tòa sơ thẩm, nhưng trên cơ sở xem xét toàn bộ vụ án. Tòa phúc thẩm có thể ra một trong các quyết định sau bác kháng cáo, kháng nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm, sửa án sơ thẩm; hủy án sơ thẩm để điều tra hoặc xét xử lại; hủy án sơ thẩm và đình chỉ vụ Thi hành bản án và quyết định của Tòa ánLà giai đoạn hoạt động tố tụng của các cơ quan công an, kiểm sát, tòa án, các cơ quan nhà nước khác và tổ chức xã hội được nhà nước trao quyền nhẳm bảo đảm cho bản án và quyết định có hiệu lực của Tòa án được thi hành một cách chính xác, kịp có những bản án và quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mới được đưa ra thi hành, trừ trường hợp bản án tuyên một người là không phạm tội hoặc tuyên một hình phạt bằng hoặc thấp hơn thời hạn họ bị tạm giam. Việc thi hành các loại hình phạt phải tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Trong quá trình cải tạo, để động viên giáo dục người phạm tội luật tố tụng hình sự quy định việc giảm thời hạn và miễn chấp hành hình phạt đối với Xét lại các bản án và quyết định có hiệu lực pháp luật của tòa án theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩmĐể bảo đảm tính khách quan trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, trong trường hợp các bản án và quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện ra sai lầm về pháp luật thì được xử lại theo trình tự giám đốc thẩm, phát hiện ra các tình tiết mới làm thay đổi tính chất của vụ án thì được xét xử lại theo trình tự tái vi hành nghề của luật sư trong lĩnh vực hình sựi Dịch vụ tranh tụng Luật sư bào chữa, bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho người tố giác tố cáo và người bị tố giác tố cáo; người bị tạm giữ, bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã; bị can, bị cáo trong toàn bộ quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử tại cơ quan tiến hành tố tụng các cấp;Luật sư tham gia tố tụng với tư cách người bảo vệ quyền lợi hợp pháp hoặc người đại diện cho người bị hại, nguyên đơn, bị đơn dân sự, người có quyền, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự;ii Tư vấn pháp luật Hướng dẫn, đưa ra ý kiến, giúp khách hàng soạn thảo các giấy tờ liên quan đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của khách hàng trong lĩnh vực hình tôi cung cấp dịch vụ tư vấn pháp luật trong lĩnh vực pháp lý có liên quan đến lĩnh vực hình sự hành chính, dân sự, hôn nhân, gia đình, đầu tư, doanh nghiệp, lao động, tài chính, kế toán… và nhiều lĩnh vực khác.iii Đại diện theo ủy quyền Trong lĩnh vực hình sự, luật sư có thể đại diện cho khách hàng ngoài tố tụng để giải quyết các công việc có liên quan đến việc đã nhận theo phạm vi, nội dung được ghi trong hợp đồng dịch vụ pháp lý.iv Dịch vụ pháp lý khác Liên quan tới lĩnh vực hình sự, luật sư giúp đỡ khách hàng thực hiện công việc về thủ tục hành chính, tư pháp; giúp đỡ về pháp luật trong trường hợp giải quyết khiếu nại, dịch thuật, xác nhận giấy tờ, các giao dịch; giúp đỡ khách hàng thực hiện công việc khác theo quy thêmGiới thiệu về Công ty Luật TNHH EverestDịch vụ pháp lý trong lĩnh vực hình sự của Công ty Luật TNHH EverestHoạt động vì cộng đồng của Công ty Luật TNHH EverestKhuyến nghị của Công ty Luật TNHH EverestBài viết trong lĩnh vực hình sự nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các luật sư, chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, E-mail [email protected].
