Nam châm chữ nhật NdFeB. N35. Màu bạc mạ Niken. Dung sai: ±0.5mm. Hình dạng: hình vuông, hình chữ nhật. Kích thước: vui lòng xem hình ảnh kích thước. Hướng từ hóa: Từ hóa theo chiều dày ( cực NS mạnh ở 2 phía) Nhiệt độ hoạt động: < 80°C. Trọng lượng: 5 - 20g. Màng chống thấm HDPE loại 1 mm. Độ đày 1 mm quy cách 7-8m khổ dài tùy theo kích thước yêu cầu. Có thể hàn 2 mép màng chống thấm HDPE với nhau hoặc giữa màng chống thấm với sàn bê tông. Có khả năng chống thấm, chịu được áp lực lớn, khả năng kháng vật lý, co giãn cao II. VỎ TRÁI ĐẤT. VẬT LIỆU CẤU TẠO VỎ TRÁI ĐẤT - Vỏ Trái Đất rắn chắc, nằm ngoài cùng của Trái Đất, gồm: vỏ lục địa và vỏ đại dương có độ dày dao động từ 5 km (ở đại dương) đến 70 km (ở lục địa). - Cấu tạo nên vỏ Trái Đất: Nối đất cho pin mặt trời. Ngày đăng: 18-04-2020 Lượt xem: 4715. Khi lắp đặt hệ thống điện năng lượng mặt trời điều cực kỳ quan trọng là tất cả các thiết bị đều được nối tiếp địa chuẩn xác.Trong khu vực thường xuyên bị sét đánh việc không nối tiếp địa cho Các hạt bụi lớn sẽ kích thích chảy nước mắt, sổ mũi. Còn các hạt nhỏ hơn sẽ đi vào phổi, gây kích ứng, viêm phế quản. Ấn Độ: Dân Delhi hốt hoảng vì sương mù dày đặc bất thường Đặc biệt, những bệnh nhân bị phổi tắc nghẽn mạn tính, giãn phế quản, viêm phế quản mạn sẽ khiến tình trạng bệnh nặng hơn. Dựa vào hình 7.1 (trang 25 - SGK) và nội dung trong SGK, lập bảng so sánh các lớp cấu tạo của Trái Đất (vị trí, độ dày, kYwt. Ai xui đất thấp trời cao Ai xui đất thấp trời cao Để cho tôi đứng tôi gào hết hơi Hết hơi chẳng thấy trả lời Thấy trong trời đất có tôi đứng gào Cùng thể loại Khen ai khéo đặt cái nghèo Khen ai khéo đặt cái nghèo Kém ăn kém mặc, kém điều khôn ngoan Bây giờ chẳng có bạn vàng Cho nên đổ cả khôn ngoan cho người Nhà giàu nói một hay mười Nhà khó nói chẳng được lời nào khôn Nhà nghèo như giỏ thủng trôn Nhà giàu như bạc bỏ hòm xưa nay Nghèo đâu nghèo mãi thế này Mất chúng mất bạn vì nay tội nghèo Bốn bề công nợ eo xèo Chỉ vì một nỗi tội nghèo mà thôi Tôi làm, tôi chẳng có chơi Nghèo sao nghèo mãi, trời ơi hỡi trời Khổ chi khổ lắm bớ trời Khổ chi khổ lắm bớ trời Chính giữa đòn gánh, hai đầu hai ki Chưa đi chưa biết Cửa Ông Chưa đi chưa biết Cửa Ông Đến đây mới biết đường không lối về Phu sắng-tẩy ai thuê mà đánh Thẻ than sàng ai bán mà mua Nhà quê còn có ngày mùa Đi nhặt, đi mót hột thừa mà ăn Ở đây rét đói quanh năm Đi câu cá rủi, đi săn hổ vồ Khu Bò Đái xương khô rải rác Bến Lò Vôi mấy xác bồng bềnh Lạc loài bể khổ mông mênh Thân vờ xơ xác lênh đênh chét mòn Trót nghe bầu bạn ra đây Lạ thung, lạ thổ, lạ cây, lạ nhà Đồn Cẩm Phả sơn hà bát ngát Huyện Hoành Bồ đá cát mênh mông Ai ơi đứng lại mà trông Kìa khe nước độc, nọ ông hùm già Vui gì mà rủ nhau ra Làm ăn khổ cực nghĩ mà tủi thân. Tìm vào đến mỏ Hòn Gai Tìm vào đến mỏ Hòn Gai Xin làm phu mỏ ở ngay dưới hầm Cuộc đời vất vả âm thầm Mông Dương, Cẩm Phả, Hà Lầm đều qua Ba toong đi lại nghênh ngang Ba toong đi lại nghênh ngang Chậm chân thì gậy nó phang vỡ đầu Công việc khoán nặng, khoán cao Làm mà không được xơi bao mũi giày Mồm quát tháo chân tay đá tát Đánh đập rồi cúp phạt hết lương. Em là con gái tỉnh Nam Em là con gái tỉnh Nam Chạy tàu vượt biển ra làm Cửa Ông Từ khi mới mở Cửa Ông Đi làm thì ít, đi rông thì nhiều Chị em cực nhục trăm điều Trước làm một lượt đã trèo cầu thang Đặt mình chưa ấm chỗ nằm Đã lại còi tầm hú gọi ra đi Dế kêu, suối chảy rầm rì Bắt cô trói cột não nề ngân nga Đoàn người hay quỷ hay ma Tay mai, tay cuốc, sương sa mịt mù Hai bên gió núi ù ù Tưởng oan hồn của dân phu hiện về. Hòn Gai có núi Bài Thơ Hòn Gai có núi Bài Thơ Nhác trông đàn khỉ đu đưa trên cành Đêm nằm nghe vượn cầm canh Khỉ hời, vượn hỡi thấu tình cho chăng? Ngày ngày anh vẫn đi làm Ngày ngày anh vẫn đi làm, Đi qua nhà máy nhặt ngầm bù loong Đem về anh bỏ vào hòm, Bắc cân bắc lạng còn non một vài Cẩm Phả xem thợ nào tài, Thì anh kéo nhẫn, hoa tai cho nàng, Người ta kéo bạc kéo vàng, Anh nay kéo xích sắt cho nàng, nàng ơi! Tháng lương được có ba hào Tháng lương được có ba hào, Thúng than trên đầu nặng lắm con ơn! Hòn Gai, Cẩm Phả, Đông Triều Hòn Gai, Cẩm Phả, Đông Triều Cuộc đời phu mỏ đói nghèo đắng cay Giam chân chốn sở than này Thân con ắt bón gốc cây giữa rừng. Có cùng từ khóa Dù cho đất đổi trời thay Dù cho đất đổi trời thay Trăm năm vẫn giữ lòng ngay với đời Thấy anh hay chữ, hỏi thử đôi lời Thấy anh hay chữ, hỏi thử đôi lời Vậy anh có biết ông trời họ chi? – Em ghé tai xuống đất, kêu đất nó ơi Rồi anh sẽ nói họ ông trời cho em nghe Chữ thiên là trời, trời cao lồng lộng Chữ thiên là trời, trời cao lồng lộng Chữ địa là đất, đất rộng mênh mông Chữ hà là sông, sông dài lai láng Em hỏi anh rày quê quán ở đâu? – Chữ thiên là trời, trời cao lồng lộng. Chữ địa là đất, đất rộng thinh thinh Nói ra sợ bạn buồn tình Đêm nằm lụy nhỏ như bình nước nghiêng Ngó lên trời, trời cao lồng lộng Ngó lên trời, trời cao lồng lộng, Ngó xuống đất, đất rộng mênh mông, Cá lòng tong ẩn bóng ăn rong, Anh đi Lục Tỉnh giáp vòng, Đến đây xui khiến đem lòng thương em. Dị bản Cây trên rừng hoá kiểng, Cá dưới biển hoá long, Con cá lòng tong ẩn bóng ăn rong. Anh đi Lục Tỉnh giáp vòng, Đến đây trời khiến đem lòng thương em. Trên trời có mây hóa kiểng, Dưới biển có cá hoá long. Anh đi Lục Tỉnh giáp vòng, Tới đây trời khiến đem lòng thương em. Trên rừng có cây hoa kiểng, Dưới biển có cá hóa long. Con cá lòng tong ẩn bóng ăn rong, Anh đi Lục Tỉnh giáp vòng, Tới đây trời khiến đem lòng thương em. Cây trên rừng hóa kiểng, cá ngoài biển hóa rồng Cá lòng tong giữa bóng ăn rong Anh đi lục tỉnh giáp vòng Tới đây ông trời khiến đem lòng yêu em. Làm người phải có trí khôn Làm người phải có trí khôn Nghĩ sao cho hết đất vuông trời tròn Lên rừng biết núi biết non Xuống khe biết nước chảy đá mòn, con cá lội giương vi Trời cao cao bấy không xa Trời cao cao bấy không xa Đất kia rộng vậy thế mà dày sâu Bể xa mây nước mù mù Biết mô cửa lạch biết mô sông cùng Trời cao hơn trán Trời cao hơn trán Trăng sáng hơn đèn Kèn kêu hơn quyển Biển rộng hơn sông Anh đừng thương trước uổng công Chờ cho thiệt vợ, thiệt chồng hãy thương Dị bản Trời cao hơn trán, đuốc sáng hơn đèn Kèn kêu hơn quyển, biển rộng hơn sông Anh thương em linh láng tràn đồng Bây giờ em lại kiếm chồng bỏ anh. Ngó lên trời, trời cao lồng lộng Ngó lên trời, trời cao lồng lộng Ngó xuống đất, đất rộng mênh mông Thương em xóm Thủ chưa chồng Anh muốn vô làm rể, biết em bằng lòng hay không? Cớ sao thấy mặt thì thương Cớ sao thấy mặt thì thương Hay chăng trời đất vấn vương cho mình? Em than một tiếng, trời đất xoay vần Em than một tiếng, trời đất xoay vần Chim trên rừng còn rơi lụy, anh là người trần, sao anh lại không thương? Dị bản Em than một tiếng than, trời đất xây vần, Chim trên cành còn khóc tức tưởi, huống chi kẻ phàm trần lại ngó lơ? Bạn vàng Bạn thân, bạn quý. Thường dùng để chỉ người yêu. Trôn Mông, đít, đáy thô tục. Ki Một loại giỏ đan bằng nan tre tương tự như cần xé thường gặp ở Trung và Nam Bộ, dùng để đựng trái cây, nông sản. Cửa Ông Địa danh nay là phường Cửa Ông, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. Tại đây có đền Cửa Ông, được xem là một trong những ngôi đền đẹp nhất Việt Nam, thờ Hưng Nhượng Đại Vương Trần Quốc Tảng cùng nhiều nhân vật lịch sử thời Trần. Đền Cửa Ông Phu sắng-tẩy Phu chuyên việc san gạt than trong hầm chứa của tàu. Công việc san gạt than trong hầm chứa và than sàng thường phải có quen biết, móc nối mới có và phải chia chác nhiều, không dễ tới tay người cu li. Bò Đái, Lò Vôi Hai địa danh có từ thời Pháp khai mỏ, vẫn còn dùng tới ngày nay. Vờ Còn gọi là con vờ vờ, con phù du, một loại côn trùng có cánh chỉ sống trong khoảng vài phút tới vài ngày sau khi đã trưởng thành và chết ngay sau giao phối và đẻ trứng xong. Điều đáng ngạc nhiên là ấu trùng vờ lại thường mất cả năm dài sống trong môi trường nước ngọt để có thể trưởng thành. Khi chết, xác vờ phơi trên các bãi sông hoặc trên mặt nước, bị các loài cá ăn thịt. Từ đó có thành ngữ "Xác như xác vờ, xơ như xơ nhộng" để chỉ sự rách nát, cùng kiệt. Con vờ Cẩm Phả Một địa danh nay là thành phố thuộc tỉnh Quảng Ninh. Tại đây từ xưa đã nổi tiếng với ngành khai thác than đá. Cẩm Phả cũng có nghề khai thác hải sản với hơn 50 km bờ biển, nhưng chủ yếu là đánh bắt gần bờ, sản lượng thấp. Cẩm Phả về đêm Hoành Bồ Địa danh nay là một huyện thuộc tỉnh Quảng Ninh. Hoành Bồ là một huyện miền núi, khá biệt lập với bên ngoài, cuộc sống người dân lam lũ, vất vả. Xã Dân Chủ, huyện Hoành Bồ Hồng Gai Cũng gọi là Hòn Gai, tên cũ là Bang Gai hoặc Áng Gai, nay là một phường thuộc thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Cuối thế kỷ 19 trở về trước, đây là một vùng vắng vẻ, cư dân thưa thớt, vốn chỉ là vũng biển đậu thuyền. Tại đây có mỏ Hòn Gai, một mỏ than đã được đưa vào khai thác từ thời Pháp thuộc. Một góc mỏ than Hòn Gai thời Pháp thuộc Mông Dương Địa danh nay là tên một phường thuộc thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. Đây là nơi có mỏ than Mông Dương, một trong những mỏ thang có trữ lượng lớn và chất lượng tốt nhất từ thời Pháp thuộc. Khai thác than ở mỏ Mông Dương Hà Lầm Địa danh nay là một phường thuộc thành phố Hạ Long. Tại đây có mỏ Hà Lầm, một mỏ than đã được đưa vào khai thác từ thời Pháp thuộc. Ba toong Gậy chống, thường cong một đầu để làm tay cầm. Từ này có gốc từ tiếng Pháp bâton. Các viên chức, trí thức dưới thời Pháp thuộc thường mang theo gậy này. Khoán Giao ước làm xong công việc mới được lấy tiền. Cúp Cắt đọc theo âm tiếng Pháp của couper. Còi tầm Còi báo bắt đầu hoặc kết thúc giờ làm việc các xưởng, mỏ, công trường, nhà máy… Bắt cô trói cột Một loài chim thuộc họ Cu cu, chim trưởng thành nửa thân trên có màu trắng, nửa dưới có nhiều vạch trắng đen. Tiếng chim kêu nghe như "Bắt cô trói cột" nên dân gian lấy làm tên, sinh sống hầu như trên khắp nước ta. Nghe tiếng chim bắt cô trói cột. Bắt cô trói cột Dân phu Người dân lao động phải làm những công việc nặng nhọc trong chế độ cũ phu xe, phu mỏ, phu đồn điền. Núi Bài Thơ Một ngọn núi đá vôi cao trên 200m, nay thuộc địa phận phường Hồng Gai, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Có tên như vậy vì trên núi còn lưu lại bài thơ chữ Hán của vua Lê Thánh Tông 1468 và chúa Trịnh Cương 1729. Núi Bài Thơ Bù loong Cũng gọi là bu lông từ tiếng Pháp boulon, một sản phẩm cơ khí dạng hình thanh trụ tròn, tiện ren, dùng để lắp ráp, ghép nối, liên kết các chi tiết rời rạc thành một hệ thống hoàn chỉnh. Bù loong Hào Một trong các đơn vị tiền tệ hào, xu, chinh, cắc bắt đầu xuất hiện ở nước ta từ thời Pháp thuộc. Mười xu bằng một hào, mười hào bằng một đồng. Tiền giấy năm hào Đông Triều Tên một huyện thuộc tỉnh Quảng Ninh, là vùng đất cổ có từ thời Bắc thuộc, ghi đậm nhiều dấu ấn lịch sử và văn hóa. Đây cũng là nơi phát hiện ra than đá đầu tiên ở Việt Nam, và than đá Đông Triều đã được khai thác từ rất sớm – từ những năm 1820. Lăng mộ vua Trần ở đập Trại Lốc Thiên Trời từ Hán-Việt. Lai láng Tràn đầy khắp nơi như đâu cũng có. Từ này cũng được dùng để chỉ trạng thái tình cảm chứa chan, tràn ngập. Lòng thơ lai láng bồi hồi, Gốc cây lại vạch một bài cổ thi. Truyện Kiều Thinh thinh Thênh thênh phương ngữ Trung và Nam Bộ. Lòng tong Còn gọi là lòng đong, tên gọi chung của một số loại cá nước ngọt hoặc nước lợ, thân nhỏ, thường được người dân đem kho khô hoặc kho nước với tiêu bột ăn cơm nóng. Cá lòng tong chỉ vàng Nam Kỳ lục tỉnh Tên gọi miền Nam Việt Nam thời nhà Nguyễn, trong khoảng thời gian từ năm 1832 tới năm 1862 khi Pháp chiếm 3 tỉnh Miền Đông và năm 1867 khi Pháp chiếm nốt 3 tỉnh Miền Tây, bao gồm sáu lục tỉnh 1. Phiên An, sau đổi thành Gia Định tỉnh lỵ là tỉnh thành Sài Gòn, 2. Biên Hòa tỉnh lỵ là tỉnh thành Biên Hòa, 3. Định Tường tỉnh lỵ là tỉnh thành Mỹ Tho ở miền Đông; 4. Vĩnh Long tỉnh lỵ là tỉnh thành Vĩnh Long, 5. An Giang tỉnh lỵ là tỉnh thành Châu Đốc, 6. Hà Tiên tỉnh lỵ là tỉnh thành Hà Tiên ở miền Tây. Bản đồ Lục tỉnh năm 1808 Kiểng Cảnh phương ngữ Trung và Nam Bộ. Chữ "Cảnh" là tên của Nguyễn Phúc Cảnh con cả của chúa Nguyễn Ánh, người được đưa sang Pháp làm con tin để đổi lấy sự giúp đỡ đánh nhà Tây Sơn, vì vậy được gọi trại ra thành "kiểng" để tránh phạm húy. Mô Đâu, nào phương ngữ Trung Bộ. Cửa lạch Hay cửa biển, nơi sông đổ ra biển. Quản Người Nam Bộ đọc là quyển, một loại nhạc cụ hình ống giống như ống sáo, ống tiêu. Thiệt Thật phương ngữ Trung và Nam Bộ. Chữ này được đọc trại ra như vậy do kị húy bà vương phi Lê Thị Hoa được vua Gia Long đặt tên là Thật. Xóm Thủ Chú thích này đang để ngỏ. Nếu bạn có thông tin về Xóm Thủ, hãy đóng góp cho chúng tôi. Lụy Nước mắt phương ngữ Nam Bộ, nói trại từ lệ. Bạn đã bao giờ nhìn lên bầu trời trong khi quan sát đám mây và tự hỏi chính xác những đám mây trên mặt đất trôi nổi như thế nào? Chiều cao của một đám mây được xác định bởi một số yếu tố, bao gồm loại mây và mức độ ngưng tụ xảy ra tại thời điểm cụ thể đó trong ngày điều này thay đổi tùy thuộc vào điều kiện khí quyển là gì. Khi chúng ta nói về độ cao của đám mây, chúng ta phải cẩn thận vì nó có thể có nghĩa là một trong hai điều. Nó có thể đề cập đến độ cao trên mặt đất, trong trường hợp đó nó được gọi là trần mây hoặc cơ sở đám mây . Hoặc, nó có thể mô tả chiều cao của chính đám mây - khoảng cách giữa chân đế và đỉnh của nó, hoặc "cao" như thế nào. Đặc điểm này được gọi là độ dày của mây hoặc độ sâu của mây . Định nghĩa trần đám mây Trần mây là độ cao trên bề mặt trái đất của tầng mây hoặc của tầng mây thấp nhất nếu có nhiều hơn một loại mây trên bầu trời. Trần vì nó là Các đám mây thấp, bao gồm mây tích và mây, có thể hình thành ở bất kỳ đâu từ gần bề mặt lên đến mét feet. Các đám mây giữa hình thành ở độ cao đến mét đến ft trên mặt đất gần các cực, đến mét đến ft ở vĩ độ trung bình và đến mét đến ft ở vĩ độ vùng nhiệt đới. Các đám mây cao có độ cao cơ bản từ đến mét đến ft ở vùng cực, đến mét đến ft ở vùng ôn đới và đến mét đến ft ở vùng nhiệt đới. Trần mây được đo bằng một công cụ thời tiết được gọi là máy đo độ cao. Máy đo điện áp kế hoạt động bằng cách phát ra một chùm tia sáng laser cường độ cao lên bầu trời. Khi tia laser di chuyển trong không khí, nó gặp các giọt mây và bị phân tán trở lại bộ thu trên mặt đất, sau đó tính toán khoảng cách tức là chiều cao của nền đám mây từ cường độ của tín hiệu trả về. Chiều cao của đám mây, còn được gọi là độ dày của đám mây hoặc độ sâu của đám mây là khoảng cách giữa nền hoặc đáy của đám mây và đỉnh của nó. Nó không được đo trực tiếp mà được tính bằng cách trừ độ cao của đỉnh của nó với độ cao của đế. Độ dày của đám mây không chỉ là một số thứ tùy ý - nó thực sự liên quan đến lượng mưa mà một đám mây có thể tạo ra. Mây càng dày thì lượng mưa rơi từ đó càng nặng. Ví dụ, các đám mây vũ tích, nằm trong số những đám mây sâu nhất, được biết đến với những cơn giông bão và những trận mưa như trút nước trong khi những đám mây rất mỏng như mây ti hoàn toàn không tạo ra bất kỳ lượng mưa nào. Thêm Mây "có mây một phần" như thế nào? Báo cáo METAR Trần mây là điều kiện thời tiết quan trọng đối với an toàn hàng không . Bởi vì nó ảnh hưởng đến khả năng hiển thị, nó xác định liệu phi công có thể sử dụng Quy tắc bay trực quan VFR hay phải tuân theo Quy tắc bay dụng cụ IFR thay thế. Vì lý do này, nó được báo cáo trong METAR MET eorological A viation R eports nhưng chỉ khi điều kiện bầu trời bị phá vỡ, u ám hoặc bị che khuất. Trời cao thăm thẳm, đất dày Trời cao thăm thẳm, đất dày Bao giờ lính mộ sang Tây được về Vợ con thương nhớ ủ ê Biết rằng sang đấy có về được không? Cùng thể loại Hỡi ai đi sớm về trưa Hỡi ai đi sớm về trưa Kìa Bát Tốt Lát đón đưa chào mời Hương thơm khói đậm tuyệt vời Hút cho một điếu cho đời thêm tươi Dù anh văn hoá lớp mười Dù anh văn hoá lớp mười Anh chưa ra trận, em thời không yêu Dù anh sắc sảo, mỹ miều Nếu không ra trận, không yêu làm chồng Dị bản Dù em nhan sắc tuyệt vời Em không đánh Mỹ, anh thời không yêu Dù em duyên dáng, mỹ miều Nếu không đánh Mỹ, đừng kêu muộn chồng Vì thằng giặc mỹ Giôn-xơn Vì thằng giặc mỹ Giôn-xơn Nên ta phải vượt Trường Sơn qua Lào Thủ đô xa tự năm nào Giã từ Tam Đảo, vẫy chào Điện Biên Nay mai chiến thắng trăm miền Thủ đô, Tam Đảo, Điện Biên lại về. Cha chài, mẹ lưới bên sông Cha chài, mẹ lưới bên sông Đứa con thi đậu làm ông trên bờ Dị bản Cha chài, mẹ lưới, con câu Có con hay chữ làm quan trên bờ Đời mạt kiếp sao anh không thấy Đời mạt kiếp sao anh không thấy Phỉnh phờ anh nó nói giàu sang Xui anh vào lính Tây bang Để cho chúng nó ngủ an trên lầu Anh ơi phú quý về đâu Thân mình khổ cực bù đầu tóc xơ Anh mau về lúc bây giờ Ở nhà cha đợi mẹ chờ em trông Ai về Thừa Sủng mà coi Ai về Thừa Sủng mà coi, Tây đen Tây trắng xác phơi đồng Mờm. Quan Nghè ở tận trong hang Quan Nghè ở tận trong hang, Thằng Tây mò đến quan phang bể đầu. Khen cho Cao Thắng tài to Khen cho Cao Thắng tài to Đúc được súng ống in đồ như Tây Tiếng đồn đây đó Cao thầy Khen cho mưu mẹo có tài khôn ngoan. Khen cho Cao Thắng tài to Khen cho Cao Thắng tài to Lấy được súng giặc về cho lò rèn Súng ta chế được vừa xong Đem ra mà bắn nức lòng lắm thay Bắn cho tiệt giống quân Tây Cậy nhiều súng ống phen này hết khoe. Can trường Tri Lễ là đây Can trường Tri Lễ là đây Ông Cao Thắng chế súng đánh cho Tây nhừ đòn Có cùng từ khóa Tài nguyên than mỏ nước Nam Tài nguyên than mỏ nước Nam Thằng Tây làm chủ, mình làm cu li Chỉ vì đói rách phải đi Đi làm phu mỏ, bỏ quê, bỏ nhà Một nghìn chín trăm ba ba Là năm Quý Dậu con gà ác thay Kể dời phu mỏ Hòn Gai Công ty than của chủ Tây sang làm Chiêu phu mộ Khách, An Nam Cuốc tầng khai mỏ tìm than ra vầy Than ra ở các mỏ này Hà Lầm, Hà Sú, mỏ rày Ngã Hai Bán than cho các nước ngoài Tàu bè ngoại quốc vãng lai mua dùng Chủ nhì, chủ nhất, đốc công Mỗi sở một sếp cai trong sở làm Làm ra máy trục, máy sàng Sở Tàu, Than Luyện, Sở Than chung là Va-gông, than chở về ga La-ga đặt ở Cốt Na cổng đồn Để cho xe hỏa dắt dồn Thật là tiện lợi gọn gàng vân vi Ăng Lê, Nhật Bản, Hoa Kỳ Hồng Kông, Thượng Hải đều thì sang mua Cửa Ông là Cẩm Phả po Cẩm Phả min, Cọc Sáu, cùng là Mông Dương Ngoại giao các nước thông thương Hòn Gai giàu vốn lại cường thịnh ra Tây Bay coi sổ la voa Bắc ngay đường sắt cho xe thông hành Một đường đi thẳng Hà Lầm Một đường Núi Béo, Cọc Năm đi về … Tìm vào đến mỏ Hòn Gai Tìm vào đến mỏ Hòn Gai Xin làm phu mỏ ở ngay dưới hầm Cuộc đời vất vả âm thầm Mông Dương, Cẩm Phả, Hà Lầm đều qua Ông Tây con chó làm thinh Ông Tây con chó làm thinh Ai chê chẳng sợ ai khinh chẳng nhờn Thằng Tây mặt trắng như vôi Thằng Tây mặt trắng như vôi Trắng răng mũi lõ đuổi tôi thế này. Ai sinh ra Hà Sú này Ai sinh ra Hà Sú này Có anh cai Bút ngày ngày vênh vang Quần lơ lại vận áo vàng Chân thì tập tễnh nhưng quàng giày Tây. Em là con gái tỉnh Nam Em là con gái tỉnh Nam Chạy tàu vượt biển ra làm Cửa Ông Từ khi mới mở Cửa Ông Đi làm thì ít, đi rông thì nhiều Chị em cực nhục trăm điều Trước làm một lượt đã trèo cầu thang Đặt mình chưa ấm chỗ nằm Đã lại còi tầm hú gọi ra đi Dế kêu, suối chảy rầm rì Bắt cô trói cột não nề ngân nga Đoàn người hay quỷ hay ma Tay mai, tay cuốc, sương sa mịt mù Hai bên gió núi ù ù Tưởng oan hồn của dân phu hiện về. Mẹ ru con ngủ cho ngoan Mẹ ru con ngủ cho ngoan, Mẹ còn xúc nốt xe than cho đầy, Mẹ ru con ngủ cho say, Làm xong chuyến nữa nghỉ tay mẹ về Tháng lương được có ba hào Tháng lương được có ba hào, Thúng than trên đầu nặng lắm con ơn! Hòn Gai, Cẩm Phả, Đông Triều Hòn Gai, Cẩm Phả, Đông Triều Cuộc đời phu mỏ đói nghèo đắng cay Giam chân chốn sở than này Thân con ắt bón gốc cây giữa rừng. Tàu vào dân chúng mừng thầm Tàu vào dân chúng mừng thầm Than ăn vạn tấn, mà tiền vẫn không Nay Phòng, mai lại đi Kông Trở về chỉ thấy cặp không với người. Lính mộ Lính được chiêu mộ. Từ này thường dùng để chỉ những người bị thực dân Pháp gọi mộ đi lính trước đây. Lính khố đỏ. Bastos Luxe Giới bình dân gọi là "Bát Tốt Lát" hay "Bát Tốt Lút," một nhãn thuốc lá đầu lọc của hãng Juan Bastos phổ biến vào những năm 1960 ở Sài Gòn. Hệ giáo dục phổ thông miền Bắc từ năm 1956 đến năm 1985 chia làm ba cấp cấp I bốn năm, cấp II và cấp III mỗi cấp ba năm, tổng cộng là mười năm. Giôn-xơn Lyndon Baines Johnson, tổng thống thứ 36 của Mỹ, nắm giữ hai nhiệm kì từ năm 1963 đến năm 1969. Ông này chủ trương đẩy mạnh sự can thiệp của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, mà tiêu biểu là việc triển khai quân đội Mỹ trực tiếp tham chiến sau sự kiện vịnh Bắc Bộ năm 1964. Tổng thống Mỹ Johnson Trường Sơn, Lào, Thủ Đô, Tam Đảo, Điện Biên đều là tên của các nhãn hoặc loại thuốc lá phổ biến ở miền Bắc vào những năm 1960-1970. Thuốc lá Điện Biên Theo sách Cố đô Huế của Thái Văn Kiểm Theo cụ Tùng Lâm, câu này do đám dân chài làng Quảng Tế, huyện Hương Trà đặt ra để nhắc lại sự tích ông Huỳnh Hữu Thường, con một ngư phủ, mà biết chăm lo việc học hành, thi đỗ Cử nhân, rồi đỗ Hoàng giáp, làm quan đến Thượng thư. Vua Tự Đức rất mến ông, nhận thấy làng ông không có đất đai chi cả, bèn hạ chỉ cắt 20 mẫu đất làng Nguyệt Biều giao cho làng Quảng Tế để có đất cho dân cư ngụ, trồng trỉa và xây cất đền chùa. Thừa Sủng – Đồng Mờm Địa danh nay là nơi tiếp giáp giữa hai huyện Yên Thành và Diễn Châu, nơi xảy ra trận đánh giữa nghĩa quân Nguyễn Xuân Ôn và quân Pháp vào năm 1886. Trận này nghĩa quân thắng lớn, tiêu diệt hàng trăm tên địch. Nguyễn Xuân Ôn 1825 – 1889 Cũng gọi là Nghè Ôn, một vị quan nhà Nguyễn và thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở Nghệ Tĩnh cuối thế kỷ 19 trong phong trào Cần Vương. Cao Thắng 1864 – 1893 Quê xã Sơn Lễ, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, là trợ thủ đắc lực của Phan Đình Phùng và là một chỉ huy xuất sắc trong cuộc khởi nghĩa Hương Khê 1885-1896 thuộc phong trào Cần Vương. Ông có công chế tạo súng cho nghĩa quân, gây ra tổn thất lớn cho thực dân Pháp. Tháng 11/1893, Cao Thắng hi sinh trong trận tấn công đồn Nu Thanh Chương khi mới 29 tuổi. Can trường Gan dạ, coi thường hiểm nguy. Tri Lễ Địa danh nay là một xã thuộc huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An. Cu li Từ tiếng Pháp coolie, chỉ người lao động làm những công việc nặng nhọc. Hồng Gai Cũng gọi là Hòn Gai, tên cũ là Bang Gai hoặc Áng Gai, nay là một phường thuộc thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Cuối thế kỷ 19 trở về trước, đây là một vùng vắng vẻ, cư dân thưa thớt, vốn chỉ là vũng biển đậu thuyền. Tại đây có mỏ Hòn Gai, một mỏ than đã được đưa vào khai thác từ thời Pháp thuộc. Một góc mỏ than Hòn Gai thời Pháp thuộc Công ti than Bắc Kì Tên tiếng Pháp là Société française des charbonnages du Tonkin viết tắt là SFCT, một công ti Pháp được thành lập 1988 với mục đích quản lí và vơ vét tài nguyên than đá ở Hạ Long với thị trường xuất khẩu chính là Nhật Bản. Công ti này tuyển dụng người Hoa "khách" và người Việt làm phu mỏ với mức lương rẻ mạt. Đây là cái nôi ra đời của giai cấp công nhân Việt Nam nói chung và công nhân khu mỏ Quảng Ninh nói riêng. Mỏ than Hà Tu thuộc công ti than Bắc Kì Chú khách Một cách gọi người Hoa sống ở Việt Nam. Từ này bắt nguồn từ chữ "khách trú," cũng gọi trại thành cắc chú. An Nam Tên gọi của nước ta trong một số giai đoạn lịch sử. Tiêu biểu nhất có lẽ là dưới thời kì đô hộ của thực dân Pháp, khi nước ta bị chia thành ba kỳ. Hà Lầm Địa danh nay là một phường thuộc thành phố Hạ Long. Tại đây có mỏ Hà Lầm, một mỏ than đã được đưa vào khai thác từ thời Pháp thuộc. Hà Tu Tên cũ là Hà Sú, nay là một phường thuộc thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Tại đây có mỏ than Hà Tu, vào thời Pháp thuộc thuộc sự quản lí của công ti than Bắc Kì. Đường sắt mỏ Hà Tu Nguồn Thư viện quốc gia Pháp Ngã Hai Một khu vực thuộc xã Dương Huy, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. Tại đây có mỏ than Ngã Hai, hiện vẫn còn được khai thác. Vãng lai Đi lại từ Hán Việt. Đốc công Người thay mặt chủ xí nghiệp trông nom công việc của thợ thuyền ngày trước. Cai Người trông coi trong các công trường, nhà tù thời phong kiến, Pháp thuộc. Va-gông Toa xe từ tiếng Pháp wagon. La ga Tiếng Pháp la gare, nghĩa là nhà ga. Nagotna Một mỏ than thuộc quyền sở hữu của công ti Than Bắc Kì dưới thời Pháp thuộc, nối với mỏ than Hà Tu bằng một tuyến đường sắt dài 3km. Vân vi Đầu đuôi câu chuyện, đầu đuôi sự tình từ cũ. Ăng-lê Nước Anh hoặc người Anh từ tiếng Pháp Anglais. Cửa Ông Địa danh nay là phường Cửa Ông, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. Tại đây có đền Cửa Ông, được xem là một trong những ngôi đền đẹp nhất Việt Nam, thờ Hưng Nhượng Đại Vương Trần Quốc Tảng cùng nhiều nhân vật lịch sử thời Trần. Đền Cửa Ông Cẩm Phả Po Cảng Cẩm Phả "po" phiên âm từ tiếng Pháp port, nghĩa là cửa hoặc cảng. Cẩm Phả min Mỏ than Cẩm Phả "min" phiên âm từ tiếng Pháp mine, nghĩa là mỏ. Cọc Sáu Tên một mỏ than nay thuộc địa phận phường Cẩm Phú, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. Mông Dương Địa danh nay là tên một phường thuộc thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. Đây là nơi có mỏ than Mông Dương, một trong những mỏ thang có trữ lượng lớn và chất lượng tốt nhất từ thời Pháp thuộc. Khai thác than ở mỏ Mông Dương Tên Baille, sếp đường tàu hỏa. Núi Béo Tên một mỏ than nay thuộc địa phận phường Bạch Đằng, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Cọc Năm Một mỏ than thuộc quyền quản lí của công ti than Bắc Kì dưới thời Pháp thuộc, nay thuộc địa phận phường Hồng Gai, thành phố Hạ Long. Cẩm Phả Một địa danh nay là thành phố thuộc tỉnh Quảng Ninh. Tại đây từ xưa đã nổi tiếng với ngành khai thác than đá. Cẩm Phả cũng có nghề khai thác hải sản với hơn 50 km bờ biển, nhưng chủ yếu là đánh bắt gần bờ, sản lượng thấp. Cẩm Phả về đêm Còi tầm Còi báo bắt đầu hoặc kết thúc giờ làm việc các xưởng, mỏ, công trường, nhà máy… Bắt cô trói cột Một loài chim thuộc họ Cu cu, chim trưởng thành nửa thân trên có màu trắng, nửa dưới có nhiều vạch trắng đen. Tiếng chim kêu nghe như "Bắt cô trói cột" nên dân gian lấy làm tên, sinh sống hầu như trên khắp nước ta. Nghe tiếng chim bắt cô trói cột. Bắt cô trói cột Dân phu Người dân lao động phải làm những công việc nặng nhọc trong chế độ cũ phu xe, phu mỏ, phu đồn điền. Hào Một trong các đơn vị tiền tệ hào, xu, chinh, cắc bắt đầu xuất hiện ở nước ta từ thời Pháp thuộc. Mười xu bằng một hào, mười hào bằng một đồng. Tiền giấy năm hào Đông Triều Tên một huyện thuộc tỉnh Quảng Ninh, là vùng đất cổ có từ thời Bắc thuộc, ghi đậm nhiều dấu ấn lịch sử và văn hóa. Đây cũng là nơi phát hiện ra than đá đầu tiên ở Việt Nam, và than đá Đông Triều đã được khai thác từ rất sớm – từ những năm 1820. Lăng mộ vua Trần ở đập Trại Lốc Cảng Hải Phòng Được xây dựng từ năm 1874, một cụm cảng biển tổng hợp cấp quốc gia, lớn nhất miền Bắc và lớn thứ hai cả nước sau cảng Sài Gòn, là cửa ngõ quốc tế nằm tại hai quận Hồng Bàng và Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Khu cảng chính trên sông Cấm còn gọi là bến Hoàng Diệu, trước gọi là bến Sáu Kho. Bến Sáu Kho ngày trước Tức Hồng Kông Hương Cảng. 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày - Ở chân đây, viên đạn nó nằm nơi hông,không hiểu sao nó lại lọt vào trong khớp xương mà không chịu ra ngoài… - Tôi biết rồi, tôi muốn hỏi ông bị thương ở mặt trận nào ? - À, Khe Gió. - Cái tên nghe hay qua, Khe Gió. Cô gái nhắc lại hai tiếng Khe Gió với vẻ hài lòng, cô với tay cầm lấy trái cam nơi mặt bàn và cầm lấy con dao nhỏ gọt vỏ vẻ nhẹ nhàng khéo léo, đôi mắt nhìn xuống trái cam chăm chú - Anh tôi ở ngoài quân y viện đó đã hai năm, mới về phép được một lần, anh tôi ít chịu viết thư, thường anh ấy chỉ nhắn miệng hoặc gửi thư tay, lâu lâu anh ấy ghé bưu điện đánh điện tín về nhà với vài chữ vắn tắt vẫn mạnh khỏe,, hỏi thăm, đã được thư… Anh tôi lười viết thư lắm… Lần đầu tôi nhận được thư của anh ấy dài được nửa trang giấy. Thật vui. Tôi còn cơ hội gặp ông. Khe Gió, chắc anh tôi biết chỗ đó, gần nơi anh tôi phải không ? - Khe Gió xa, có lẽ anh cô chưa tới đó, nó ở gần biên giới Ai-lao, nơi thượng nguồn của sông Ô Lâu, xa lắm, ít ai lên đó, chỉ có bọn tôi đi hành quân, nơi đó núi non hùng vĩ, nước độc và pháo kích không kể ngày đêm, mưa xuống thì bốn bề mênh mông như giữa đại dương, có lẽ chẳng bao giờ tôi còn trở lại đó nữa… Cô gái lắng nghe chăm chú, cô bóc từng múi cam đưa sang tôi vẻ tự nhiên thân thuộc, tôi nói cám ơn và ăn từng múi cam từ tay cô đưa sang, tôi mới cô cùng ăn nhưng cô nói không thích ăn cam. Lúc sau cô gái mở ví ra lấy một gói ô mai đưa mời tôi và tự nhiên lấy ăn, cô nói của bạn, tôi cười nói của người vị hôn phu phải không. Cô gái mỉm cười gật đầu vẻ ngượng ngùng, tôi nói cám ơn cô tôi không thích của chua, tôi cũng có người vợ chưa cưới thích ô mai, thích mặc áo lụa. - Ông ta lại đỏ mặt và đang múa may kìa. Giọng cô gái chợt như hốt hoảng, tôi nhìn người đàn ông, ông ta đang có vẻ cuống quít với chính mình, ông ta ôm lấy mặt và gục đầu xuống hai đầu gối vẻ tội nghiệp. Cô gái ngồi lặng thinh nhìn xuống, cô với tay cầm lấy chiếc máy thu thanh nhỏ nơi đầu giường tôi và, tiếng hát vọng lên, em đến thăm anh một chiều mưa… cô gái ngồi im như lắng nghe, mắt nhìn ra ngoài sân nắng, cô gái nói - Ông có thích giọng ca Thái Thanh không ? 51/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày - Tôi mê giọng hát đó hai mươi năm rồi mà tiếng hát vẫn chưa già, từ những năm đầu trung học cho tới nay, đã già rồi mà tôi vẫn mê Thái Thanh, thật là tuyệt diệu… - Ông mới độ hơn ba mươi, đã già gì, tôi cũng mê tiếng hát ấy. Cô gái nhìn tôi vẻ thân thiết - Hôm nào lành ông rủ cô bạn đến tôi chơi… - Cô bạn tôi cũng mê Thái Thanh… Cô gái ngồi im, tôi nhìn ra khoảng sân nắng. - Tôi thích nghe hát, không thích xem hát, tôi chỉ thích nghe một mình… Tôi nói với cô gái câu chuyện đã cũ, đó là câu chuyện hồi cách đây hơn một năm, tôi đã cùng một người bạn lớn tuổi ghé lại Đêm Màu Hồng có Thái Thanh hát. Buổi chiều tôi ra phố một mình và gặp anh Nguyễn ngoài phố, anh cũng đi một mình, đó là thời gian anh Nguyễn sắp lập gia đình. Anh rủ tôi đi nghe nhạc, chúng tôi ngồi trong phòng sớm hơn mọi người, mỗi chúng tôi kêu một ly trà nóng, với gian phòng ấm cúng, ánh đèn đỏ và mờ, khoảng cách giữa những người ngồi nghe và những người đứng trên bục gỗ không xa cách nhau bao nhiêu, có thể nói đây là một khung cảnh, một không khí thân mật. Được nghe Thái Thanh hát, tôi nghĩ, với người nghe là môt hạnh phúc, đó là tiếng hát bắt được của trời đất,chừng như nó khơi nguồn từ những mạch nước tinh khôi trong suốt và thanh thoát… Cách đây gần hai mươi năm khi đang học những năm đầu bậc trung học Hà-nội tôi đã có lần được nhìn và nghe Thái Thanh hát trong rạp Bắc Đô Hà-nội nơi gần với nhà tôi ở. Từ bấy đến nay tiếng hát Thái Thanh vẫn không thay đổi, tiếng hát ấy vẫn tiếng hát từ một cõi nào, tiếng hát làm não lòng người trong nỗi thanh thoát. Nhưng đến khi tôi thấy Thái Thanh cùng với những người anh cất tiếng với những bài hát thời trang, với dáng vẻ nhún nhẩy làm duyên cho thích hợp với thời đại thì tôi không muốn nhìn lên phía tiếng hát phát ra, một cảm giác nhột nhạt chạy khắp cơ thể. Tôi nói với anh Nguyễn nỗi ngậm ngùi của mình. Tiếng hát đó đâu đáng để hát lên từ một phòng trà như thế này, tôi nghĩ tới một thính đường quốc gia với hàng vạn con dân ngồi im lắng nghe tiếng hát Thái Thanh cất lên. Tôi nghĩ thế. Nhưng có lẽ với Thái Thanh điều đó đâu đáng quan tâm, với người tài tử đó có lẽ chỉ có cất tiếng hát cho người nghe là cần thiết, nào có kể tới nơi tới chốn… những người khóc lẻ loi một mình - Tôi thấy buồn khi nghĩ đến cảnh một người nghệ sĩ khi về già mà vẫn phải trình diễn. Cô có nghĩ đến lúc Thái Thanh sáu mươi tuổi mà còn bước 52/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày lên bục gỗ một phòng trà không? Cô gái cười thành tiếng - Tôi nghe tiến hát chứ không coi hát. Các con của Thái Thanh thật sung sướng nhỉ, tha hồ nghe mẹ hát, mẹ tôi nói bà tôi ru cháu rất hay đến thời tôi, tôi không còn được nghe hát ru. - Tôi thuộc ca dao nhờ bà ngoại và mẹ tôi. - Ông hạnh phúc hơn chúng tôi, chúng tôi chẳng còn được nghe hát ru. Tôi cười thành tiếng - Cô có biết khiêu vũ không ? Cô gái ngượng ngùng, cô nói nhanh như khỏa lấp - Không, tôi không có cả áo đầm, tôi thích áo lụa trắng nên phải giữ cho mình khỏi mập. Không khí trong phòng im lặng môt cách dễ chịu, một vài bệnh nhân rời khỏi phòng ra đi dạo ngoài sân cỏ, có những người được dìu bởi những người thân, có người ngồi trên giường co chân co tay tập cử động cho bình thường trở lại. Cô gái nói - Cái chân ông bao giờ thì có thể lành ? - Bác sĩ nói với tôi là sáu tháng. - Sáu tháng… Cô gái hơi rụt cổ lại, đôi mày hơi nhíu vẻ nghịch ngợm trẻ thơ, hai tay giữ lấy chiếc ví trong lòng với dáng ngồi của một thiếu nữ còn nhiều e dè và chưa quen với sinh hoạt của giao thiệp, tôi hình dung tới không khí gia đình của cô bé, một gia đình trung lưu và nếp sống thu kín nhẹ nhàng. - Sáu tháng ông phải nằm trên giường, thấy sợ quá. - Đâu đến nỗi thế – tôi cười. – Hôm qua, bác sĩ đã lôi tôi xuống khỏi giường bắt bước đi, tôi suýt nữa ngã vì đau… - Trời ơi, bác sĩ gì kỳ vậy. - Ông ấy thử. 53/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày Cô gái nhìn cái chân tôi trắng toát, bó bột suốt từ dưới lên tới trên bỏ ngay đơ trên giường. - Ông có chân của một người khổng lồ, có chân ai lớn và trắng như thế này không nhỉ, một người như vậy mà đi chơi với mình thì