Quy trình giải quyết vụ hình sự quy định trong Bộ Luật Tố tụng hình sự các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án, thi hành án hình sự. » Quy trình giải quyết vụ án hình sự của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 Mục lục bài viết Sơ đồ quy trình giải quyết vụ án hình sự Quy trình giải quyết vụ án hình sự có 4 giai đoạn cơ bản 1. Giai đoạn 1 Khởi tố vụ án hình sự 2. Giai đoạn 2 Truy tố Bước 1 Khởi tố vụ án hình sự Bước 2 Điều tra vụ án hình sự Bước 3 Truy tố vụ án hình sự Bước 4 Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Bước 5 Xét xử phúc thẩm vụ án hình sự Bước 6 Thi hành bản án và quyết định của Tòa án Bước 7 Xét lại các bản án và quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm. Điều 18. Trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hình sự Khi phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm khởi tố vụ án, áp dụng các biện pháp do Bộ luật này quy định để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội, pháp nhân phạm tội. Không được khởi tố vụ án ngoài những căn cứ và trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định. Quy trình vụ án đặc biệt nghiêm trọng Quy trình vụ án tử hình Quy trình giải quyết vụ án hình sự có 4 giai đoạn cơ bản 1. Giai đoạn 1 Khởi tố vụ án hình sự – Thẩm quyền giải quyết Cơ quan điều tra – Căn cứ khởi tố vụ án hình sự “Điều 143. Căn cứ khởi tố vụ án hình sự Chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những căn cứ 1. Tố giác của cá nhân; 2. Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân; 3. Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng; 4. Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước; 5. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm; 6. Người phạm tội tự thú.” Nếu có các căn cứ trên và nhận thấy có dấu hiệu tội phạm, thì cơ quan điều tra sẽ tiến hành điều tra, Khi xác định có dấu hiệu tội phạm thì Cơ quan điều tra phải ra quyết định đề nghị truy tố. Trường hợp cơ quan điều tra chỉ được khởi tố vụ án hình sự đối với các tội phạm quy định tại Điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 khi có yêu cầu của bị hại như sau “Điều 155. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại 1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết. 2. Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án. 3. Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.“ 2. Giai đoạn 2 Truy tố “Điều 240. Thời hạn quyết định việc truy tố 1. Trong thời hạn 20 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ ngày nhận hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra, Viện kiểm sát phải ra một trong các quyết định a Truy tố bị can trước Tòa án; b Trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung; c Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án; đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án đối với bị can. Trường hợp cần thiết, Viện trưởng Viện kiểm sát có thể gia hạn thời hạn quyết định việc truy tố nhưng không quá 10 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, không quá 15 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng, không quá 30 ngày đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.“… Trong trường hợp cần thiết, Viện trưởng Viện kiểm sát có thể gia hạn, nhưng không quá mười ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng; không quá mười lăm ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng; không quá ba mươi ngày đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày ra một trong những quyết định nêu trên, Viện kiểm sát phải thông báo cho bị can, người bào chữa biết; giao bản cáo trạng, quyết định đình chỉ vụ án hoặc quyết định tạm đình chỉ vụ án cho bị can. Người bào chữa được đọc bản cáo trạng, ghi chép, sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa theo quy định của pháp luật và đề xuất yêu cầu. 3. Giai đoạn 3 Xét xử Thẩm quyền giải quyết Tòa án nhân dân theo quy định tại các Điều 268, Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự. Việc xét xử vụ án hình sự sẽ được tiến hành một cách công khai qua 2 cấp xét xử sơ thẩm và phúc thẩm Tuyên án bằng Bản án. 4. Giai đoạn 4 Thi hành án hình sự Thẩm quyền giải quyết Cơ quan thi hành án Điều 255 Những bản án và quyết định được thi hành Những bản án và quyết định được thi hành là những bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật, bao gồm a Những bản án và quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm; b Những bản án và quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm; c Những quyết định của Tòa án giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Trong trường hợp bị cáo đang bị tạm giam mà Tòa án cấp sơ thẩm quyết định đình chỉ vụ án, không kết tội, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt cho bị cáo, hình phạt không phải là tù giam hoặc phạt tù nhưng cho hưởng án treo hoặc khi thời hạn phạt tù bằng hoặc ngắn hơn thời hạn đã tạm giam thì bản án hoặc quyết định của Tòa án được thi hành ngay, mặc dù vẫn có thể bị kháng nghị, kháng cáo. » Luật sư bào chữa vụ án hình sự » Tư vấn luật hình sự
trình tự khởi tố vụ án hình sự