chỉ có nước chạy. Một người khổng lồ, ông thích không ? - Không, có một cái chân khổng lồ đã mệt rồi, có một người khổng lồ thì… thì… Tôi bỏ dở câu nói. Tôi chợt nhớ đến một chuyện thương tâm, đó là câu chuyện đã được diễn tả trên màn ảnh, một người bị thương trầm trọng, tất cả người bị băng, nằm dài trên chiếc giường, anh ta đã nhờ một người bạn hạ mũi nhọn của lưỡi tê xuống trúng tim. Mẩu đối thoại chậm chạp, bàn tay sờ lên ngực và cái chết… tôi rùng mình. Chính ở trong bệnh viện này, ngày tôi vừa vào, tôi cũng thấy một cảnh thương tâm, một người cụt hẳn hai chân và một tay, còn lại một tay thì cụt mất bàn tay chỉ còn lại như que củi, trông con người ấy ngồi trên giường quờ quạng mẩu tay cụt còn lại tôi ngậm ngùi… - Ông nghĩ gì vậy ? Tôi mỉm cười nói không và lặng đi. Cô gái nói những chuyện bình thường trong đời sống của cô, lúc sau cô đứng lên và chào tôi để trở về. Tôi nói - Khi lành bệnh và xuất viện tôi sẽ ghé thăm cô, chắc không phiền. - Tôi mong lắm. ông nhớ dẫn cô bạn gái lại nghe. Tiếng nghe sau câu nói được kéo dài và ngọt ngào lạ. Cô gái mỉm cười đi ra khỏi phòng. Tôi nhìn theo cho đến khi cô gái khuất ngoài cửa. Tôi quay nhìn ra ngoài sân cỏ, nắng lên đầy ở ngoài đó, tôi để nguyên cuốn sách úp trên ngực, đôi mắt nhìn chiếc quạt trần quay chậm chạp trên mặt, buổi trưa nóng chừng như đã bắt đầu. Một phần băng bột nơi chân đã cược cắt đi, tôi bắt đầu lần hai bên thành giường tập đi như đứa trẻ qua giai đoạn biết bò và đứng lên được. Tôi mải miết với công việc tập đi hằng ngày cho tới khi mệt thì lên giường. Buổi chiều khi tôi đang tập đi thì có cảm tưởng như có một người nào đó đang đứng ngó mình phía sau lưng, tôi lần ra phía cuối chân giường và sang tới phía bên kia. Tôi nhận ra cô gái đang đứng mãi ở tận ngoài cửa. Mái tóc buộc lơi, áo lụa màu hoa lý nhạt, cô gái mỉm cười đi về phía tôi như một người vội vàng, tôi đứng im. - Ông khá rồi hả, đi được rồi, tôi tưởng còn lâu. 54/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày Cô gái đến bên và nói không cho tôi kịp tỏ dấu chào. Tôi ngồi lên giường và cười với cô như một lời chào và cảm ơn. Không đợi tôi nói cô kéo vạt áo rồi ngồi xuống chiếc ghế để phía ngoài - Tôi được thư của anh tôi, anh tôi sắp về, độ bao giờ thì ông xuất viện. - Có lẽ ít ngày nữa. - Thế cô bạn của ông có lên thăm không, hôm nay chủ nhật mà, tôi tưởng ghé hôm nay thì gặp cô bạn của ông. - Có, tại cô ghé trễ quá, cô bạn tôi bận về vì ở xa. Cô gái mắt mở lớn nhìn tôi, đầu gúc gúc ra ý hài lòng và đùa nghịch. Cô gái mở xắc tay đưa cho tôi gói giấy nhỏ màu hồng - Tôi nghĩ ông nằm một chỗ chắc buồn, ăn ô mai chắc thích, thứ này không có chua đâu, ô mai cam thảo mà. Tôi đón lấy gói giấy, mở ra, tự lấy một trái bỏ vào miệng và đưa gói giấy về phía cô gái. Cô ngần ngại một chút rồi nhón lấy một trái nhỏ cầm ra tay rồi bỏ vào miệng, sau cô lấy chiếc khăn trắng lau nhẹ nơi miệng và ngón tay. Tôi ngạc nhiên và mỉm cười khi tôi nhận thấy nơi tay của cô gái đeo một chiếc nhẫn lớn đối với ngón tay nhỏ búp măng. Cô gái nhận ra cái nhìn của tôi, cô gái cười, đồng thời cô bỏ thẳng bàn tay trên đùi - Ông thấy cái nhẫn có gì lạ không, quà tặng của bạn tôi. Cô gái để bàn tay ngửa lên, tay kia thì mân mê cái nhẫn xoay tròn nghịch ngợm. Cái nhẫn có mặt vuông. Cô gái nói tiếp - Ông thấy đẹp không – cô gái giơ tay về phía trước – người bạn tôi đã tự làm lấy đó, anh ấy kể lại với tôi hồi cách đây hơn bốn năm, khi đang thụ huấn trong quân trường, anh ấy buồn quá, dùng thì giờ mài chiếc nhẫn này, nó là cái vòng cổ của trái lựu đạn, một thứ quà tặng của chiến tranh, anh ấy nói khi mài nó anh nghĩ tới khi cưới vợ, chắc đây là cái nhẫn duy nhất có được trên trái đất… - Cô có thích không ? Cô gái mỉm cười - Thích lắm. - Tôi không phân biệt được thế nào thứ thiệt thứ giả, tôi chưa rõ thế nào là vàng, là kim cương. Xưa kia mẹ tôi có đánh cho tôi một cái khánh 55/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày bạc, khi chiến tranh thì thất lạc, cái khánh đeo trước ngực khi còn để đầu trái đào, cô biết không ? Thứ ấy ngày nay không ai còn đeo nữa, thời xưa rồi. - Người bạn tôi có mặc cảm nhà nghèo, anh ấy có vẻ giống ông, vàng, kim cương tôi cũng không biết gì cả, có người khổ sở với nó… - Tôi không có một bảo vật nào, cuộc sống của tôi cũng không có gì là kỷ niệm, cô có người bạn dễ thương nhỉ. Bạn cô đã thất tình bao giờ chưa. Cô gái ngừng lại một chút, tay mân mê chiếc nhẫn, mặt hơi cúi. - Có, anh ấy nói, anh ấy cũng kể cho tôi nghe nữa, bạn tôi lắm khi cay đắng, tôi thương anh ấy, tôi nghĩ chẳng ai muốn như thế, anh ấy như một người lơ đễnh với đời. Anh ấy bảo tôi đời sống không cho phép mơ mộng, ông có nghĩ vậy không ? - Làm sao để người ta không mơ mộng ? Cô gái ngồi im, lúc sau cô lục lọi trong xắc tay lấy ra một cái ống nhôm như một thứ ống kem tí hon, cô gái giơ lên - Ông có biết gì không ? - Không, gì mà lạ vậy. - Xưa kia ông có bao giờ thổi bọt sà phòng không ? - Có, hồi nhỏ, trò chơi cũng vui nhỉ, một cọng cỏ thẳng, có lúc quên thổi ra lại hút vào… Cô gái chăm chú mở chiếc ống nhỏ, bóp thuốc, một chút nhựa đỏ chảy ra, cô gái lấy chiếc ống quệt lên đầu ống nhựa rồi nhẹ nhàng đưa lên miệng chăm chú thổi nhè nhẹ, một trái bóng màu xuất hiện và lớn dần, nó có hình như những bong bóng sà phòng thời nhỏ, màu sắc kỳ diệu, có điều nó lớn hơn và nó không tan ngay. Cô gái để nguyên trái bóng rực rỡ nơi đầu ống nhựa, cô dùng tay nhỏ khéo léo làm trái bóng tách ra khỏi đầu ống rồi thả ra khoảng không, trái bóng lờ đờ ngang mặt rồi sà xuống dưới đất, tôi trông chờ nó vỡ nhưng nó đứng im một chỗ. - Đẹp không, người ta bán nhiều màu lắm, ông thích thổi không ? Không chờ tôi trả lời, cô gái đưa cho tôi ống nhựa hỏ và ống thuốc. Tôi cầm lấy làm theo cô gái, nhưng ngay khi thổi, một tiếng nổ nhỏ vang lên, chiếc bóng vỡ từ ngay khi vừa nhú ra. Cô gái cười, tiếng cười giòn tan. Tôi thấy mùi thuốc thơm một cách khó chịu, chút nhựa dính ra tay cạ khôn 56/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày ghết. Tôi nhớ tới mùi thơm nhẹ nhàng của ống cỏ và vẻ lun glinh của bong bóng sà phòng khi thoát ra bay lên và vỡ tan không để lại dấu vết. Tôi nhìn cuống trái bóng màu còn là là nơi mặt đất, nó đã tóp lại với một hình thù xấu xí. Tôi đưa trả đồ chơi cho cô gái - Tôi mơ mộng hơn tôi tưởng. Tôi mỉm cười, cô gái nói - Hôm rồi ngồi trong lớp học các bạn tôi đã thổi những trái bóng này trong lớp, nhưng chơi lâu rồi chán. Ông thích không ? - Không. Tôi có nhớ tới bài thơ của Tagore, bài thơ là một truyện kể, một người gặp người ăn xin ngồi bên vệ đường chìa tay ra xin, một kẻ đi qua có túi ngô trên vai đã cho người ăn xin một hột ngô, khi về nhà bỏ ngô ra thấy có một hột ngô bằng vàng… kẻ đó nhớ lại chuyện thấn thoại, ông tiên thành người ăn mày và trả công bằng vàng cho người bố thí, kẻ đó ân hận sao không đổ cho người ăn mày kia cả túi ngô… Lúc nhỏ tôi cũng mong những người ăn xin biến thành bà tiên, nay nghĩ lại, nếu bà tiên hiện ra thật có lẽ mình sẽ thất vọng… - Tôi vẫn mong một bà tiên. Tôi bỏ chân xuống đất và vịn theo thành giường bước đi. Cô gái nói - Ông có thích ra ngoài một chút không ? Cô gái với cho tôi chiếc nạng, giữ tay cho tôi thăng bằng và giúp tôi ra ngoài sân cỏ, buổi chiều đang cuống, tiếng cô gái hát nhỏ bài Ngày trở về của Phạm Duy Ngày trở về có con trâu xanh hết lòng giúp đỡ… - Người bạn tôi trẻ con hơn ông, anh ấy nhút nhát và có những lúc buồn bất chợt, tôi trông cho tới lúc tôi trưởng thành thì anh ấy cũng đã ra khỏi quân ngũ, không còn chiến tranh, ông có mong vậy không ? - Tôi đang trông mong điều đó. Tôi thấy lòng mình trùng xuống ngậm ngùi. Bao giờ cho tàn cuộc chiến… Chúng tôi đi một quãng ngắn trên sân cỏ rồi đến ngồi nơi băng ghế bất chợt nhìn thấy nơi cuối sân một cô bé cột tóc ngắn, dáng nhỏ bước đi tung tăng, tôi nhớ tới hình ảnh người vợ sắp cưới ngày đầu tiên đã gặp, khu vườn cây xanh, chiếc áo thảm cỏ hoa, tiếng cười nhẹ… 11-1970 57/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày Một nơi có người 1 Tiếng động khô vang lên, trái bã đậu vỡ tung trên mặt bàn gỗ, mấy khía bắn xuống nền gạch nâu cũ mỗi khía một ngả, trên mặt bàn còn hai khía dính lại với nhau nằm trơ trọi bên cạnh chiếc ly trắng nhỏ và xị đế đã vơi hai phần ba cầm lấy hai khía trái bã đậu, vỏ ngoài khía bã đậu màu gỗ hơi nhám, phía trong đen láng bóng, một đầu lớn một đầu nhỏ uốn cong. Sau khi đốt cháy hai cạnh sắc bọn trẻ gài lên hai lỗ mũi làm thành một bộ râu mép ngỗ ngược để đóng một nhân vật dữ tợn nhưng có vẻ khôi hài nào đó. Bộ râu biến đứa trẻ thành một người già. Có đứa la lên ta là ông già vợ của mày. Có đứa lấy giọng lụ khụ ta là Trần Minh khố chuối đây. Ta là ...Tư mỉm cười với những hình ảnh hiện ra trong trí nhớ... Tư cầm xị rượu dơ lên cao nhìn áng chừng ngấn nước, rồi lắc cho sủi bọt trươc khi giót đầy chiếc ly để trên mặt bàn. Để chai rươu xuống, Tư cầm lấy chiếc ly đưa lên môi ngửa cổ hớp cạn ...Hơi sương đục ở bên kia sông làm mờ nhạt những lùm cây xanh. Buổi chiều đang xuống chậm. Tư cầm lên tay hai khía của trái bã đậu liệng ra phía có đàn chim đang nhảy lên nhảy xuống nơi đống cỏ khô. Đàn chim hốt hoảng bay túa lên và mất hút. Nhìn ra phía ngã ba sông, con đường đất như một cái hầm được làm bởi hai hàng cây bã đậu với lá đầy kín chụm lại với nhau. Trong bóng tối của vòm cây tưởng như trên mặt đường sương bắt đầu đọng lại, những thân cây nhỏ lẩn vào vách nhà, những hàng rào thưa và những mái nhà thấp lợp lá, lợp tôn chen lẫn vào nhau. Tiếng một mái chèo khua động trên mặt nước, tiếng một người nào đó như vang lên từ bên kia sông. Ánh sáng yếu ớt của buổi chiều để lại những khoảng sáng trên mặt nước. Chừng như ở đó Tư nhận ra những vệt sáng mơ hồ của đàn muỗi đang di chuyển, đó là những con muỗi non với thân mềm nhệu màu xanh non...Tư moi từ trong túi áo ra một điếu thuốc ngậm lên môi rồi thò tay vào trong túi quần tìm hộp quẹt, lần hết túi này sang túi khác vẫn không thấy, đầu điếu thuốc đã ướt nước, Tư cầm điếu thuốc để xuống mặt bàn. Chiếc hộp quẹt đã bỏ đâu rồi trong túi áo trận, trong ba lô, hay đứa nào đó đã cầm? Chắc cái thằng Năm Ngựa, cái thằng chỉ chờ người ta hở ra là chộp. Nó cầm nhưng có ai nhận ra thì hắn trả ngay, miệng cười hề hề tao đâu có lấy, tao giữ hộ, không có tao thì mất rồi, đó là bài học cẩn thận cho bọn mày...Hay là mình đã bỏ ở một nơi nào khác, chưa chừng từ hôm qua ở nhà Lan, hay lúc hái dừa cho bác Thắm...Tư cầm xị đế dốc ngược, rươu tràn miệng ly, Tư vội ngừng lại, cúi xuống hớp cho ly rươu vơi đi rồi giót tiếp chút rượu còn lại. Ông già nói mỗi giọt rượu là một giọt máu của tao, biết không? Chừng như với ông già thì mỗi giọt rượu làm cho ông thêm một giọt máu. Mỗi khi thiếu rượu trông ông thiểu não, da tái nhợt, nói không ra hơi, đi không vững. Ông thường 58/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày nói khi tao chết rồi cúng giỗ chỉ cần xị đế là đủ, không cần cá thịt gì hết, không lẽ giỗ cha mà không kiếm nổi một xị đế. Tợp hết ly rượu Tư đứng lên đặt mạnh chiếc ly xuống bàn, cầm lấy điếu thuốc ngậm lên môi, Tư bước vào trong quán - Tính tiền chị Năm ...cho mồi chút lửa. Chị Năm nhìn lên - Hôm nay ở nhà sao Tư ? - Cháu mới đi kích đêm qua... Tư đưa tiền cho chị Năm, con Son đứng phía trong cầm ra cho Tư chiếc đèn hoa-kỳ. Ngọn lửa nhỏ xanh như hạt đậu đứng im trong chiếc bóng ố vàng rạn nứt. Tư cầm đèn đưa đầu điếu thuốc đang ngậm trên môi vào trong bóng đèn . - Coi chừng tắt nghe. Tư nhíu mắt hít hơi thuốc dài, bỏ ngọn đèn xuống, thở ra một cụm khói trắng đục, vẻ khoan khoái hiện rõ trên mặt. Tư đứng im nhìn con Son cầm ngọn đèn để lên kệ góc quầy hàng, có một khoảng nhỏ ánh sáng vàng vọt. Chị Năm nói vừa đủ nghe - Tư mày có nghe thấy tin gì về thằng So và thằng Trà không, bọn nó còn mắc tiền thuốc. - Không nghe gì hết. - Vậy bọn nó đi đâu? - Ai mà biết ... - Chẳng lẽ mấy đứa dám cả gan mà ... - Sao biết được chị ơi, chết rồi cũng nên, chưa chừng ít bữa nữa xác bọn nó nổi trên mặt sông cho mà xem. Ở đây đi đâu cho thoát được, nếu thoát dễ thì ... - Mấy đồng tiền thuốc có đáng bao nhiêu, đừng nói gở cho bọn nó chứ. Nghe thằng So nói nó còn vợ với mấy đứa con, coi hình thấy mấy đứa nhỏ ngộ lắm ... Tư quay trở ra đi về phía đồn. Qua cây cầu nhỏ Tư nghe có tiếng người gọi và dừng lại. Chợt từ dưới ruộng thằng Ty rẽ bụi cỏ cao đi lên, nó 59/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày nhìn trước nhìn sau vẻ lo lắng. Tư đứng im chờ đợi, thằng Ty cúi mặt không nói. - Chuyện gì đó Ty? - Chị Lan nhắn anh đừng xuống dưới nhà. Thằng Ty đứng im tay bứt những ngọn cỏ cao trong tiếng nói rụt rè như dấu một điều gì đó đã xẩy ra. - Có chuyện gì vậy? Im lặng một lúc Ty mới nói - Anh Hai về hồi đêm. Tư rời mắt nhìn khỏi những váng nước trên mặt ruộng. Thằng Ty nhìn vào mắt Tư vẻ sợ hãi. Thằng Hai về. Khuôn mặt lặng lẽ, nước da ngăm đen, nụ cười kín đáo, tiếng nói nhỏ sắc, đôi mắt ti hí bí mật, dáng người nhanh nhẹn lúc nào cũng như sắp lao về phía trước, lẩn vào trong bóng đêm. Mày muốn lấy em gái tao hả, mày không xứng đáng, mày không còn là thằng Tư bạn tao, mày bây giờ là một thằng khác...Hãy nằm im không có cựa, mày chưa thấy mũi dao nơi cạnh sườn đó sao? Lan cầm ngọn đèn từ nhà trong ra để trên mặt bàn giữa nhà, ngọn đèn vàng tù mù không ai nhìn rõ mặt ai. Giọng thằng Hai khô khan mày muốn lấy con Lan, cũng được, mày muốn vậy thì nghe đây mày phải bảo đảm an toàn cho gia đình tao...Tao muốn đưa mấy đứa vào dân vệ, mày phải bảo vệ cho bọn tao, mày nghe không? Tư vụt vùng dậy, thằng Hai té xuống, Tư xô đổ cái bàn làm tắt ngọn đèn, phóng ra khỏi nhà, vượt qua khoảng sân hẹp, nhảy qua bờ lạch nhỏ, chúi đầu chạy rồi rúc vào một bụi rậm ngồi im nghe ngóng. Không có tiếng động, trời tối đen. Tư ướt sũng ngồi im chờ sáng. Buổi chiều Lan lên ngồi ở quán chị Năm chờ Tư. Tư lặng lẽ, Lan lo âu. Lúc chị Năm vào trong Lan nói em khổ lắm anh ơi. Tư nhìn thấy những giọt nước mắt lăn xuống. Tư thở dài nhìn mông ra cánh đồng trước mặt. Từng ly rượu được giốc cạn, Lan lấy ngón tay út vẽ những vòng tròn nước trên mặt bàn...Tư bước lại gần thằng Ty soa nhẹ tay lên đầu nó. - Nghe rồi, về đi. Tư bước về phía đồn, đi được một quãng khi nhìn lại đã không còn thấy Ty trên con đường đất. Hình ảnh ngôi nhà tranh thấp nhỏ giữa cánh đồng dựa lưng vào vườn chuối với những tàu lá xanh biếc của gia đình Lan hiện ra trong đầu Tư... 2 60/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày Chị Năm nhìn ra con đường vắng lạnh đầy bóng tối. Son đứng lên cầm ngọn đèn xuống nhà bếp nhóm lửa nấu bữa cơm tối. Một chút nữa thằng Tố sẽ từ trường học theo con đường ven sông trở về. Chỉ còn con Son, thằng Tố, chị Năm chẳng còn gì nữa. Tang anh Năm đã qua hơn hai năm. Hồi bấy giờ chị đã muốn về dưới quê, nhưng rồi chị đã không về. Người em ở quê được đưa tới bổ xung cho tiểu đoàn nói anh hai đã bỏ quê đi rồi, vứt lại hết nhà cửa ruộng vườn lên làm ăn trên tỉnh vì thằng con lớn bị lùa vào du kích khi chưa được 16 tuổi, mấy tháng sau nhận được tin báo đã chết, không biết ở đâu, vì sao. Thằng con sau mới 12 tuổi bị đạn gẫy chân trong một đêm có giao chiến nơi ven quốc lộ. Ở quê nay còn ai nữa mà về. Chị Năm chẳng còn biết đi đâu ngoài cái quận lỵ nhỏ bé bị cô lập này. Chị theo chồng cùng đơn vị tới đây đã hơn năm năm, chồng tử trận, chị gây dựng cái quán nhỏ bán rượu, tạp hóa và nhận sửa quần áo để có tiền nuôi con. Có một hồi người ta nói chị tằng tịu với một người bạn của chồng nhưng về sau không có gì khác, chị vẫn sống như một cái bóng lầm lũi nuôi hai đứa con. Đi đâu thì cũng phải làm mà sống. Từ khi chị nghĩ thế chị không còn tính tới chuyện về quê hay một nơi nào khác. Một hôm nào đó yên ổn hết không còn bom đạn chị sẽ đi tìm anh Hai để gửi hai đứa con, chồng chị đã không còn, chị muốn trông cậy vào một ngươi có thể thay ba chúng dạy hai đứa nhỏ thành người. Đó là điều mong ước của chị… 3 Không khí trong quán chú Chín ồn ào náo nhiệt hẳn lên khi ba anh dân vệ từ ngoài bước vào, bốn chiếc bàn phía trong không còn chỗ, chiếc bàn ngoài hiên cũng đầy người. Những ly cà phê đen, những tô hủ tiếu, mì bốc khói, những cái đầu cúi xuống. Thằng Ri, con trai lớn của chú Chín, cổ tay vắt cái khăn lau chạy ra chạy vào có khi cả hai tay đều có ly cà phê hoặc tô mì, miệng nó kêu lớn liên hồi nước sôi, nước sôi...Chú Chín mồ hôi nhễ nhại trên cổ, trên ngực, cơ thể luôn chuyển động với những thao tác lập đi lập lại xúc mì, múc nước, bày những miếng thịt đã thái mỏng, bỏ hành...Ba anh dân vệ vào tận trong cùng thì đứng lại đưa mắt nhìn những bàn đầy khách, họ đứng yên một lúc quần áo nhàu nhượi, súng khoác trên vai, lựu đạn móc trễ nơi thắt lưng, vẻ ngái ngủ trên gương mặt mệt mỏi. Thằng Ri chạy tới - Anh Ba...vào trong nhà trong đi, ngoài này hết chỗ rồi.... Ba anh dân vệ quay vào, đi tới, bước qua cửa vào nhà trong. Gian phòng hẹp có kê một cái giường, phía ngoài kê một cái bàn thấp. Ba dân vệ bỏ súng lên cái giường rồi kéo ghế ngồi quanh cái bàn, từ đây họ có thể nhìn thấy trong khoảng sân hẹp con Xinh đang rưởa những cái tô trong một cái chậu nhôm lớn đầy nước. Quán chú Chín có mặt trong phố quận từ hồi nào không còn ai nhớ nữa, có một điều chắc chắn khi rời quận tới đây thì 61/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày đã có quán chú Chín rồi, mới đầu còn vắng, nay đông hẳn. Đó là quán ăn độc nhất nằm ở bên trái của con đường nếu đi từ ngã ba sông để tới quận đường. Bọn nó ra quán chú Chín rồi. Hẹn nhau ở quám chú Chín. Quán chú Chín đã trở thành quen thuộc với người sống ở thị trấn. Chú Chín đã trở thành tên quán, trong khi đó, trên cửa quán, người ta có thể đọc thấy bốn chữ Hồng Ký Trà Gia trên một tấm bảng màu đỏ với nét chữ đen, tất cả đã cũ. Trên tấm bảng có treo một tấm gương soi và một tấm gương vẽ hình bát quái. Bên cạnh có dán mấy tờ giấy đỏ với những chữ Tàu không còn rõ nét trên mặt giấy nhoa nhuếch cũ nát. Đa số khách hàng tới quán, chú Chín đều quen mặt thuộc tên, chú có thể dễ dàng nhận ra một người khách mới. Khi quận lỵ được thiết lập số quân nhân tăng lên đã làm chú khó sử trong một số trường hợp nào ăn chịu, uống thiếu, uống rượu say la lối, gây lộn...với những khách hàng có sẵn súng, dao găm, lựu đạn này thực chú Chín không biết phải làm sao. Có lúc chú Chín đã nghĩ tới đóng cửa hàng, nhưng với lợi nhuận thu được đã giữ chân chú lại. Và từ đó chú cũng tỏ ra khôn khéo hơn trong giao tiếp với khách. Sự cố chú Chín nhớ nhất là vụ thằng Mười Đen. Bữa đó khi từ trong quán bước ra thấy Mười Đen đang ngồi nhậu với đám bạn, chú Chín tới bên bảo nó trả tiền còn thiếu từ tháng trước, Mười Đen mặt đỏ gay đứng lên khỏi ghế la lối, văng tục và bảo chú Chín làm nhục nó trước mặt bạn bè, chú Chín không nhịn, Mười Đen liền rút lựu đạn tung vào trong quán, lựu đạn không nổ vì chưa rút chốt. Chú Chín đi thưa trong quận, Mười Đen bị phạt giam sau đó bị đổi đi đơn vị khác đâu trong giữa rừng tràm. Có mấy người nói nó không phải đứa xấu, nó làm vậy để được đi nơi khác. Mười Đen đi rồi thì một ngươi bạn của nó tới nói thằng Mười nó gửi tôi tiền nó thiếu chú. Sự việc làm chú nghĩ ngợi. Sau đó trong một lần tới quán, ông quận vui vẻ nói với chú Chín chớ cho bọn nó ăn thiếu uống chịu, tôi không đi đòi nợ cho chú được đâu nghe, nhưng đứa nào quậy phá thì cho tôi hay...Ông quận còn trẻ, ông là sỹ quan của tiểu đoàn đóng ở quận. Thỉnh thoảng ông đi bộ trên con phố duy nhất của quận, ghé nhà này, nhà kia...Ông cũng ghé quán chú Chín uống cà phê, ăn hủ tiếu hoặc mì chưa bao giờ thấy ông uống bia rượu bao giờ. Chú Chín nhớ lần đầu ông quận vào quán kêu một ca phê đen, uống xong ông kêu tính tiền, chú Chín không nhận, ông quận nét mặt nghiêm lại chú là cộng sản hả, hay chú hối lộ đây...chú Chín ngượng ngùng nói vội vàng dạ không, dạ không...Từ đó chú Chín coi ông quận chỉ là một người khách đặc biệt, mỗi lần ông quận ghé chú lược một ly ca phê mới, tô hủ tiếu thì nhiều bánh, nhiều thịt hơn. Quán chú Chín mở cửa suốt ngày nhưng buổi sáng bao giờ cũng đông nhất, số khách này kéo dài cho tới khi mặt trời lên cao mới vãn. Còn ngồi lại thường là những người lớn tuổi rảnh rỗi ngồi nhâm nhi ly ca phê nói chuyện gẫu. Trong những lúc đó chú Chín có thể rời xa cái xe có thùng nước lèo của mình ngồi xuống một bàn nào đó góp chuyện tin tức về những trận đánh 62/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày xẩy ra trong vùng, tin về tiểu đoàn cơ động đang mở rộng vùng an ninh, tin tức từ Cà Mâu, trên Sài gòn...Thỉnh thoảng có chuyến tàu thường lệ nối Cà Mâu với thị trấn bị đứt, quán chú Chín không có ca phê và nước đá bán khiến khách hàng chửi đổng và lo âu...Những lần như thế mọi người lại bàn tán xem có phải đang có giao tranh khiến tàu không chạy, hay là du kích ngăn không cho tàu chạy dù chủ tàu đã đóng thuế kháng chiến. Có một lần dân vệ đã xuống nằm trong tàu chờ du kích ra lấy tiền và hàng thì nổ súng. Sau vụ đó tàu hàng liên tiếp bị tấn công và cả những thuyền nhỏ cũng không dám chạy trên con đường thủy huyết mạch đó. Quận lỵ gần như bị cô lập cho mãi tới khi những chuyến hàng được quân đội áp tải. 4 Tối đó không như thường lệ, Tư thấy trong đơn vị không có toán nào đi kích đêm, tất cả được lệnh chuẩn bị hành quân vào sớm mai. Ngay từ đầu đêm đã nghe tiếng trọng pháo hướng về vùng pháo kích tự do ở bên kia sông. Trời hừng sáng Tư và đồng đội đã vượt qua sông khá xa rồi ngừng lại. Trên trời một chiếc trực thăng đang bay là là cùng tiếng loa Đồng bào hãy rời khỏi khu vực này, đây là vùng pháo kích tự do, đồng bào hãy về vùng an ninh, chính phủ sẽ giúp đỡ đồng bào xây dựng cuộc sống mới...Phía trước mặt cánh đồng hoang trải rộng. Mặt trời đã lên cao. Tư kéo đổ khóm cỏ cao xuống và ngồi lên trên, súng vẫn cầm tay hướng về phía trước. Ở đâu đó những hình ảnh lại hiện ra. Có buổi sáng một đám đông, phần lớn đàn bà, trẻ con, người già nối đuôi nhau qua sông tụ tập gần cửa quận được đưa vào miếng đất trống là sân đá bóng, họ lặng lẽ không nói ngoài lá đơn nguyện vọng cầm trên tay, gần chiều đám đông tan dần, một số ngừơi xin ở lại, họ được hướng dẫn tới khu nhà dành cho những người tỵ nạn. Có một buổi trưa nắng tiếng khóc, tiếng gào vang lên ở phía ngã ba sông, người lính gác ở gần đó chạy lại thấy mấy người đang khiêng một người bị thương để nằm trên một tấm ván...Có buổi sớm tinh mơ, một đám người vượt qua sông đứng nhìn ngơ ngác, họ đã đi suốt đêm để tới đây, có giọng ai đó tại sao lại phải bỏ nhà cửa ruộng vườn mà đi thế này.... Những bóng người lay động mơ hồ đang hiện ra dần dần trước mắt Tư. Tư đứng lên, một tay dơ cao vẫy ra dấu cho đám người bước tới người đi đầu là một đứa bé tay cầm một cành tre trên treo một tấm vải trắng được phất đi phất lại, phía sau là hai người đàn bà, một cụ già và hai cô gái. Tư khoác khẩu súng lên vai. Cầm lấy cành tre trên tay đứa bé vứt xuống ruộng cỏ rồi nắm lấy bàn tay đứa bé một bàn tay sần sùi những vết sước, khô và nhám. Đôi mắt hóm sâu, nước da sạm cháy, những nếp nhăn chồng chất, da sát xương một đứa bé già. Cầm tay đứa bé, nhìn mông về phía chân trời hình ảnh đứa bé lang thang trên cánh đồng bỏ hoang tìm kiếm những con cá, con cua, con chuột, những ngọn lúa ma...Có thể lúc đó trên đầu một máy bay đang lượn hoặc một trái trọng pháo nổ không xa. 63/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày ...Một người nói du kích bảo ra ngoài này họ lột da đầu, ở trong này ít bữa nữa độc lập sung sướng vô cùng...Bọn tôi chỉ muốn tới chỗ nào không có bom đạn...Một người nói từ cái hồi còn giặc Pháp, tôi và gia đình đã từng chạy lung tung hết, lúc ở bên nội, lúc ở bên ngoại, khi lên nhà bác...cứ chạy quanh, vì thế cũng sống đủ kiểu lúc làm ruộng tát mương, khi chăn bò lấy củi. Cứ chỗ nào yên mình tới , ai điên gì chạy tới chỗ bom đạn mà chịu chết...Không thể quên đi những hình ảnh chồng chất lên nhau. Những ngọn dừa xơ xác không còn một tàu lá, những cánh đồng cỏ dại mọc cao hơn đầu người, những mái nhà nghiêng đổ, những cây cầu gẫy...Dọc đường đâu đó có khi còn gặp xác người nằm phơi dưới nắng lửa...Một người nói hồi đó ở trong Cái Tắc tôi đã thấy một cảnh kinh hoàng một toán lính ba-ti-giăng từ dưới đồn đi lên tới gần đầu chợ thì dừng lại, một thanh niên gánh rau đi tới, một tên lính chặn lại, một tên khác đá tung một rổ rau, người thanh niên vụt bỏ chạy xuống cánh đồng lúa ven đường. Một tràng đạn nổ vang động. Những người đang đi trên đường, những người đang mua bán nơi đầu chợ bỏ chạy tán loạn, người chạy xuôi kẻ chạy ngược. Người ta thấy một ông già tay cầm cái phảng chạy về phía người thanh niên bị bắn ngã miệng kê liên hồi thằng con tui, thằng con tui ...ông già cúi xuống đưa tay lay lay xác người thanh niên một lúc rồi đứng thẳng im lặng. Toán lính tiến lại gần chỗ ông già. Bỗng ông già rống lên trời ơi, con tôi...ông già thét lên, tiếng thét như xé rách bầu trời, tay vung cái phảng lên chém những tên lính đang đứng vây quanh. Quá bất ngờ khiến mấy tên lính đứng gần bị chém ngã, mấy tên khác bỏ chạy, có tên đã kịp nhả đạn nhưng ông già còn kịp chém thêm mấy tên khác rồi mới ngã vật xuống đất, cái phảng vẫn còn nắm trong tay...Một người nói cái hồi tôi tới đây lập đồn, tối đến mọi người vào trong lô cốt, trong hầm, con đường đưa tới ngã ba sông hai bên cỏ cao ngập đầu chẳng ai dám lai vãng. Có lần một anh mới tới, tối ra đứng tiểu bên hàng rào bị bắn tỉa vừa chạy vừa la tụt mất cả quần... Cho mãi tới gần trưa số người rời khỏi vùng oanh kích tự do lên tới khoảng hơn hai chục người. Tư tới bên một người đàn ông gầy guộc - Chú Hai thấy ở trong còn ai không? Người đàn ông mắt nhìn về phía chân trời lắc đầu - Chắc hết rồi, từ mấy hôm nay tôi đã thấy lác đác có người đi, du kích làm dữ nhưng người ta cũng tìm ra cách thoát. Sống gì nổi mà ở – người đàn ông thở dài quay người lại , giọng nhỏ như nói thầm – chỉ còn cánh đồng .. Chuyến vượt đồng nhọc nhằn và lo âu làm mọi người mệt nhoài nên đều tìm chỗ khô ráo ngồi xuống nghỉ chân, đôi chân nào bùn cũng lên đến 64/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày tận đầu gối, mấy trẻ nhỏ bùn đất nhem nhuốc cả trên mặt, trên đầu. Sau ít phút nghỉ ngơi, từng toán người kéo nhau đi về phía quận lỵ. Xế chiều Tư theo đơn vị trở về, tiếng trọng pháo bắt đầu nổ về phía bên kia sông. Khi đi ngang qua quán chị Năm, Tư nghe có tiếng gọi vội quay nhìn, thằng Ty từ trong quán chạy ra - Chị Lan bị thương ở chân...nằm trong trạm xá. - Tại sao? - Anh Hai về bắt chị đi theo, chị không nghe, dằng co mãi anh Hai nổi nóng chĩa súng bắn xuống đất, sau khi súng nổ, anh Hai vội vàng bỏ đi. Chờ tới sáng ba má đưa chi Lan lên đây... Tư không nói gì lặng lẽ bước theo đồng đội về trại ... 5 Chú Chín xếp cái bàn tròn lại cho gọn, bỏ những cái ghế đẩu vào bên trong rồi đứng nhìn mông ra hướng ngã ba sông mấy cái lều, mấy cái sạp không mái che bãi đất trống của khu chợ không còn một bóng người. Lùi lại bên này, khoảng đường rộng trước khu gia binh có mấy đứa nhỏ đang đá banh bằng một cái lon sắt, xa hơn cây cầu sơn trắng nổi bật giữa những lùm cây xanh và cỏ dại. Xa xa mấy ngọn dừa in trên nền trời đang dần dần tối đi. Từ khu gia binh có bóng mấy người lính đi về phía quận ly, chỉ trong chốc lát bóng họ đã mất hút... 1970 Cõi sóng lạnh Tôi bước qua khung cổng tre , hai chiếc cột xiêu vẹo, trời nhá nhem tối lờ mờ hình dáng những viên gạch không đều xếp thành hàng dưới mặt sân đất đưa từ cổng vào tới hiên nhà, trên sân còn những vũng nước nhỏ ánh lên, trận mưa từ bao giờ còn để lại, gian nhà nhỏ, hàng hiên thấp hẹp với mấy cột tre nhòa lẫn. Ngọn đèn nhỏ trong căn nhà, nơi gian giữa, cửa mở rộng. Trong ánh sáng vàng vọt, nhoa nhuếch tôi nhận thấy bác Tư ngồi nơi chiếc giường bên phía tay mặt, Thịnh nằm trên giường gối đầu về phía ngọn đèn nhỏ nơi bàn thờ, trên đó, bát hương có một nén đang cháy với đốm đỏ hồng. Bác Tư nhìn lên - Hưng hả ? 65/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày - Dạ. - Cháu về hồi nào ? - Con vừa về tới nhà, đi chuyến xe chót… - Con ngồi xuống đây. Tôi ngồi xuống bên, tiếng nói bác Tư nhẹ nhàng bình thản đủ cho tôi nghe trong không khí hoàn toàn im lặng của gian nhà. Chung quanh tôi không có gì đổi khác, vẫn là gian nhà những lần tôi trở lại, những lần ngồi tâm sự với Thịnh. Ba gian nhà nhỏ với mái và vách lá, những chiếc cột nhỏ khẳng khiu, chiếc bàn thờ sơ sài thường có những bông thọ, bông phượng khô héo được cắm vào những ngày rằm mồng một mỗi tháng, đôi khi là một đĩa trái cây, mỗi bên của ngôi nhà kê một chiếc giường, bên trái chiếc giường của Thịnh, nơi chúng tôi thường nằm với nhau còn có một giá sách đóng bằng những tấm ván thô sơ, nơi ấy Thịnh để đủ những thứ lặt vặt, từ những thư từ, những tờ báo và những cuốn vở thời còn đi học mà Thịnh vẫn lưu giữ, trên ngăn cao nhất có một khung ảnh lớn trong đó Thịnh để nhiều những tấm ảnh nhỏ hình Thịnh hồi đi học, hình gia đình, hình bè bạn, có những tấm hình đã ố vàng. Vẫn đây gian nhà cũ, thiếu chăng tiếng cười nói của Thịnh. - Thưa bác, người ta đưa Thịnh về hồi nào ? - Hồi quá trưa cháu, nó thật tệ, nào nó có nghe bác… Tiếng nói nhỏ như sợ đánh thức Thịnh trở dậy. Tôi nghĩ tới Mị, tới Thanh, những em của Thịnh, không hiểu chúng nó đi đâu, và nữa, những họ hàng và bà con trong ấp. Không khí chung quanh khiến tôi có cảm tưởng như nơi đây vẫn là cuộc sống thường nhật. Bác Tư đứng lên kéo tay tôi theo đến bên Thịnh. - Cháu coi, nó đang ngủ ngon đấy, ngủ ngon mà nghe lời bác nữa, thưở nhỏ nó ngủ thì nằm nghiêng hoặc co người, bác không chịu cho nó nằm như thế, nhưng cứ sửa lại cho nó đâu vào đó rồi thì nó lại nằm như cũ, bác vẫn nói nằm như vậy về sau không có khá được, nằm gì mà trông như con tôm khô không đẹp mắt chút nào, đứa nào yêu nó mà nhìn thấy nó thì cũng đến bỏ nó. Bác Tư nói nhỏ nhẹ đều đều, bác dừng lại mở tấm vải trắng ra, khuôn mặt Thịnh bình yên nhẹ nhàng. Tôi nhìn Thịnh nhìn bác Tư, tôi không biết có phải bác Tư đang mỉm cười hay không nhưng trong ánh sáng vàng tôi thấy khuôn mặt bác như hiền từ hẳn đi, khuôn mặt hôm nào tôi nhìn thấy khi chúng tôi trở lại nhà 66/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày sau nhiều ngày vắng mặt. Nét mặt tươi sáng lặng lẽ sau nhiều ngày dấu kín. Thịnh đã được đưa trở lại nhà. Bác Tư vạch nơi cạnh vai ra, luồn tay vào trong lớp áo. Giọng đều - Bác thấy còn dấu những vết đạn nơi này cháu, chắc còn nằm lại trong người, là người chứ mình đồng da sắt gì phải không cháu. Chắc là nó hài lòng lắm. Giọng nói như chợt đổi. Bác Tư phủ lại tấm vải lên mặt Thịnh rồi quay ra ngoài, tôi không nhìn thấy khuôn mặt, tôi chỉ thấy đôi vai bác như rung lên. Tôi đứng im. Lúc sau giọng bác Tư trở lại bình thường - Hôm rồi dì Ba trên Châu Đốc xuống mang cho ít mắm ruột, cả nhà đợi nó về, cháu có thích mắm không, mắm ruột Châu Đốc không đâu bằng, hồi trước mỗi năm lên núi Sam lễ bao giờ bác cũng nhớ món đó. Cháu có thích mắm không, có người không ăn được, có người lại thích… Bác Tư nói miên man sang những chuyện khác như quên Thịnh đang nằm bên. Ngọn đèn nhỏ không bị tắt, một cơn gió lùa vào trong gian nhà trống trải, tôi nhìn thấy những vũng nước lờ mờ ngoài sân đất, bên cạnh, tấm vải trắng nhờ nhờ trên người Thịnh. Bác Tư vẫn đứng im. - Bác định tháng tới này cưới vợ cho nó, cháu có về được không đó, con Điệp thương nó, nó cũng lớn rồi, bác thì muốn có cháu bế, cái thằng nó lông bông, ai đời hôm nó về dẫn nó qua bên nhà ông bà sui nó cười nói như ở nhà, nó sục cả vào bếp nhà người ta, rồi khi nói chuyện gia đình, nó bảo với ông già con Điệp là lấy lính bây giờ không biết thế nào, nay sống mai chết nên nó không tính lấy vợ, trời ơi, cháu ngó coi vậy có kỳ không. Nó ngồi nói đủ thứ chuyện với ông già, nó nói cả những chuyện tầm phào giữa những bạn bè lính tráng của nó rồi nó cười hô hố… cái thằng nó… Bác Tư quay trở lại nơi bàn thờ, sờ tay lên mép lấy hộp quẹt và bật lửa, ánh lửa bùng sáng, bác Tư châm lửa vào ngọn đèn, vứt cây quẹt xuống nền đất, đốm lửa đỏ lẻ loi, bác Tư bỏ hộp quẹt trở lại chỗ cũ. Thịnh cười hắc hắc một cách khoái trá, nó nói một cách nghiêm trang khi nhìn tôi chăm chăm Cậu có nghĩ rằng người đang nói đây là một con ma không, nó chết rồi mà, thật đó khi đứng trước gương cậu không thấy hình của ta ở trong gương đâu. Một cảm giác rờn rợn đến với tôi. Tôi đưa tay ra cầm lấy tay Thịnh, cái thằng thật là đùa rỡn, vẫn lớp lông tay mềm, vẫn hơi nóng. Thịnh gặp lại tôi trong thời gian dưỡng thương. Trước đó một tháng tôi trở về, bàn thờ của Thịnh còn khói hương, bác Tư khóc hai mắt còn sưng húp. Một buổi sáng chiếc xe vận tải trở về tìm kiếm và đậu trước nhà Thịnh, những ngưới lính nói với bác Tư, Thịnh đã tử trận, rồi họ cùng nhau khiêng chiếc quan tài bọc kẽm phủ quốc kỳ vào trong nhà, cùng với 67/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày chiếc gối trên đó có gắn một cái huy chương, một vòng hoa đã héo được làm bằng những vòng kẽm gai, phía trên cài hoa, vòng hoa của những người lính cùng đơn vị Thịnh làm cho. Hàng xóm bu lại chua buồn. Bác Tư ôm quan tài khóc, kể những lời ai oán về đứa con bạc phước. Tôi thấy mình chao đi chao lại với cái chết của người bạn thân mà chính tôi không ngờ tới. Nhưng sau đó Thịnh trở về với vết thương nơi chân mặt. Trở lại nhà nhìn thấy ảnh mình trên bàn thờ nó cười ngất. Thịnh không chết. Thịnh bị thương nơi mặt trận, giữa vô số những người chết tan xác Thịnh còn sống trong cơn hôn mê một chiếc trực thăng đã đưa Thịnh tới một chiến hạm ngoài khơi, và Thịnh tỉnh lại trong một gian phòng xa lạ và những người không gặp một lần. Thịnh nói lại những ý nghĩ của mình Không hiểu mình đã tới từ bao giờ; mãi sau trong trí nhớ trận đánh mới đến và Thịnh cảm thấy mình cô quạnh với những nhớ mong ngày trở về mái nhà xưa. Ba tháng sau Thịnh có mặt trong gia đình giữa những ngỡ ngàng cảm động. Vậy ai chết trong quan tài bọc kẽm đó. Thịnh nói Cậu thử tưởng chuyện cậu bị cúng bái, bị làm ma chay rồi, một phần mình đối với những người thân là đã bỏ vào một cái áo quan mà chôn xuống ba thước đất, rồi những ông thầy pháp làm trò này khác, còn gọi hồn gọi vía mình nữa… thật là lạ. Mình sống mà đã chết rồi, có lẽ là từ tiền kiếp gì đó. Sống mà đã chết, bọn mình thế cả, nghĩ mà khiếp… Ba lần coi như khó sống, một lần được làm ma, nhiều lần bác Tư vào nhà thương với hy vọng đứa con trai bị mất đi một cánh tay, một cái chân gì đó cho nó khỏi phải trở ra mặt trận. Bác Tư mong có một đứa con bị cụt, bị què gì đó nhưng sống lại bên mình. Thịnh nói Bà cụ vào tới nơi thấy mình nằm ngay đơ với một bên chân bó bột thì khóc, nhưng ngay đó hỏi bị thương ở đâu con, mình nói nơi chân, bà cụ hết khóc hỏi một cách vội vàng như mừng rỡ, có bị cưa không con, mình nói không, bị gãy nhẹ thôi. Bà cụ mình im lặng không hỏi nữa. Lúc đó mình thấy nôn nao cả lòng. Mình hiểu bà cụ đang nghĩ gì Bà mong cho mình không thể đi đánh nhau được nữa. Thịnh trầm xuống Tao muốn chết cho rồi. Bọn mình ở những lựa chọn khắc nghiệt, chẳng ra thế nào… Giọng Thịnh chùng thấp buồn bã, ở trong những ngày sôi sục lửa bỏng với Thịnh những giây phút rã rời. Thịnh nói Hồi xưa có lẽ người ta sung sướng hơn bọn mình, đời sống đơn giản phải trái phân biệt, trắng đen rõ ràng, cái nền tảng phán xét không có gì phải nghi ngờ. Sướng thật. Nay thì không rồi nhỉ, chuyện gì cũng có thể biện minh. Ăn cướp, hiếp dâm, giết người cũng có những lý lẽ của nó… Thôi không nói nữa, thảm quá. Chỉ tội bà má. Ở những thời buổi khác, cha mẹ mong cho con cái thành tài, khỏe mạnh, nào đâu bây giờ, mong cho con bị cụt chân cụt tay mà ở lại bên mình, làm một tên què có lẽ lại xong, nhưng số mình không què, chắc là chết non, kể cũng là một thứ ma chê 68/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày quỷ hờn ghê lắm bọn mình mới còn sống đấy nhỉ, nếu không thì có lẽ cũng đã thành bụi cả rồi… Bác Tư đi ra cửa, tiếng dép kéo lê buồn chậm, tới hiên bác dừng lại như nhớ tới tôi - Cháu xuống dưới này ăn cơm với bác. Giọng nói ngọt nhẹ, tôi bước ra khỏi nhà, bác Tư đi xuống nhà ngang, gian nhà đầy ánh sáng, mâm cơm để trên chiếc bàn nhỏ giữa nhà phủ tấm khăn nhựa đỏ với những ô vuông, bác Tư mở chiếc tủ ăn nhỏ lấy thêm chén đũa rồi ngồi vào ghế, bác nhẹ nhàng im lặng xới cơm ra chén cho tôi - Ăn với bác chén cơm cho vui, Thịnh nó ít muốn bị quấy rầy, nó đang ngủ thì đừng khua nó dậy, nó ngủ cho đã thì trở dậy kiếm ăn, cái thằng nó chẳng bao giờ chịu để cho ai chìu chuộng, ai lấy nó thiệt phước…, thịt kho nước dừa đấy cháu, Thịnh nó ưa món đó lắm… Tôi bưng chén cơm ăn, tôi thấy gai lên với một cảm giác ớn lạnh. Có thật Thịnh đã chết ? Buổi chiều xuống, hai chúng tôi dời nhà đi dọc theo bờ kênh đào, con kênh rộng như một dòng sông nhỏ, qua cây cầu chúng tôi ngừng lại trước trường tiểu học, Thịnh đi xuống mé kênh, trèo lên một thân cây dừa đổ ngồi lên, thả chân xuống dòng nước, ngôi trường học là một dãy nhà ngói thấp nằm mãi sâu trong, bỏ lại phía ngoài khoảng sân đất rộng với những khoảng cỏ mọc không đều, trên đó những lối đi mòn, chiếc trống treo nơi cuối dãy hiên dài, tất cả đều vắng lặng, sân trường cách với con đường đất bởi một con lạch nhỏ trên đó đọt cỏ cao vòng hẳn lên, Thịnh lấy thuốc ra hút, Thịnh nói tới những ngày nhỏ học tại ngôi trường thân yêu này Mau thiệt, mới hồi nào đùa nghịch, chơi rỡn, mới ngày nào mới cao hơn mấy đọt cỏ, thế mà bây giờ bọn mình đã thành người lớn, cầm súng, đánh nhau và vô số những chuyện tầm phào chẳng ra thế nào. Có hôm hành quân vào một làng nhỏ, mình đứng dưới một gốc ổi hái một trái ổi nhỏ vừa chín bỏ vào miệng, thật là tuyêt diệu, mình sung sướng chảy nước mắt, những ngày thơ ấu nơi quê hương, hái một chiếc lá ổi vò nát trong lòng tay, mùi thơm tha thiết mộc mạc… Thịnh chỉ sang những ngọn dừa cao phía bên kia con kênh hồi xưa những ngọn dừa còn thấp, bọn này tước những chiếc lá dừa non tết thành con châu chấu, tết những cái kèn, mới đó mà đã xa mù. Bác Tư chợt òa khóc, bát cơm cầm trên tay, hai tay run lên, tiếng khóc tấm tức, bác phải bỏ bác cơm xuống hai tay ôm mặt, chừng như tiếng khóc bị giữ kín lại khiến hai vai bác Tư rung lên từng nhịp liên tiếp. Tôi muốn nói vài lời an ủi nhưng tôi không biết nói sao. Lúc sau bác Tư kéo vạt áo lau mắt rồi bưng cơm ăn tiếp. Tôi nghe thấy tiếng những con muỗi bay vo ve. 69/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày Quả là cái số tao. Này, mày thấy không, thời mình đâu phải không có những anh hùng, thế mà chẳng ai chịu nói tới những anh hùng ấy, mới đầu tao nghĩ mãi về điều đó, sau rồi tao mới thấy là có lẽ thời mình không có anh hùng với mọi người, chỉ có những anh hùng một mình, không có những anh hùng cho người khác, thời buổi của cuộc chiến này như một cái gì kỳ cục, tạo nên những anh hùng buồn rầu, ngơ ngác và không ai muốn ca tụng hay nói đến. Mà ai còn lòng dạ đâu dể mà muốn trở thành anh hùng, toàn là những anh hùng bất đắc dĩ, nghĩ mà thảm. Mình cũng là kẻ anh hùng đấy chứ. Thịnh cười vang lên, tiếng cười như lan theo với dòng nước của mặt kênh đào phẳng lặng. Mình mong sống sót sau cuộc chiếc này, nhưng nếu thế cũng thảm thiết không kém, khi ấy mình chẳng còn bạn bè, chẳng còn những người thân thiết đã chia sẻ với mình những gì đã trải qua, và thật là bất hạnh cho ai còn sống, phải vậy không ? Nghĩ mãi thì đến phát điên lên được. Thịnh vụt đứng lên thân cây dừa và lao mình xuống lòng kênh, tiếng nước vang động và Thịnh mất tăm trong lòng kênh. Tôi kêu lên Thịnh, Thịnh… không có tiếng đáp lại, lúc lâu Thịnh nhô đấu lên mãi đằng xa nhìn tôi, hai tay vuốt nước trên mặt và cười vang động Hóa sức mình cũng còn mạnh gớm đấy nhỉ, cũng bơi đi được một quãng xa. Tôi nói Ta tưởng cậu định tự tử. Thịnh cười Định tự tử nhưng chót rồi quên không mang theo thẻ căn cước – tiếng cười ngạo nghễ – cậu tưởng tự tử dễ lắm hả ? Thịnh bơi trở lại chỗ tôi ngang qua cây dừa rồi tiếp tục bơi nữa về phía gần cửa nhà, tôi đi trên bờ theo với Thịnh, về tới gần nhà Thịnh mới bơi vào bờ rồi lên đi bên tôi với quần áo ướt sũng, nước nhỏ giọt theo với bước đi. Tôi trông Thịnh nhợt nhạt như một người sắp chết. Thịnh kêu Lạnh quá, cho điếu thuốc đi. Tôi châm cho Thịnh điếu thuốc để lên môi. Chúng tôi trở lại nhà không nói điều gì. Bác Tư đã trở lại bình lặng xếp những chén bát lên kệ rồi bác trở lại bên tôi - Cái con Mị nó điên rồi, cháu biết không, nó kêu lên là anh Thịnh chết rồi, nó điên thật mà, nó khóc, nó kêu than như mụ điên vậy, bác bảo sao nó cũng không im cho thằng Thịnh nó ngủ, bác đã nhốt lại ở trong chiếc tủ rồi, mình xuống xem nó đã hết điên chưa. Thịnh nó thương các em nó hết sức, nó chìu em nó đến bác cũng bực mình. Bác Tư dắt tay tôi lên buồng, tôi nghe tiếng khóc tấm tức ở đâu đó vang lên cùng với tiếng kêu anh Thịnh ơi, anh Thịnh ơi, sao anh bỏ các em… Đứng trước cửa buồng tôi nghe rõ tiếng Mị kêu khóc. Bác Tư gắt lên - Con nhỏ này mày không im đi hả, im cho anh mà ngủ. Bác tư mở cửa buồng ra, tôi giật mình nhìn thấy con heo trắng lớn thò đầu ra. Tôi xuýt kêu lên thành tiếng. Bác Tư đóng cửa lại đi sang phòng 70/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày bên cạnh - Bác nhốt con Mị bên này. Cánh cửa mở ra, bác Tư bước vào, tôi đi theo, Mị ngồi nơi chiếc giường nhỏ đang ôm mặt khóc, tiếng khóc nhỏ nghẹn ngào. Tôi đến bên - Em nín đi… Mị ngẩng mặt nhòe nước mắt nhìn tôi ngỡ ngàng - Anh Thịnh chết rồi anh ơi… Bác Tư giọng nghiêm khắc - Cái con khỉ này, im cho anh mày ngủ… Bác Tư cầm ngọn đèn đi ra, tôi dắt Mị đi theo. Cơn gió nhẹ làm ngọn đèn bốc cao rồi phụt tắt bỏ lại chúng tôi trong bóng tối bít bùng. Chúng tôi mất nhau. Tôi cầm lấy cổ tay Mị lạnh ngắt. Tôi nghĩ tới cõi âm của đời sống Thịnh… 1970 Đôi mắt Tôi đếm rõ ràng trên mặt đường sỏi trắng có bốn cánh lá màu vàng úa, một cánh khô bị rách nhiều mảnh như sâu đã ăn đi từ lúc còn ở trên cành, chiếc lá sau cùng mới hơi úa một chút phía ngọn và cuống lá còn gắn vào chiếc cành nhỏ màu nâu dài hơn gang tay. Chiếc lá này chưa đáng rụng khỏi cành, ít ra nó còn có thể chịu đựng có khi vài ba ngày nữa, và biết đâu có khi nó khô luôn ở trên cành vì nó đâu phải lá già mà rụng xuống – “ Sao lá xanh lại rụng trước lá già, con chết đi ai khóc và chôn cất mẹ.” Hai con mắt mở thao láo đỏ như rớm máu. Sao chiếc lá xanh kia đã rơi theo chiếc cành, cơn gió nào đã thổi qua. Không có cơn gió nào từ lúc đó tới giờ. Một con chim sâu màu hạt dẻ, hai móng chân màu chì đã đậu xuống vì một con sâu xanh. Con sâu cuối cùng của cây bàng, con sâu không kiếm tìm ra được một chiếc lá xanh, một búp non của những cành cây mùa thu. Con chim đậu xuống và chiếc cành rơi mang theo cánh lá mà cuống còn đủ nhựa sống chưa rời rã. Ai rồi không chết. Con chim hốt hoảng kêu thành tiếng rồi cố sức liệng lấy sức bay lên một cành khô ngó xuống ngỡ ngàng, không còn một cánh lá. Tôi tìm kiếm trên làn sỏi bóng dáng một con sâu bị văng ra đó. Nó còn sống được chăng. Nó bò đi đâu. Nó bị dập không. Có đàn kiến vàng nào đã tìm ra một kho lương thực đặc biệt. Con sâu màu xanh, màu nâu, màu đen, màu vàng lông sù như chiếc áo len Quyên mặc 71/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày vào mùa đông ấp cao lên quá cổ. Quyên tươi cười không tiếng động, đôi má lúm đồng tiền, đôi mắt to đen và những đợt lông tơ mướt trên làn má hồng ửng. Không thể có một con sâu. Chiếc lá lay động, vẻ kiêu ngạo của một ngọn cỏ may vào mùa đông. Trong một khu rừng lá chưa bao giờ rụng hết một lần ở trong đó còn nhiều cành lá xanh. Bốn mươi tuổi, một người cha bảy mươi tuổi, cánh lá là đứa con kia vẫn mang nghĩa một cánh lá xanh. Tại sao đã chết ? Mỗi người đều chết. Trong đám tang, một người chín mươi, đứa chắt chít khăn vàng đi chân đất nhảy choi choi cười. Không bao giờ có tiếng khóc cho tuổi già. Có những người chết đi không ai khóc, ở đó có niềm vui. “ Ai khóc và chôn cất mẹ, con ơi !” Tiếng kêu ngân lên vang dội, dật dờ, va đi va lại vào những bức tường thực tại rồi cuống quít trà trộn, tràn lan… những giọt nước mắt ứa xuống. “ Ai khóc và chôn cất mẹ, con ơi.” Thêm hai cánh lá vừa rụng xuống lặng lẽ, cánh lá xanh vẫn lay động. Một cơn bão sẽ đến chẳng hạn. Thân cây mục khô của mùa hè trước được hạ xuống làm ghế ngồi vẫn nằm im nếu bây giờ động nó, đi ra nơi khác có khi gãy ra từng khúc. Thân thể đã khô cứng ướt đẫm nước sông. Từ bên kia bờ đê chú Tâm vác trên vai xác người anh ruột từ sông Cái trở về, bộ quấn áo màu nâu còn ướt sũng nước thấm xuống người em ướt từ vai xuống tới chân như vừa lội dưới ao lên. Chiếc xác đã cứng đơ như khúc gỗ. Chú Tâm tĩnh táo đi về một cách thông thả và chắc chắn, đôi mắt đỏ khô ráo, mọi người đứng lại mở mắt nhìn ngạc nhiên. Chú qua cổng đi vào nhà đặt xác người anh xuống ngay chiếc sập gụ “ Anh ấy chết rồi.” Chết rồi, chết thực rồi. Thân gỗ không còn động đậy. Tôi chạy đến kêu lên “Bố ơi, bố ơi”. Rồi tôi bỏ chạy ra một khoảng ôm lấy chiếc cột nhà. Nước từ bộ quần áo vẫn rỉ ra loang trên mặt gỗ như một thứ máu đen. Tóc rối bù, hai mắt trợn, chú Tâm để người anh nằm giữa sập kéo hai chân ruỗi ra .Chú giữ lấy mạn sườn đẩy cho xác chết nằm nghiêng và thò tay cởi sợi dây thừng, chiếc dây thừng buộc trâu mỗi ngày tôi vẫn thường cầm để dắt trâu ra sông tắm, thứ thừng cuộn tròn lại làm một thứ bàn chải đủ cho làn da đen của con trâu kéo mật bóng lên. Chúng đã buộc chéo hai tay bố tôi bằng thứ thừng chắc chắn đó. Chú Tâm loay hoay mãi vẫn không sao gỡ được thắt nút. Chú kêu lên “Kiếm cho con dao đây”. Với mũi nhọn chú Tâm lách mũi và cắt đứt sợi thừng một cách khó khăn. Chú cầm sợi thừng bị đứt làm nhiều đoạn vứt ra ngoài sân, con chó vàng ở đâu nhảy sổ ra vồ rồi cắp chạy.. Hai cổ tay bắt chéo chừng như đã cứng vẫn nằm nguyên, chú kéo cánh tay trái ra, lật xác trở lại và kéo nốt cánh tay phải để lên bụng. Cánh tay như một que củi, chú cố vuốt và uốn cho cánh tay nằm trên bụng và ở trên nhau. Bây giờ tôi nhìn rõ hơn hai đường hằn bầm tím trên cổ tay đã đen, lõm vào trong thịt và làm mất cả một làn da đen. Một người bị treo lên cành cây đu đi đu lại với những chiếc roi quất ngang và thân hình oằn lên, hai chân dãy đạp vào không khí, chiếc đầu ngoẹo đi ngoẹo lại cà tiếng 72/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày la thét trở thành rên rỉ rồi rũ ra như một con sâu. Chúng nó đã làm như vậy sao ? Một cơn gió thổi mạnh, nhựng cánh lá bị thổi bay lên cùng ít bụi đất, cơn gió mang những cánh lá dạt vào thân cây khô. Cánh lá xanh còn ở lại đó. Chiếc cành nhỏ chỉ nghiêng đi một chút và cánh lá nằm xuống mặt sỏi không còn động đậy. Sao không có ai tới thăm giờ này, rủ mình đi dạo một chút trong khu bệnh viện và những câu chuyện rất riêng tư về vợ con, anh em họ, hoặc một câu chuyện vui mà ai cũng có để kể cho những người bệnh nghe rồi cười như cuộc sống có rất nhiều hạnh phúc mà ai nấy cùng được hưởng. Đứa con gái của Nhâm đã tám tuổi, nó biết đòi mẹ nó đánh móng tay đỏ, chải đầu thắt nơ xuống mái tóc ngắn xõa, đòi xức nước hoa và mặc chiếc váy xòe trắng mỏng có thêu một con nai màu xanh đứng bên một cụm hoa nhỏ màu vàng, những hoa tròn lớn thật rực rỡ ở đó có một con bướm xòe cánh đậu. Tên cháu là gì nhỉ. Nhâm cười cười, thế là mình không làm sui gia với hắn được rồi. Có khi bây giờ Nhâm còn bận lắm, Nhâm đang cầm tay đứa nhỏ bắt viết trên cuốn tập đồ nếu không hắn sẽ vào đây và như thường lệ hỏi cậu có ngủ ngon không, hôm nay ăn được mấy chén cơm, cô y tá hôm nay có đánh phấn không ? Bây giờ có được một chiếc ghế dựa đong đưa để dưới bồn cỏ kia, một chiếc bàn con với ấm trà nóng…mình sẽ nghe tiếng nói một người rất quen nói, chốc chốc ngừng lại nhấm trà xuýt xoa vì nóng và khen một câu bâng quơ trời đẹp quá, nước hôm nay mới đúng để uống trà đây, thiếu mất một thỏi kẹo lạc với những mảnh lạc màu nâu bóng nhẫy vì lớp đường. Một màu nâu không có ở thân gỗ, sao thân gỗ với lớp vỏ mốc vẫn chưa rã ra. Chú Tâm kêu lên “Dã man”. Dã man là thế nào. Chết mất rồi, bà nội ôm chầm lấy xác người con cả mà khóc, mà la, rồi khóc không được, tiếng nói đã biến mất chỉ còn lại một giọng khàn khàn, và miệng méo sẹo trên khuôn mặt nhăn nhúm như một mớ giẻ rách lâu ngày trong chiếc bị, những giẻ rách được cất đi từ trong những chiếc áo chiếc quần tơi tả không còn miếng nào bằng được bàn tay, nhưng nó vẫn được lưu giữ để lâu lâu lôi ra và tìm kiếm khắp lượt lựa lấy miếng nào còn lớn nhất trong đám đó. Khuôn mặt nhăn nhúm căng ra rồi co lại và môt âm thanh phều phào ướt át. Chú Tâm phải kêu lên mang bà nội ra gian bên. Chú kiếm chiếc gối mây cũ để lên đều xác chết, vuốt mớ tóc ngược về phía sau một cách phẳng phiu, chú xoay trần lấy áo lau khuôn mặt nhợt nhạt, chú lau cả xuống cổ. Khuôn mặt tái xanh đôi mắt trợn ngược như một pho tượng đá. Chú đưa tay vuốt mắt lại khi chú buông tay ra thì máu tím ở trong mắt ứa ra ràn rụa, đôi mắt vẫn chưa chịu nhắm, chú vuốt lại và giữ tay lại đó một lúc, chừng như máu ứa ra đã đọng lại gắn đôi mi mắt lại với nhau và khuôn mặt trở thành hiền từ. làn máu chảy xuống đọng thành hai hàng dài bên sống mũi như hai con giun đất đã bị kiến đốt chết không còn oằn oại. 73/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày Bà nội mang từ buồng bên ra một tờ giấy bản, chiếc đũa mộc, bà đổ vào tay chú Tâm mấy đồng tiền trinh. Chú Tâm đưa tay cạy hàm răng ra, nước trắng ứa tràn xuống cổ, chú nghiêng đầu cho nước chảy xuống mặt ghế, nước trắng ra hết, sau cùng là một vốc bùn đen với dãi nhớt, chú Tâm còn moi ra cả một mớ cỏ rác. Chú lau miệng rồi bỏ mấy đồng trinh vào đó, hai hàm răng cứng chú banh ra và ngáng chiếc đũa mộc vào. Chú quay ra bảo “Cháu nhìn mặt bố đi.” Bố tôi với khuôn mặt sáp trắng bệch, mắt nhắm nghiền như ngủ, và hai hàm răng cắn lấy chiếc đũa chắn ngang không động đậy. Rồi tờ giấy bản trắng được phủ lên … Chú tôi đứng lên, đôi mắt đỏ và khô ráo, bỗng chú lại cúi xuống, nghiêng người nhìn xuống mang tai bố tôi, chú đưa tay sờ vào đó rồi kêu lên “ Chưa hết, chưa hết, một chiếc đinh nữa đây”. Chú đứng thẳng lên nói lẩm bẩm “Dã man, dã man, đồ chó má…” Tôi đứng lại gần và đưa tay vào làn da lạnh, dưới lỗ tai một chút tôi sờ thấy rõ mũ một chiếc đinh mười phân còn trồi ra đó. Bố tôi không kêu thành tiếng, ngậm miệng với mớ cỏ rác trong họng, nhắm mắt với búng máu ứa, tay chắp với sợi thừng buộc trâu không cựa và chết với chiếc đinh mười phân đóng sâu vào đầu. Một thân gỗ với nhiều vết đinh, với nhiều làn đạn, với gió bão đã đủ để gục chưa ? Tôi nhìn chú Tâm một lúc, sao không thể nhổ chiếc đinh này ra xem có phải là mười phân không, nhổ ra bố tôi có thức dậy và ông sẽ cười nói. Câu chuyện của một người trong đêm kia có một toán người lạ mặt đến dẫn qua một con đường rất lạ, để đi đến một bờ sông rộng, tối đen không nhìn thấy bờ bên kia, mọi người đứng lại ở một bến đò chen chúc, không khí gây lạnh, rồi ngưới đó không được sang sông, bị đuổi về. Mỗi thế giới cách nhau một bờ sông đen. Nếu đã sang bên kia dòng sông. Chắc bố sẽ cười lớn và kêu “ Thật chiêm bao”. Rồi tôi đến bên một bờ sông đen và xuống thuyền không quay trở lại nữa. Vị bác sĩ thường trực hôm nay là người trẻ nhất của bệnh viện này, ông đang đi từ phía cầu thang lên, có cả cô y tá với chiếc răng khểnh, không rõ cô tên gì. Tôi muốn nhớ lại, và nhớ thật lâu tên cô, nhớ không bao giờ quên. Hai người đang đi vào sân thăm các bệnh nhân. Người gác cửa đang đi bách bộ nơi cổng sắt, ông ta nhìn thấy mình rồi đó, ông ra dấu cái gì, sao ông chỉ chỏ chi vậy, à ông ta báo cho mình về việc vị bác sĩ thăm bệnh nhân. Tôi gật đầu liên tiếp mấy cái. Cổ họng tôi ngứa và muốn bật ho. Tôi ứa nước mắt. Sẩm tối hôm đó có bốn người lạ đến, bằng đường tắt, nhảy qua hàng rào gai. Bố tôi đang ăn cơm, ông ngồi lặng thinh, ông nói gì đó với mấy người, ông có vẻ bực bội, phản đối, nhưng sau cùng cầm lấy 74/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày chiếc tăm và theo họ đi ra bằng cổng xép. Tôi chẳng hiểu bố tôi đã đi tới đâu, sau đó ông thế nào suốt trong một tuần lễ và sau chót với xác chết của ông nằm trên một bờ sông. Họ đã làm gì với bố tôi trong suốt tuần lễ. Sau này tôi mơ hồ được rõ bố tôi ở về phía những người chống lại họ. Sao bố tôi không theo họ để phải nhận một chiếc đinh lớn cỡ đó. Thật không thể nào hiểu được. Trên chiếc xập đó chú Tâm đã mặc cho bố tôi chiếc áo dài the tươm tất, đội khăn xép. Và cỗ ghế ngựa được phá ra đóng chiếc quan tài. Chiếc quan tài đóng vội bằng chiếc đinh lớn cỡ chiếc đinh đóng vào đầu bố tôi, với thớ gỗ sù sì bố tôi được bỏ vào đó và đậy kín. Bà tôi khóc vật vã, chú tôi lầm lì. Bố tôi được chôn ngay gần với chỗ mẹ tôi đã được chôn cách đó hơn một năm, đám ma mẹ tôi khác hẳn, mẹ tôi chết sau khi ở rừng về, bị sốt rét không có thuốc. Chiếc quan tài sơn đỏ mua dưới chợ, chiếc áo quan mỏng mảnh nhưng đẹp đẽ hơn và được đặt lên vai bốn người đàn ông. Bố tôi được khiêng với những sợi thừng lớn trên hai chiếc đòn ống… Những hòn đất khô rất lớn đã được đổ xuống huyệt một cách vội vàng làm át đi tiếng khóc yếu ớt của bà tôi. Và mãi khi đó tôi mới khóc vì biết bố chết thật, ông không bao giờ còn nói cười nữa. Mỗi người đều chết. Khi mẹ tôi sắp chết, mẹ tôi gọi tôi đến bên không nói gì rồi tắt thở. Nay bố tôi chết cũng không nói lại điều gì. Mọi người đều lặng lẽ. Sao họ giết ông. Họ là ai vậy, họ mang quyền lực gì. Họ thử đến cho tôi nhớ mặt. Tôi không biết ai. Tiếng huýt sáo của người gác cổng, tiếng chân của vị bác sĩ và cô y tá. Tôi quay lại và mỉm cười. - Hôm nay ông thấy thế nào, có khá không ? - Cám ơn bác sĩ. - Sao ông không nằm nghỉ cho khỏe ? - Chắc ông mong người nhà – lời cô y tá – . Hôm nay không có ai vào thăm sao. Hết giờ rồi không ai vào nữa đâu, ông nên nghỉ. Tối nay có một nhạc sĩ ngoại quốc sẽ đến đây trình bày sau bữa cơm giúp vui cho các bệnh nhân. Tôi chắc ông sẽ thích. - Vâng ông đừng buồn, ông phải yên tâm mới mau lành được. - Tôi sắp chết. - Không đâu, ông cứ yên tâm, bệnh gì cũng có thể chạy chữa được hết, rồi ông coi. Trước hết phải ở ông đã. Ông nên vào nghỉ, tôi đi thăm bệnh nhân nghe. Cô y tá mỉm cười, vị bác sĩ đã bước nhanh. - Ông muốn tôi dẫn đi dạo không. 75/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày - Cám ơn cô, không. - Chắc cô bạn của ông bận việc gì. Mỗi người nằm trên một chiếc giường sắt có phủ vải trắng, một chiếc màn, mỗi đầu giường treo một chiếc bảng ghi chép những con số, bốn bức tường xanh, mỗi người nằm ngửa thở ra với lồng ngực lên xuống đều đặn, rồi có người bước ra cổng sắt, có người được khiêng xuống nhà xác mãi góc vườn phía xa sát bờ tường và được bỏ vào quan tài. Cơn gió lớn ở đâu thổi ngược trở lại, mấy chiếc lá lại bay tung ra ngòai mặt sỏi, chiếc lá xanh lại dựng cao lên và lay đông. Quyên lấp ló ngoài cửa phòng và tủm tỉm cười trong không khí gây lạnh và màu sắc nhợt nhạt. Một căn nhà nhỏ với mảnh vườn có trồng cây vú sữa. – Em hãy đừng đến đây nữa. Anh không yêu em đâu. Bây giờ đã quá giờ tan học chưa, có lẽ bây giờ Quyên còn đang trên đường trở về, nàng đã tới ngõ, đẩy cửa, chiếc cửa ai cài then vậy, nàng cầm nón và cặp sách sang tay trái, tay phải luồn vào trong mở then rồi đẩy ra, vào tới lối đi nàng khép cửa lại. Nàng nhảy choi choi trên bậc cửa, vào nhà liệng bỏ cặp vào bàn cầm nón xuống dưới, tiếng nói của mẹ và con rồi nàng cởi áo dài, hai cánh tay trắng nõn tròn trặn và đôi vai nhỏ. Chiếc cổ với những sợi tóc dài quấn ngang. Thân thể nàng nhòa dần và tan vào bóng tối. Anh không yêu em, không yêu em nữa. Bóng tối trở xuống làm nhòa tan những chiếc lá, lớp sỏi trắng trên nền sân đã mờ đi. Tôi leo người ngồi lên bao lơn dựa vào chiếc cột gạch. Ngọn đèn dầu soi rõ khuôn mặt Lịch, người bạn độc nhất nhớ tôi đến thăm lần cuối trước khi lên đường đi giữ một đồn ở ngoài biên giới. Khi vừa gặp hắn văng tục. À lâu quá tôi không được nghe ai văng tục nữa - Bạn bè đứa nào cũng khá cả, chỉ có cậu là tồi, ngần ấy năm cậu làm được gì. Mấy cuốn sách nát, một mớ ý nghĩ lộn xộn trong đầu rồi đi đến đâu ? - Chết. - Không tưởng, không tưởng… - Cậu tưởng tượng hộ tôi khi cậu bị một chiếc đinh đóng vào đầu chẳng hạn, hay một mũi tên ghim vào ngực chẳng hạn, khi đó cậu nói với tôi thế nào. - Nói khỉ gì nữa. - Cho nên tôi hỏng. 76/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày - Tiếng súng ở đâu vọng về có lúc tôi nghe tiếng súng nổ trong óc tôi, trong đầu tôi giữa đêm thanh vắng. Tôi biết chắc chung quanh không có tiếng súng nào, một đôi khi nhưng tôi vẫn nghe thấy tiếng súng, và cả một mớ lửa cũng đốt lên nữa, ngọn lửa mà không có gì làm tắt đi được. Trong lửa đỏ tôi nghe tiếng cười và đầu óc loãng tan. Tôi muốn có một con dao tiện lấy cổ mình một cách ngọt ngào, tôi để đầu xuống mặt bàn rồi bửa ra làm hai mảnh để tôi dò tìm dấu vết của viên đạn, của mũi đinh, của một tàn lửa, nhưng chừng như trong khối óc tôi chỉ thấy toàn sạn đen lổn nhổn, những sạn đen không đủ để làm một viên đá kỳ lưng sau khi trộn với xi- măng. Đó là điều làm tôi buồn. Tại sao trong đầu mình lại không có một quả ô mai mặn để mình ngậm ho. Lịch dẫn tôi về thăm gia đình, bố mẹ đều già, ông cụ tóc đã hoa râm vẫn còn đi làm, bà cụ trông nom nhà cửa, hắn có hai người em gái, vợ hắn có một khuôn mặt tròn, má có gò cao và nước da ngăm đen, tiếng cười rất giòn. Đứa con đầu lòng là trai mới được hai tháng còn để trong chiếc nôi mây có phủ màn trắng, đứa nhỏ ôm trên ngực bình sữa đã cạn và nhắm mắt ngủ. Lịch bảo - Con mình nó kỳ lắm, bỏ chai sữa ra nó khóc và thức dậy đó. Cậu trông nó thế nào ? - Giống cậu. - Con mà không giống bố còn giống ai ? Và tôi cũng sẽ bị đóng một cây đinh vào đầu, nước lan trên mặt sập, mắt ứa máu, một mũi tên đen bay đến cắm vào ngực tôi rất sâu không sao rút ra được. Cây bàng trơ lá mọc thêm những cánh tay khô, một kẻ nào đó mang búa rìu đến hạ xuống. Lịch bực tức - Cậu đã sống ngần ấy năm ra sao ? - Không nhớ được. - Bây giờ ? - Sắp chết. Tôi nhói nơi ngực và ho, cô y tá trở lại, tôi nhìn ra môt người trắng toát. Cô đưa tay đỡ tôi xuống và dẫn vào giường. - Ông không thấy hôm nay gió nhiều sao, ông nghỉ một chút, ăn cơm, tôi sẽ tới dẫn ông cuống nghe âm nhạc, ông nhạc sĩ này còn làm cả trò hài 77/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày hước nữa. Tôi nằm xuống, tôi nghĩ đến một căn nhà, những người chừng như tôi chưa gặp bao giờ. Những chiếc đinh. Những thân cây. Những chiếc lá vàng bay rồi rơi vào một miệng hầm đào vội. Tiếng ồn ào đang vang dội từ dưới hội trường của bệnh viện. Những màu trắng ngồi dậy, đứng lên và bước đi lờ đờ. Tiếng chân bước mơ hồ. Một cánh tay trần màu sáp hồng, một đứa nhỏ mặc áo rộng có hoa đỏ với con nai con. Đã bao nhiêu năm, đã đi qua những đâu, sống thế nào, gặp ai, người khóc, cười, tiếng súng…không nhớ nữa. Một bóng trắng tiến tới - Ông vẫn chưa ăn sao, tôi giúp ông nhé, người nhạc sĩ tới rồi, ông ta vừa gảy đàn vừa hát, vui lắm, ông xuống không. Họ xuống hết cả rồi. Tôi trở dậy theo cô y tá xuống thang gác. Trong phòng đầy người. Người nhạc sĩ đang gảy đàn, mặt nhăn nhó… Tiếng vỗ tay. Tôi cầm tay một người ngồi bên hỏi - Anh ta đang làm gì đó. Hắn khóc phải không. Sao không vỗ tay đi. Giữa những tiếng vỗ tay, tôi lần ra hành lang, và đi xuống con đường trải sỏi ra ngồi nơi thân cây mục. Gió thổi ào ào tôi lê ngồi xuống thảm cỏ và nằm xuống. Trên trời đầy sao với nền trời mỏng và phẳng. Sao không trông thấy mặt mình. Mặt mình ở đâu. Mỗi ngôi sao đều sống nhiều năm, có thể rụng xuống và ánh sáng tắt. Chiếc quan tài sơn đỏ bỏ tấm ván thiên, người thầy cúng ê a, những người thân đứng ngoài, từ nơi chiếc quan tài một chiếc thang làm bằng hai dọc chuối được dựng lên dựa vào mái tranh, ông thầy cúng khua cành phan, chiếc áo cũ của người chết, người đàn ông đứng trên mái nhà hét lên ba hồn chín vía… ở đâu thì về nhà mà nhập hồn quan. Mũi dao nhọn đượcdùng viết vào thành ván, và chiếc thang bị chặt đứt làm đôi… người chết không bao giờ trở về nữa. Mình sẽ như thế, sẽ không có một chiếc thang bằng tàu chuối được chặt đứt. Sẽ không có tiếng hú hồn, sẽ không được nằm xuống một chiếc huyệt mùi bùn hăng và huyệt mộ sẽ nằm trong một dãy dài những kẻ chết đi không có ai ngó đến… Sao mình đã nhớ quá nhiều. Sao mình không nghĩ đến một, hai, gì đó… Một chiếc thuyền lướt đi nhẹ nhàng rồi bỗng chốc chìm xuống khỏi mặt nước không để lại một dấu vết nào, dòng nước vẫn lặng lờ chảy. Một hòn đá từ đâu rơi xuống. Tiếng vỗ tay vang lên. Tôi trở mình nằm sấp xuống nền cỏ, mùi đất nhẹ nhàng và mùi cỏ tươi, tôi nhai trong miệng một ngọn cỏ tươi vị đắng nhẹ, hơi đất ẩm vây quanh, trong giây phút đầu tôi rỗng không. Khi trở mình nằm ngửa trở lại, tiếng động vang lên từ những lối đi. Cuộc vui đã dứt. Đèn tắt. Tiếng sỏi động chung quanh, tiếng xe nổ máy, tiếng khóa 78/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày ngoài cửa sắt. Tôi mở mắt và tôi nhìn thấy một đôi mắt trìu mến nhìn tôi, đôi mắt dại và yếu đuồi trên nền trời mỏng đều… 1965 Ngày đốn cây vú sữa Bên kia bờ sông của quận lỵ là một xóm nhỏ, những căn nhà thưa rải rác trên những khoảng đất trống không đều, có khoảng đất được canh tác, có khoảng bỏ cỏ hoang, những cây ăn trái và ít gốc dừa nước rải rác theo với mép sông nước ròng, có mấy con kênh nhỏ đưa nước vào sâu trong xóm. Trong khu xóm có một ngôi nhà ngói cũ, ba gian, một sân gạch nay đã hư nát, ngôi nhà ở phía ngoài đường liên tỉnh để tới đầu cầu đưa vào thị trấn. Trong khoảng vườn rộng của ngôi nhà có trồng một cây hoàng lan lớn. Ngôi nhà có một khoảng mái bị đạn nay được vá lại bằng một tấm tôn sáng bóng. Cách với ngôi nhà không xa, bám vào con đường liên tỉnh có một ngôi trường học nay bỏ hoang với mái ngói sụp đổ và là nơi những toán quân ngang qua vẫn coi chừng bằng cách nổ những loạt đạn bâng quơ vào trong tường gạch đã cũ vì mưa nắng và um tùm những cỏ dại. Một người đàn ông đứng tuổi đạp chiếc xe đạp cũ vào thẳng trong sân ngôi nhà, trời đã chiều, toán dân vệ từ đồn nơi đầu cầu đi hàng một dọc theo con đường khởi đầu chuyến kích đêm ngoài vòng đai bảo vệ huyện lỵ. Người đàn ông chậm chạp ngừng xe lại trước cửa nhà, nhẹ nhàng bước xuống rồi nhấc chiếc xe lên hiên, đẩy cửa bằng bánh xe trước vào trong căn nhà đầy bóng tối. Tiếng người đàn bà - Ai đó ? - Không có, tôi đây, sao bà không đốt đèn lên một chút… Tiếng bước chân nặng nhọc từ trong nhà vọng ra. Người đàn ông lúi húi mở dây chiếc bao đèo phía sau chiếc xe. Người đàn bà già yếu, da xanh đứng tựa nơi cửa vào nhà trong - Thằng hai nó gửi cho bà ký bôm, thằng nhỏ mới sinh thật ngộ, nó đen, khỏe như cha nó vậy, đôi mắt tròn quay dễ thương hết sức, thằng hai nói sẽ đón bà lên ở với bọn nó, nó la tôi quá trời đất, bọn nó đâu có hiểu gì… Người đàn bà lặng lẽ đón lấy những trái bôm tím ngon lành, hơi thở mệt nhọc, người đàn ông bật hộp quẹt châm lửa vào ngọn đèn huê kỳ nhỏ để trên bàn thờ, ánh sáng vàng úa lan ra căn nhà trống - Bà ăn gì chưa. 79/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày - Ông ăn cơm với bọn nó rồi hả. - Ừa, ăn cơm sớm, thằng hai còn bận vào trại, tội nghiệp con vợ, người làm không có, trông vào con gái lớn một chút, cái hôm nó sinh may nhờ có người hàng xóm người ta giúp cho không thì đẻ ra nhà , rồi ngày ngày thằng hai phải về mà bới cơm cho vợ, bọn nhỏ thì không có ai coi hết, mình mà ở trên đó được thì đỡ cho bọn nhỏ, thật cực hết sức… - Tội nghiệp… Người đàn bà nói buông thõng, người đàn ông cầm chiếc mũ vải đập đập trên tay rồi móc lên chiếc đinh đóng nơi tường mé gần chiếc bàn lớn dài bằng gỗ đã cũ. Người đàn bà đi ra ngồi xuống ghế - Ông có nói chuyện hồi hôm cho hai thằng nó biết không ? - Có… - Nó nói sao ? - Nó nói mình lên trên đó ở với bọn nó. - Thế còn nhà cửa, còn thằng tư… - Thì tôi cũng nói vậy, nhưng nó nói nhà cửa mà làm gì, còn người còn của, chuyện thằng tư thì… coi như nó chết rồi. - Chết rồi, nó rủa em nó như vậy được sao, đằng nào thì cũng là em nó, tôi thương nó… Giọng nói chùng thấp nhợt nhạt, tiếng thở dài của người đàn ông. Thấp thoáng ngoài cửa bóng ngọn dừa lay động mơ hồ. - Thằng hai nói, chuyện ở trong quận người ta hỏi mình, làm rộn mình một chút là chuyện không thể tránh được, mình ở ngay chẳng hơi đâu mà sợ, nhưng tôi nói, tôi lo cho thằng tư, hồi này đã lâu rồi không thấy nó về, chắc là khó khăn, bà thấy đó, tối đến lính họ nằm ngoài đường lộ, tối không còn nghe thấy chó sủa, không biết hồi này nó thế nào, tôi lo nó chết bờ chết bụi mất xác… - Thời buổi loạn lạc… Người đàn bà đi vào nhà trong, người đàn ông ngồi im một lúc rồi lấy ra hộp thuốc vấn hút, ngụm khói đục trắng lờ lững không muốn tan. Nghe từ xa, ngoài sân có tiếng gà gọi nhau lên chuồng. Đêm đang xuống… 80/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày Người đàn bà lấy chiếc tô lớn múc cháo từ trong chiếc soong nhôm ra, màu gạo đỏ lờ, ngọn đèn nhỏ leo lét trên mặt chiếc bàn cũ đã đen lại, gian nhà rộng mênh mông mịt mù trong ánh sáng nhờ nhờ đau yếu… Người đàn ông cài cửa nhà ngoài trở vào nằm trên bộ ngựa lớn nơi góc phòng. Tiếng nhai của người đàn bà chậm chạp rời rã. - Thế bà có tính lên trên đó với thằng hai không ? Không khí im lặng kéo dài, tiếng con muỗi bay quấn vào gần vành tai khó chịu. Người đàn bà ngừng lại, nhìn vào ngọn đèn. Chiếc bóng thủy tinh có những bọt không đều nhau, phía trên khói đã bám đen thành một vòng đều. Người đàn ông bắt tay phải lên trán che hết ánh sáng trên đôi mắt vẫn còn mở lớn không động đậy - Tùy bà, tôi sao cũng được, thật lòng tôi cũng không còn ruột gan nào mà nghĩ, bà tính coi… Người đàn bà theo dõi mấy con muỗi cỏ đang bay quanh ngọn đèn, có lúc chúng đạp vào bóng đèn nóng loạng quạng một lúc rồi lại tiếp tục bay vòng quanh… Người đàn ông kéo chiếc ghế dài lùi xa chiếc bàn một chút, rồi ngồi xuống, người thanh niên mặc quần màu lục sẫm cắm cúi đọc tờ giấy bỏ trên bàn lúc lâu mới ngẩng lên người đàn ông trước mặt, tóc cắt cao không chải, có những ngọn tóc dựng đứng, hai bên tóc mai những sợi bạc, nước da xám, những vết nhăn, đôi mắt kèm nhèm, chiếc áo bà ba đen đã cũ, chiếc khăn ca rô vắt trên vai nhàu nhượi, hai bàn tay khẳng khiu bỏ trên mặt bàn và cái nhìn lơ đãng - Bác còn cậu con đi theo Giải phóng phải không ? - Dạ, nó là thằng tư, thằng con trai út của tôi. - Anh ấy đi hồi nào vậy ? - Có hơn hai năm, hồi quận chưa có. - Lâu nay có về nhà không ? - Dạ không. - Bác cứ nói thật đi, không sao đâu, tôi muốn bác nói anh ấy nên về chiêu hồi đi, về làm ăn không sao cả… - Dạ, lúc trước nó về tôi có nói, nhưng không được, vô chồng tôi coi nó cũng như chết rồi… 81/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày - Sao bà con lối xóm nói mới đây anh ấy có về thu thuế mà, tôi hỏi thật bác, nếu anh ấy có trốn trong nhà thì bác không nên giấu chúng tôi… - Chết, đâu có, lúc trước cũng có đôi lần nó về, về ban đêm chốc lát rồi đi, khổ lắm ,về thì chỉ thấy xin tiền bạc mà vợ chồng tôi thì có gì nữa, ruộng vườn bỏ cả, vợ chồng tôi cũng tính lên hẳn trên quận ở với thằng hai trên đó, nó làm việc trên quận, chắc ông biết… - Dạ, chúng tôi có biết bác có người con cả làm việc ở trên. - Hồi trước nó xuýt chết vậy đó ông, trước đây nó về thăm tôi, vừa ra khỏi nhà thì mấy ông du kích ập vào bắt nói nó làm mật thám cho đế quốc, mấy ông ấy cũng bắt chúng tôi phải kêu nó về với nhân dân, với giải phóng… vợ chồng tôi thì già, sinh con ra lớn lên bọn nó làm gì thì làm chúng tôi nào có biết, ông nghĩ coi, rồi sau đó tôi được biết giải phóng kết án tử hình nó, từ đó tôi đâu có dám cho nó về, ông tính… đó là những khuôn mặt dữ dằn, tiếng nói quen thuộc, quần áo nhem nhuốc, bất chợt có mặt và mất đi thật nhanh trong đêm tối thanh vắng, kẻ bị bắt được nói cho đi học tập, hoặc được mang ra ngoài vườn sau và một mũi dao nhọn thích vào bụng hoặc một tràn đạn nổ vào ngực, con ông Năm trong xóm được mời đi học tập, hai hôm sau thấy xác nổi trôi tấp vào bờ sông hai tay bị trói giật sau lưng… - Bác nên khuyên anh ấy về, không thì e khó sống được nếu còn quanh quất ở đây, bác biết tên xã ủy không, hắn bị hạ rồi, hôm đó bọn tôi nhanh thì con bác cũng bị hạ, may thoát. Bác biết chúng tôi về đây để giữ cho làng ấp được yên, bác coi hồi này đâu có bị phá rối, thu thuế, thu thóc như trước. - Dạ, cũng nhờ mấy ông… - Mong bác ráng khuyên anh ấy, nếu không được khi nào anh ấy về bác mật báo cho chúng tôi. - Dạ, nhưng tôi chắc nó cũng chết rồi. - Không đâu anh ấy còn sống, người ta còn nhận được mặt anh ấy mà, bác không nên che chở đứa con hư ấy nữa. Và bác cũng đừng tiếp tế cho họ, nếu không bác cũng liên lụy, chúng tôi biết bác là người làm ăn lương thiện, chúng tôi cũng biết con lớn của bác mà. - Dạ, cám ơn mấy ông hiểu dùm cho vợ chồng tôi. Người thanh niên mở xấp giấy lấy ra một bức hình đưa về phía người đàn ông 82/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày - Bác có nhận thấy mặt con trai bác không, đó, anh ta vác khẩu súng nơi vai, người đứng giữa là tên xã ủy chúng tôi mới hạ được, còn tên này nữa, nó là bí thư xã, nó đã bắn mấy người ở trong xã, chúng tôi đang tìm hắn, bác nhận mặt rõ chưa, nếu gặp hắn thì bác báo ngay cho chúng tôi và đừng bao giờ chứa hắn, hắn đã giết người. - Dạ… thằng tư mặc đồ bà ba đen, đầu trần, vai khoác khẩu súng ngắn gọn, nó đang tươi cười bá lên vai tên bí thư, tên giết người, sao hình này hồi nào mà trông nó khỏe và trẻ quá, sau này nó gầy đi nhiều mà có thấy nó mang súng như vậy bao giờ đâu . Người đàn ông ra khỏi nhà hội đồng lúc mặt trời đã đứng bóng. Nhấc chiếc xe đạp quay đầu ra ngoài rồi nhẹ nhàng leo lên và đạp ra con đường đất để ra con đường liên tỉnh. Khi chiếc xe vào đến sân, ngừng lại dưới hiên để nhấc chiếc xe vào nhà, người đàn ông nhận thấy hai chân hơi run và ù nơi hai mang tai, những giọt mồ hôi chảy ròng ròng xuống cổ. Buổi trưa im vắng và nồng… Người cha ngồi hút những hơi thuốc đầy, nhìn lơ đãng vào khoảng không. Người con ăn, nhai vội vã, bàn chỉ còn một mình người con với chén bát ngổn ngang của những người đã xong bữa. - Thôi ba đừng nghĩ gì cả coi như không có thằng tư…Nào đâu mọi người không nghĩ đến nó. - Nhưng đằng nào thì nó cũng là em mày… - Vậy bây giờ bảo con phải làm sao ? Thời buổi mà anh em phải bịt mặt mà giết nhau. Hồi về nhà may mà con không bị bắt, nếu không thì ba tính… bây giờ con muốn ba lên ở luôn trên này với bọn con, thế là xong, nhà cửa thì nhờ bà con đưới vậy… - Nhưng má con không muốn đi, bà ấy thương nó… Người con bỏ chén bát đứng lên khỏi bàn ăn. Người cha vẫn ngồi im nhìn lơ đãng trên mặt bàn. Người con đi xuống nhà mang lên hai ly nước trà, một ly cầm nơi tay, một ly để trước mặt người cha. Khi đi làm trở về người nhà đưa cho một lá thư, nét chữ quen của người em ruột Mặt trận đã tuyên án xử anh, mong anh hồi tâm trở về thì sẽ được khoan dung, nếu không thì em cũng không thể cứu được anh. Cùng với phong thư có kèm theo trái lựu đạn đã thối . - Con nghĩ chắc thằng tư cũng không còn ở trong vùng nữa, bây giờ đâu có dễ gì mà lọt được trở lại vùng bình định, ba má còn ở lại cũng không 83/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày giúp được gì cho nó đâu, mà ba má thì già rồi, mình lên trên này hồi nào yên hẳn thì về, nhà cửa ruộng cườn còn đó chứ ai lấy đi được mà lo. - Thôi được rồi, để ba thu xếp, nhưng con có cách nào gọi nó về được không ? - Cách nào, biết nó ở đâu mà tìm, mà gặp nói nó nó chịu về không, thì ba má cũng đã nói với nó rồi. Nhà mình ba má được hai đứa, giá yên bình thì con cũng ở nhà làm ăn chứ có sao, nào đâu phải con xung phong đi lính, lệnh thì đi, cũng may là con chưa phải cầm súng mà đi kiếm nó, nó có số phần của nó… Con chỉ lo nó quanh quẩn đâu đó Người cha uống một ngụm nước, đứng lên dời khỏi bàn ăn, tới ngả lưng xuống chiếc ghế vải ở bên cạnh tường. Người con vặn máy thu thanh, tiếng hát vang lên đầy căn nhà rộng… Người con ngồi xuống chiếc ghế thấp cầm lấy tờ báo đọc. Đứa trẻ sáu tuổi từ trong nhà chạy ra lăn vào lòng người con. Người con bỏ tờ báo xuống - Thôi mà, làm nũng gì đây nữa, lại chơi với nội đi, thôi mai theo nội về vườn mà ăn trái cây, mùa này có vú sữa rồi đó. Đứa trẻ nằm im mở mắt nhìn nghiêng tới ông nội nó đang trầm ngâm hút thuốc. Người con vuốt tay lên đầu đứa trẻ… Người đàn bà từ trong nhà đi ra - Ba vào trong giường nghỉ trưa cho khỏe. - Thôi ba nằm ngoài này cũng được, chút ba về rồi. - Mai ba lên ? - Ừa để xem đã, còn nhà cửa ở đưới… - Hay để mai con xuống đón ba má luôn thể, mình kiếm một chuyến xe lam, còn đồ đạc lếch thếch, má thì yếu… - Con khỏi lo, con đi về rồi ai coi bọn nhỏ cho, ba khỏe mà lo chi. Người đàn bà bế đứa nhỏ dỗ nó đi ngủ, người đàn ông vuốt tay lên má nựng nó giọng ngọt ngào. Đứa nhỏ bị nhột cười khích khích khi người đàn bà bế nó vào trong nhà. Không khí căn nhà trở lại im vắng. Buổi chiều người đàn ông đạp chiếc xe chậm chạp vượt qua cây cầu chiếc xe không chạy thẳng, vòng xuống phía dưới, gần với bờ sông, chiếc xe chạy chậm chạp, người đàn ông chú ý tới những băng vải viết chữ căng ngang, những tờ truyền đơn rải bay trên đường đi, và những bích chương 84/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày màu dán nơi thân cây bờ tường gần nơi hội đồng xã, nơi đó có một vài người qua lại. Người đàn ông ghé lại nhà một người quen, khoảng sân đất rộng, ngôi nhà tôn thấp. Một người đàn bà từ trong nhà đi ra - Chú lại chơi. - Anh có nhà không thím. - Nhà tôi xuống dưới xóm, người ta tìm thấy xác vợ ông hội đồng hồi trưa, thật tội nghiệp… - Ở đâu vậy ? - Ở ấp bên, nhà của ông gì đó, trong vườn, dưới một cái hố, trời ơi, nhà tôi nói trông mà phát khiếp vậy đó chú, họ cho ngồi xuống rồi đập đầu cho vỡ và đậy lên trên mấy miếng gạch xi măng, sao chết đã lâu mà chưa gì hết, còn chân thì xơ ra và quần thì bị rách lên tận thắt lưng, thật là tội… - Sao mà tìm được vậy ? - Nghe đâu có người hồi chánh ở đâu đó nghe chuyện biết được nên chỉ cho quận, quận liền theo đó mà tìm. Trong đêm tối môt tốp người vào nhà gọi cửa bắt đi, bà ta không chịu đi, họ lôi đi, hai người mỗi người giữ một tay kéo đi, mặc tiếng kêu khóc vang lên cả ấp không ai dám mở cửa ra ngoài, rồi mất tích… - May mà còn tìm được xác, ông bà ấy từ xưa đến nay ăn ở cũng đường hoàng có gì đâu, chẳng biết có thù oán gì với ai không ? Ông bà ấy chỉ có một người con đâu ở trên Sài-gòn. Người đàn ông như nhớ ra mình vẫn còn đứng dưới sân với chiếc xe đạp, ông từ từ đẩy chiếc xe vào gần nhà dựa vào tường rồi bước lên hiên - Tôi tính sang nhờ anh chị coi giúp cho cái nhà, tôi đưa bà ấy lên trên với thằng hai, - Bao giờ chú đi. - Thủng thẳng ít bữa, đồ đạc thì cũng không có gì, nhưng cái nhà thì ráng giữ cho nay mai yên ổn thì về có chỗ mà ở, thằng hai nó nói quá chứ tôi không muốn đi. - Dạ. Người đàn ông đứng yên ngó nhìn những ngọn dừa xanh vượt lên trên bầu trời cao, buổi chiều êm ả không có gió. Một chiếc máy bay xuất hiện ở trên cao. Lúc sau người đàn ông xuống hiên đi vòng quanh khoảng 85/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày sân ngó lên những ngọn cây ăn trái, những luống rau trồng ngoài vườn, khi trời đã sẫm người đàn ông đạp xe trở ra những con lộ về nơi ngôi nhà mái ngói. Bóng tối xuống chậm… Khu vực ngoài thị trấn lúc trước có một thời rất đông dân cư, đời sống khá sung túc, vườn tược sau thời gian chiến tranh canh tác trở lại, những ruộng bỏ hoang bắt đầu những vụ lúa mới, nhưng thời gian ấy kéo dài không lâu, chiến tranh trở lại, có lúc khu vực như hoàn toàn kiểm soát của thế lục mới, dân chúng không chịu được chiến tranh kéo sát bên mình một cách thường trực nên bỏ đi làm ăn xa tùy theo phương tiện và hoàn cảnh cho phép, tuy nhiên có một số người chỉ biết ruộng vườn thì buộc phải giữ lấy cuộc sống vẫn có, có người đã dời gia đình ra nơi căn nhà làm bằng đất ngoài đồng trống để tránh tai họa. Chậm rãi theo thời gian, số người sống mỗi lúc một hao mòn, số người đi xa cũng nhiều thêm, những trẻ nhỏ tha thẩn ngoài ruộng bùn với những bàn tay chai cứng, trong căn nhà tối chật hẹp chỉ còn những người già cả… Thôn xóm mang theo khuôn mặt buồn hiu. Có lúc người ta dửng dưng không còn xúc động với những cái chết. Những cuộc hành quân mở ra với từng đoàn xe nối nhau trên con đường liên tỉnh thỉnh thoảng xáo trộn đời sống bình thường của dân chúng, những trẻ nhỏ đứng ra dọc bên đường với những người lính lạ… Dần dần an ninh được vãn hồi, dân chúng lại làm ăn, một đôi người ở xa trở lại thăm nhà cũ, và đã có một hai chuyến xe lam chạy nối khu vực với quận ly ở trong, và những phiên chợ bắt đầu đông hơn xưa… Nhưng ban đêm tới vẫn là những lời đe dọa không chừng, có những tiếng súng đánh thức người dân đang ngủ với nỗi lo âu bứt rứt thường trực… Buổi sáng bắt đầu với vẻ nhạt nhòa, người chồng ra sân đứng nhìn toán nghĩa quân đi lích trở về chậm chạp ngái ngủ mang theo ba lô, ít bó rau, ít trái cây, họ đi dọc theo mép con lộ về phía cây cầu, bóng chiếc trực thăng, đang bay vòng quanh ở phía nam, tiếng động nghe xa rời. Chiếc xe bò chở lá dừa chậm chạp lăn bánh với tiếng kêu khô khan và ngắn. Một người đàn bà gánh rau đang đi xuống phía nhà hội đồng. Nắng sáng trong nhảy nhót trên những cành lá xanh. Người chồng thở dài ngồi xuống nhìn cây vú sữa trụi lá giơ những cành khô lên trên trời… Mấy tháng trước hai vợ chồng già chợt ngỡ ngàng nhìn nhau khi thấy những cành lá trên hầy hết những cây ăn trái trong vườn bỗng vàng và đổ xuống không đúng mùa. Người ta nói bị ảnh hưởng bởi thuốc khai quang từ vùng trong theo gió trở ra. Sau đó, mùa mưa trở lại, cây cối phần lớn hồi phục với vẻ èo oặt, chỉ có cây vú sữa là không ra lá cành khô đen , mỗi ngày người chồng ra bấm vào vỏ cây thăm dò và sau chót thì người chồng lắc đầu nói với người vợ nó chết rồi… Người chồng đi vào nhà mang ra cây dựa lớn và bắt đầu đốn cây vú sữa, thân cây cũng không lấy gì làm lớn, người vợ từ trong nhà đi ra, ngồi 86/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày xuống hiên mát nhìn người chồng bổ từng nhát chốc chốc ngừng lại nghỉ - Ông còn đốn làm gì nữa, khô rồi , mặc nó, sức đâu… - Trông cái cây khô tôi khó chịu, đốn nó đi cho những cây chung quanh nó lớn, thế là nhà mình không còn vây vú sữa nào nữa, tôi còn tiếc cái cây năm trước bị bão… - Để mình trồng mấy cây khác, thứ này không chịu được thuốc khai quang, chỉ một chút cũng khó sống… Nhưng trồng rồi có được ăn trái không ? - Mình không ăn thì con cháu nó hưởng, bà thì thật… - Thế ông tính bao giờ mình lên với thằng hai… - Bây giờ bà giục tôi, thì để vài bữa nữa, sao tôi cứ thấy bứt rứt không yên… Người đàn ông tiếp tục đốn cây vú sữa, mỗi lần chiếc dựa ăn vào thân cây, cây vú sữa lại khô lại rung lên, một vài cành nhỏ mục rụng xuống lần đất ẩm… Người đàn bà cầm chổi quét khoảng hiên nhỏ hẹp, bầy gà con quanh quẩn dưới chân chạy theo sau người đàn bà vẻ quấn quýt. Nắng còn bỏ lại khoảng mát lớn trên chiếc sân vuông vức. Liên tiếp những nhát dựa chặt vào thân cây, cho tới khi đã mệt người đàn ông nhận thấy chỉ mới được nửa thân cây. Ông ta dùng hai tay cố sức rung nhưng thấy vẫn còn chắc, ông ta bỏ vào lấy nước uống và ngồi nơi hiên vấn thuốc hút. Người vợ đứng ngoài sân - Ông viết thư cho thằng tư ra sao ? - Tôi gửi cho nó ít tiền, nói nó về, tôi cũng gửi cho nó giấy thông hành đã hỏi kỹ người ta rồi, có một thằng bạn nó cũng mới bỏ ngoài ấy về trình diện đây… - Chết, rồi nếu người đưa thư ấy không kín… - Người tôi gửi tín cẩn lắm, bà khỏi lo, nhưng thật tôi không hy vọng, nó là thằng cứng đầu… - Tôi lo cho nó… Người đàn bà quay mặt đi, không khí đã rời rã, người đàn ông nghỉ ngơi một lúc rồi ra đốn tiếp cây vú sữa, lúc cây khô ngã xuống thì bóng mát trên sân cũng đã thu hẹp lại. Một người đàn bà từ ngoài hớt hải đi vào gặp ông 87/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày - Bác ơi, bác đi theo cháu coi… Người đàn ông ngó lên, nhăn mày - Gì vậy cháu ? - Bác đi theo cháu coi xem có phải thật không, người ta vớt được một cái xác chết, có ngưới nói trông như anh tư nhà bác… Người đàn ông đứng bật dậy, người đàn bà từ trong nhà đi ra. Người đàn bà đứng dưới sân nói - Có lẽ người ta nhìn lầm… - Thằng tư… Người đàn ông vội vã đi xuống sân ra phía cổng, người đàn bà đi theo, người đàn ông quay trở vào lấy chiếc xe đạp ra hiên, nhưng lại dựa chiếc xe vào tường rồi vội vã đi - Bà ở nhà, tôi ra coi, thằng tư… Người đàn bà ngồi xuống hiên nhà ôm mặt khóc. Người đàn ông vừa đi vừa chạy. người đàn bà theo sau tức tưởi. Đám đông tụ lại nơi bờ sông, gần nơi nhà hội đồng, toán nghĩa quân lố nhố ở bên, người đàn ông rẽ đám đông vào trong, một xác chết ướt sũng nằm trên bờ cỏ, tờ giấy báo phủ lên mặt, bộ quần áo đen ướt nhép, bàn chân cứng chỉ lên trời đã chương. Người đàn ông cầm tờ báo bỏ ra, đầu tóc bù xù, miệng há lớn phơi ra hàm răng trắng hếu, dấu đạn khoan thủng một miếng nơi bả vai bên trái gần với cổ, người đàn ông đây vội tờ báo lại. Người đàn bà đứng sau, đám người im lặng , người đàn bà nói nhỏ - Phải anh tư không ? - Thằng tư nhà tôi… - Trời ơi tội nghiệp… Người đàn ông không nói, mặt bình thản chậm chạp quay ra đi trở lại con đường về nhà. 1970 Truy tìm kẻ mất tích 88/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày Tôi trả lời vâng tôi đã nghe rõ, rất cảm ơn ông tôi sẽ đi ngay bây giờ. Nói xong tôi chờ đợi tiếng trả lời, nhưng rất lâu tôi không nghe thấy tiếng nói nào nữa. Một tiếng cụp trong ống nghe, tôi hiểu người đó đã bỏ máy điện thoại xuống. Tiếp theo là những tiếng u u. Tôi nhìn đồng hồ, 6 giờ thiếu 15 phút. Sao không phải 6 giờ, thật là phiền. Có lẽ nó bị bắt vì thiếu giấy tờ. Sau khi gửi được cái xe gắn máy, chúng tôi đứng xếp hàng chờ đợi đến lượt mình, nhưng đến khi tôi và nó đến được trước khung cửa sổ, người đàn bà nhìn chúng tôi, đưa tay ra nhận hồ sơ, bà ấy lật đi lật lại hỏi giấy khai sinh đâu. Tôi bực dọc trở ra. Trước khi đi chính tôi đưa cho nó, căn dặn nó nhưng tới nơi thì nó đã bỏ quên. Nó vẫn thường hay quên như thế. Chắc nó mới thay chiếc áo mới. Hôm qua nó đi kiếm đâu được một chiếc áo thung, nó khoe tôi, chiếc áo không có túi gì hết, nó lại thích mặc quần ống chật. Trông cậu cao bồi lắm đó nghe, hôm nào cảnh sát hốt cho coi. Cái thằng nó lại làm phiền mình. Để hốt đi lính cho rồi. Trốn tránh gì được, đằng nào mà không phải đi, còn giặc vài chục năm nữa cho coi. Ở lại mà sống một mình, sống như con chuột chù sao. Ơ nhưng cái người gọi điện thoại đó là ai vậy. Thật là ngu, sao mình không hỏi cho rõ gì hết. Nó bị bắt lúc nào, ở đâu, hiện bị nhốt ở đâu ? Tôi để lại cái điện thoại cho ngay ngắn trước mặt, những người trong phòng tôi đang bỏ giấy tờ vào trong những ngăn kéo, người thư ký khóa những tủ lại. Người thì đánh phấn, kẻ môi, người chải tóc, người đứng lên ra phòng đi tiểu, người lau kính đeo mắt, những chiếc cửa sổ được đóng lại. Ăn cho mau già và già mau chết. Chắc nó bị bắt thật rồi. Tôi thấy nháy trên mắt trái. Máy mắt ăn xôi, máy môi ăn thịt, máy đít ăn đòn, máy… Cái đầu nghĩ toàn chuyện tầm bậy. Phải đi tìm nó, xem nó ở đâu, giờ này chiều rồi, mấy nữa mà tối, bị giữ lại e đói và chắc là mong tôi. Mẹ tôi nói có mấy chị em phải thương yêu nhau. Mẹ tôi có những sợi tóc bạc thật mềm, khi mẹ tôi chết bà chỉ nói với chúng tôi thật vắn tắt nhưng tôi không quên những giọt nước mắt chảy trên đôi má nhăn nheo. Tôi theo bà nội sờ tay lên chân, lên bụng theo với sự lạnh toát của thân thể mẹ tôi, khi mẹ tôi lạnh tới cổ thì mẹ tôi nấc lên và nhắm mắt lại chậm chạp. Mẹ tôi đã chết. Chị tôi khóc òa, thằng em ngủ vùi trong lòng chị tôi, nó còn quá bé chưa biết gì. Bây giờ thì nó đã đi lính rồi. Trước khi nó nhập ngũ tôi đã nói chuyện với nó. Nó hỏi tôi đủ điều, nhưng tôi nói với nó rất ít, có một điều tôi nhắc lại với nó, có nhiều cái người ta không học được, bây giờ người ta hô một hai cho mình đi mà đi không được sao. Không có gì hết, người ta sao ta vậy, cứ theo mà làm… Khi đi thì kiếm cái quần rách nhất mà mặc, vào đó có quần áo người ta phát cho rồi, mang theo bàn chải đánh răng, thuốc đánh răng, bỏ trong túi, thuốc hút, ít tiền lẻ thế là đủ. Nó vào quân trường, khỏe ra, trong nó bé nhỏ trong bộ quân phục, nó sinh năm đói, rồi giặc giã liên miên khiến nó nhỏ thó và thấp, mỗi tuần tôi gặp nó hỏi cần gì không, nó thường nói không, đôi lần nó hỏi tôi ít tiền lẻ uống la de những buổi đi bãi. Rồi nó thành một sĩ quan. Hồi trước nó mong thành một ông giáo, sau nó lại bỏ vì nghĩ mình không có tướng oai, nó nghĩ một 89/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày ông giáo trông phải có thớ một chút, nó sợ học trò bắt chẹt nó. Trông nhỏ quá không ra ông giáo gì hết. Hồi còn đi học nó kết bạn thư từ với cô sinh viên Thụy-điển, nó đưa hình cho tôi coi, cô bé xinh xắn, nhưng tôi nghĩ chắc nếu hai đứa đứng bên nhau thì nó cao nhiều nhất đến vai cô bé, nghĩa là thua ít nhất một cái đầu, tôi nói điều này với nó, sau tôi không nghe nó nói gì về cô bạn của nó nữa. Nó bị bắt thì cái xe gắn máy nó để ở đâu. Nó vốn giữ gìn xe của nó rất cẩn thận, tôi thì cười nó. Hầu ai chứ lại hầu một khối sắt thì tôi không hầu. Có người giữ xe cộ hơn giữ vợ con, nào lau chùi, đánh bóng, nâng niu, trùm áo cho nó nữa. Nhiều lúc còn bắt cả vợ con phải hầu xe, nhiều lúc xúm lại đẩy cho tới toát mồ hôi mới nghe, ai làm xây xát chút đỉnh là nhăn nhó càu nhàu, ai mượn thì khó chịu. Tôi không chịu được những cái đó. Cái đống sắt ấy. Tôi nhắc điện thoại lên, theo cuốn sổ tôi lần lượt gọi điện thoại cho các quận cảnh sát. Thưa ông, tôi là Nguyễn Văn B., tôi muốn biết tin của em tôi, nó mới bị bắt. Dạ không có. Thưa ông tôi là Nguyễn Văn B., tôi có đứa em bị bắt. Bị bắt ở đâu. Dạ không rõ. Ông giỡn với tôi sao ? Tiếng cụp trong điện thoại. Cái thằng cha này hách quá. Thưa ông, có phải quận cảnh sát không ạ. Không, đây là tổng nha. Tôi là Nguyễn Văn B., tôi có đứa em bị bắt, tôi muốn biết tại sao nó bị bắt. Bị bắt hồi nào. Dạ, tôi không rõ. Thế tên nó là gì. Dạ nó là thiếu úy Nguyễn Văn B., có lẽ nó bị bắt vì trốn quân dịch. Xin ông liên lạc với quân cảnh, mặc giả quân phục lại đeo lon nữa thì chắc bị nhốt chờ ra tòa rồi. Tôi bỏ điện thoại xuống. Thôi phải đi tìm nó mới được. Mọi người đang lần lượt dời khỏi phòng. Tôi sửa lại quần áo cho ngay ngắn, lau kính đeo lên mắt. Bỏ ghế vào trong gầm bàn. Nhìn lại chiếc bàn bỏ trống, chỗ ngồi thật tôi chưa bao giờ được nhìn tôi một cách đầy đủ, chỉ là một chỗ bỏ không. Chiếc ghế lắc lư, cái đầu cúi, cái lưng hơi gì xuống, chiếc bút trên tay, những tờ giấy trước mặt, trên bàn, cuốn lịch mỗi ngày được lật qua, những chiếc bút xanh đỏ sau một thời gian được thay ruột, nhưng hồi chuông điện thoại, những nụ cười xã giao, những cái bắt tay nhạt nhẽo, những bữa cơm và những điếu thuốc. Rồi chiều đến, đứng lên, xuống thang gác và ra đường với những chai bia… Thật là những người điên. Trời đẹp thế kia sao không ra đường đi thăm một người bạn, gặp người tình, dẫn vợ con đi chơi. Thật là điên quá lắm. Chắc là nó bị bắt ở quận nhất rồi, cái chỗ đầu đường đó lúc nào cũng có cảnh sát hết. Những tay trốn lính đều biết rõ, chẳng bao giờ điên mà ngang qua đó. Cái tiếng còi hút lên nghe mà ghê. Cái thẻ căn cước cho đàng hoàng đừng có vẻ gì cũ, nếu không là phiền. Cái giấy hoãn dịch, cũng đàng hoàng, muốn cho chắc thì mang đi mà ép nhựa cho khỏi rách, khỏi nhàu mà giữ được lâu, nào đâu phải có một cái giấy gì, nhiều khi là cả một tập hồ sơ công phu, mất nó là không ăn không ngủ được. Cái giấy chẳng là gì nhưng nó chứng nhận là một kẻ làm người. Nếu không… Xin được một cái giấy, hay được cấp một cái giấy thật bằng được trao một cái sắc phong làm Thành hoàng của vua Bảo Đại. Người cảnh sát dẫn nó vào trong sân ngang qua chiếc cổng sắt có bót gác kiên cố. Một người lính đội mũ sắt hờm súng 90/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày trong lần mắt cáo kẽm. Nó sẽ đẩy chiếc xe vào trong căn nhà tôn. Nó sẽ được dẫn vào chiếc phòng giam tạm thời, rồi nó sẽ được hỏi đến. Tôi đã nói nó nhiều lần, đi đâu phải có giấy tờ cẩn thận. Chẳng sao hết nhưng cực thân. Căn phòng những người ngồi dưới nền xi măng, đủ thứ người hết, mùi nước tiểu, mùi khói thuốc, những góc phòng nhớp nháp. Đêm xuống muỗi kêu vo ve, nền xi măng cứng nằm không ngủ được. Rồi những tiếng nói, tiếng chửi tục tằn, ngọn đèn vàng úa cháy suốt đêm. Tôi bước ra khỏi phòng cuối cùng. Đóng cửa. Hành lang hẹp vắng ngắt như không có một bóng người. Cầu thang trống trải. Những hạt mưa nhỏ trên vũng nước giữa sân. Tôi châm một điếu thuốc. Chiếc hộp quẹt với con rắn cuộn. Người tình phụ đã có ba đứa con. B. nói với tôi, em biết anh không lấy em, em thì già rồi. Tôi mua hai cái kem, cho mình một cái, cho con nàng một cái, chúng tôi dắt tay nó đi trên con phố đông người. Mưa thế này thì còn lâu mới tạnh. Người bạn cùng tôi bước xuống sân, tôi nói đi đâu. Về nhà, ông đi đâu. Về nhà. Tôi nói tôi tìm thằng em bị bắt. Người bạn nói, mình đi uống bia đã đi. Tôi nói đâu có được, đám cưới của thằng bạn thân này không đến không được, nó chửi mình. Hồi xưa mình với nó đánh cuộc nếu đứa nào lấy vợ trước thì mất một con heo quay. Bây giờ nó thua rồi, tí tuổi đã cầm lòng không đậu thì còn làm việc lớn gì được. Bọn bạn mình có vợ hết trơn rồi, có lẽ rồi mình đến làm rể một tên nào đó. Trới thấp với mây xám. Trời này khiến nhớ vị hôn thê. Anh muốn đến đưa em đi dạo, anh sẽ hôn em, nhưng em ở xa, nếu anh là gió bay đến cuốn quyện lấy em, nếu anh là cánh lá rơi chạm vào má vào môi em, nếu anh là… Người bạn nói, trời thật tuyệt. Thằng em tôi đứng dựa bên xe ngay cửa, nó nói tới đón anh về. Tôi nói thôi về trước đi, anh đi chơi chút nữa về, nói nhà đừng chờ cơm. Nó đẩy xe vào trong lề rồi lôi đồ nghề ra tháo chiếc xe, nó loay hoay với cái xích rồi lại đạp, lại đạp, chiếc xe chẳng chịu nổ gì cả. Tôi đứng bên người bạn chờ xe, xe cộ ngang qua không ngớt. Con nhỏ mặc váy ngắn quá, trên chiếc xe chiếc váy cuốn lên tận đùi non trông mà sướng mắt, nhưng cái đầu gối thì như quỳ bái nhiếu quá. Cái bọn quỷ đâu có vừa gì. Tiếng máy xe nổ thật là giòn, tôi ngó lại. Thằng nhỏ cười hở cả hàm răng sún, mặt nó nhem nuốc dầu mỡ, ông coi, tôi là thợ sửa xe lành nghề mà, ông có thể đi được rồi. Tôi nói, cám ơn, tôi không biết đi. Nó có vẻ không bằng lòng. Chiếc xe lam ngừng lại, chúng tôi leo lên, tới dọc đường chúng tôi nhảy xuống. Cô bạn nói với tôi, trông anh hồi này gầy, già đi và có vẻ buồn. Tôi nói, thằng em tôi nó bị bắt. Cô bạn cười rất vui nói tôi mừng anh có ý lập gia đình. Tôi nói làm thế nào được ai tránh khỏi cái chết. Tôi nói nó chọn ngành lái xe chẳng hạn, nó không chịu, nó muốn làm lính chiến đấu. Cô bạn nói anh đi ăn cưới người bạn cuối cùng sao. Tôi nói không, tôi còn nhiều bạn độc thân lắm, bọn bạn tôi con rơi con vãi tùm lum à, tôi cũng định đi làm vườn ở trên cao nguyên nhưng hồi này đi không được, máy bay họ không chịu chở theo cho tôi mấy con trâu để cày, họ viện cớ sợ trâu nó ỉa đái trên máy bay, hơn nữa hành khách bây giờ hung tợn lắm nếu mang bò lên máy bay họ sẽ hùa nhau làm 91/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày thịt ăn, bây giờ hãng máy bay tặng rượu cho hành khách mà không chịu tặng đồ nhậu. Tôi đã thấy họ cùng nhau làm thịt con mèo. Cô gái cầm cái đuôi mèo nướng vào ngọn lửa, thoáng chốc cháy hết lông còn trơ lại một đoạn ngắn trông như que củi, cô ta bỏ vào miệng nhai nghe giòn tan. Tôi nói cô có kẹo không. Cô gái nói còn, tôi mời ông. Kẹo gì mà ngọt quá. Tôi phát ho vì cái kẹo. Anh bạn kéo chiếc ghế sắt lui vào phía sau, chúng tôi cùng ngồi ngó ra ngoài mặt đường. Hai chai bia, bọt sàu trong chiếc ly trong vắt. Chai bia thứ hai. Cục đá quá lớn. Cao tay nâng chén rượu nồng… Lúc tôi bước vào, phòng tiệc đã đông người. Phải thế chứ, bỏ không đi đám cưới vợ chồng nó lại giận mình. Mình còn cam kết sẽ kết sui gia với nó nữa. Nhưng này đừng có quên con bò quay đó nghe. Ông bà cụ thân sinh của nàng niềm nở đón tôi khi vừa tới giữa phòng. Tôi được mời ngồi chung với những bạn bè của nàng, thấy tôi tới nàng vội vàng đến bên. Nàng cầm lấy tay tôi cám ơn, chúng tôi cụng ly với nhau. Mọi người chúc tôi hạnh phúc. Những ly rượu mạnh được rót liên tiếp cùng những món ăn. Chúng tôi nói tới tình hình chiến tranh. Một anh bạn chợt òa khóc khi báo tin với chúng tôi vợ anh ta vừa tử trận ngoài tiền tuyến. Một anh ngồi bên đứng lên hát bài Khỏe vì nước một cách hùng hồn và chúng tôi vỗ tay theo. Nàng nói anh yêu em không. Tôi gật đầu. Nàng nói anh có phụ em không. Tôi gật đầu. Nàng nói anh có thấy mình hạnh phúc không. Tôi gật đầu. Nàng nói em muốn chết. Tôi nói thật tuyệt diệu. trời đẹp quá. Chiếc ly rơi khỏi mặt bàn, tiếng thủy tinh vỡ giòn tan trên nền gạch, người bạn nói cậu say rồi sao. Tôi nói say quá đỗi, cho tôi chiếc ly khác đi, tể tướng. làm tướng gì mà trông như tên hầu rượu, một tên hầu rượu hạng tệ. Buổi sớm hồng một ngày tươi sáng được báo hiệu, những cơn gió thoảng qua với hơi nước mát rượi, tiếng lá lao xao trên ngọn cây, những phiến lá xanh non như ngọc thạch. Em gửi cho anh bông hồng nồng nàn nhất của mùa hạ. Khi muốn nhìn thấy mắt chàng nàng phải xoay tròn chiếc mũ. Đỏ bầm đầy bụi. Che kín ngang mày. Dưới đó chong hoài đôi mắt. Đen buồn như mắt nai. 1 Buổi chiều làm cho mình nhớ người tình, thôi đổi rượu đi. Người bạn cầm những chiếc ly trên bàn vút cao lên không trung, những chiếc ly mất tăm trong đó. Hai chiếc ly cao cổ hiện ra trên mặt bàn son rực rỡ, màu rượu chát thân mật, chúc em hạnh phúc, tiếng cụng ly reo vui như tiếng dương cầm trong đó trong đó những bước chân chim nhảy nhót trong buổi sáng ngọt ngày phục sinh. Tiếng vỗ tay vẫn còn vang lên, và tiếng khóc của người chồng bất hạnh lẫn trong đó nghẹn ngào. Tôi nói xin chia buồn cùng anh. Nàng hiện ra bên, để tay lên vai tôi, nghe chừng nàng đang hát. Mọi người đứng dậy cùng với điệu nhạc và cuộc dạ vũ bắt đầu, mọi người mang những mặt nạ màu sắc rực rỡ. Nàng cầm lấy tay tôi, chúng tôi dìu nhau tan trong đám người và những âm thanh êm dịu. Em mơ ước chúng ta được sống trong những thung lũng với hoa và cỏ, những ngọn đồi mây thưa và cây thấp dưới chân mình, ở đó tiếng suối reo vui như một bản hòa tấu không ngừng cùng với tiếng gió trong rừng và tiếng chim muông ríu rít 92/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày hân hoan , chúng ta sống một ngày cho một đời. Người bạn đã bỏ đi từ lúc nào. Trên bàn gỗ chỉ còn lại chiếc ly độc nhất của tôi. Tôi giơ tay kêu rượu. Người hầu bàn tiến đến, màu rượu vàng xanh bọt nhỏ và trong vắt. Men rượu nồng nàn. Anh muốn được ngủ trong rừng tóc nồng của em. Có phải tình yêu là cuối cùng của ước mơ nên bão tố cũng từ đó mà dấy lên ? Rượu, người hầu bạn hiện ra, màu rượu vàng ửng. Cybel. Tôi không có tên . Rượu, người hầu bàn hiện ra màu rượu đỏ chói. Đó là tên của vị thánh thảo mộc. Rượu, người hầu bàn hiện ra, màu rượu trắng trong vắt. Em sẽ chẳng bao giờ để anh nhìn thấy em khóc đâu. Không biết buổi dạ vũ đã kết thúc từ lúc nào. Tôi đứng lại trong gian phòng trống không, vắng lặng. A lô, chúng tôi muốn được gặp ông Nguyễn Văn B., chúng tôi xin nhắc lại, chúng tôi muốn được gặp ông Nguyễn Văn B. Tôi bước đến nơi chỗ bàn giấy. Người đàn ông nói với tôi. Ông là Nguyễn Văn B., dạ vâng, chúng tôi báo để ông rõ là chúng tôi không tìm thấy ai tên là Nguyễn Văn B. cả, chắc ông ta không có ở đây, ông hãy liên lạc với các bệnh viện xem, tôi sợ ông ta gặp tai nạn và người ta đã mang ông ta vào trong đó. Tôi nói cảm ơn rồi đi ra khỏi phòng. Từ trong phòng lạnh ra, tôi thấy người như rực nóng, mồ hôi tứa trên cổ trên má, tôi lấy tay áo quệt ngang và ngửi thấy mùi rượu nồng nàn. Tôi lầy chiếc khăn tay lau mặt, tôi nhận thấy vết son và hương thơm của da thịt nàng. Tô đứng lên. Chắc hắn có hẹn với ai. Tôi châm một điếu thuốc. Chiếc hộp quẹt. Có con trâu xanh hết lòng giúp đỡ… người bạn nói, mình về nhà. Tôi nói ừ, về nhà đi. Tôi không biết ai đã gọi điện thoại cho mình. Chúng tôi chia tay nhau. Mỗi buổi sáng ngồi vào chiếc ghế quen thuộc, chiếc bàn rộng, những tờ giấy, những hàng chữ, những mệnh lệnh, trưa ăn cơm, làm việc lại, buổi chiều ra về, ăn rồi ngủ, cứ như thế, mỗi tuần một buổi đi họp, mỗi buổi chiều những chai bia… Một hôm lăn ra chết. Là xong. Chủ nhật rồi thứ hai. Tờ báo mỗi ngày những tin chiến sự, những người chết, chuyện hiếp dâm, hối lộ, ăn cướp, ông này tuyên bố, ông kia tuyên bố, những tiếng hòa bình, chiến tranh, hạnh phúc, lẽ phải, công chính, gian manh, tội ác, phép lạ, huynh đệ… Giấc ngủ chập chờn những sớm mai. Về nhà. Hai tiếng ấy. Tôi nghe thắt đau trong cuống tim. Ngày trước tôi mơ ước đi xe đạp trên những con đường làng, bờ ruộng, tiếng chuông kính coong hòa trong gió và tiếng sáo diều trong không trung… Thằng em nó khóc, nói nghẹn ngào mẹ mất rồi anh đến đi, sắp nhập quan. Chúng tôi cùng đến. Chiếc áo quan bằng gỗ vàng tâm để mộc, mùi gỗ còn thơm, vân gỗ màu vàng tươi. Mẹ tôi nằm kín trong lần vải trắng. Những lời cầu kinh rì rầm. Tôi ngồi xuống bên giường. Chị tôi bế đứa cháu nhỏ trên tay nói Cậu phải lập gia đình thôi, lớn tuổi rồi. Tiếng cầu kinh đã dứt. Tôi mở tấm vải trắng. Khuôn mặt người đàn ông bị chém, vết chém chia hai khuôn mặt. Không còn mắt. Máu đọng trên hai khóe môi. Tôi phủ tờ giấy lại. Người đàn ông tóc bạc trắng đứng bên nói với tôi chúng tôi đã nhận được tin của ông, tên là Nguyễn Văn B. Tôi nói phải, ông ta ở đâu, để tôi dẫn ông tới. Chúng tôi bước vào một rạp hát. Hàng ngàn thính giả đang ngồi im như 93/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày cầu kinh. Người ca sĩ đang hát trên sân khấu, ánh sáng đỏ rực trên tấm màn nhung đỏ. Tiếng hát vừa dứt, những tràng pháo tay vang động cùng với tiếng reo hò. Con bò rừng tung mình húc tới tấm vải đỏ. Hát thật hay, tôi có lời khen ngợi. Tôi nói cám ơn và đi vào trong hậu trường. Người đàn bà mặt phấn, môi đỏ, mày rậm tiến đến bên cười với tôi, giọng ân cần chúng tôi đang đợi ông. Người đàn bà dắt tôi leo lên khỏi những bậc thang. Nhũng tiếng trống đổ dồn dứt đột ngột. Tấm màn kéo lên cùng với tiếng reo hò của vạn vật. Tôi nhìn xuống thấy đủ loài muông thú. Những con rắn, những con hổ, những con chim cú… Tôi nói cám ơn quý vị, thật đau buồn rằng chiến tranh đã kéo dài quá lâu và tôi lại là kẻ sống sót. Tôi không muốn vậy. Buổi dạ vũ đã tan. Chúng tôi lần lượt xuống thang lầu. Nàng cầm lấy tay tôi rất lâu. Tôi nói chúc em hạnh phúc. Tôi nghĩ nàng khóc. Người bạn nói cả nhà hắn chết chỉ còn lại mình hắn, trái hỏa tiễn rơi trúng giữa nhà. Người bạn nói nó vừa ra trường tới đơn vị chưa đầy một tháng bị mìn chết không toàn thây, còn lại một cái bọc vải nhựa. Cha tôi nói ông ấy điên từ sau khi đứa con cuối cùng bị bắn chết trong khi đi xe đò về phép. Em tôi nói bạn em đi lính hết chỉ còn một đứa lủng phổi phải nằm bệnh viện. Người bạn nói cuối cùng tôi thấy xác bà cụ tôi trong một hầm tập thể, chỉ còn lại những đốt xương trong chiếc áo cũ được nhận. Người cúi cố ngoi người cao lên khỏi lề đường, chìa tay ra xin ông giúp kẻ… Xin cám ơn quý vị. Tôi tiếp tục đi trong hành lang. Lúc sau một người y tá hiện ra. Cô ta nói giọng ngọt ngào xin ông theo tôi. Nàng dẫn tôi vào trong một gian phòng xinh xắn không có ai, trong đó chỉ có một chiếc ghế bành duy nhất, chiếc ghế bọc bằng một lần nhung màu huyết dụ, trước mặt có một chiếc bàn nhỏ phủ tấm khăn trắng muốt, một chiếc ly thủy tinh cao trong suốt có cắm một bông hồng đỏ thắm. Cô y tá để trước mặt tôi một ly nước suối. Cô nói xin ông yên tâm, bà rất khỏe, chắc ông lo cho bà lắm. Tôi nói vâng. Cô y tá vặn chiếc máy hát, một điệu nhạc êm dịu. Chợt có tiếng trẻ khóc ngoài hành lang. Cô y tá đi vào bế theo đứa nhỏ vừa sinh vừa nói ông đặt tên cho cháu là Nguyễn Văn B., cái tên thật hay. Tôi nói cảm ơn cô. Cô y tá bế đứa nhỏ đưa cho tôi, tôi nhìn thấy những vết nhăn trên trán, đôi mắt mở lớn thật buồn. Tôi đưa trả đứa nhỏ rồi đứng lên ra khỏi phòng. Cô y tá chạy theo nói ông bỏ quên cái này. Cô cầm bông hoa ở tay cài lên miệng cho tôi. Mùi hương thanh thoát. Tôi bước ra đường. Thằng em tôi nói tháng này em mới được đổi quần áo. Tôi ngó nó chững chạc trong bộ quần áo quân phục. Trời mưa nhỏ. Con đường vắng lặng, hai hàng cây cao vút để lại một vòm giáo đường. Người đàn ông mặc chiếc áo mưa màu đen, che chiếc dù, người đó đứng lại trước mắt tôi, những nếp nhăn trên trán, đôi mắt mở lớn thật buồn. Người đó nói chẳng gặp anh gì hết, có đến hơn ba mươi năm có nhận ra tôi không? Tôi Nguyễn Văn B. nói chào ông. Người kia quay đi chào ông, làm như người lạ. Phải rồi… Cái áo mưa, chiếc dù khuất đầu, hàng cây cao vút… 94/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày Ngọn nến hồng rực rỡ trước mặt. Em nhắc lại cùng anh từ đầu, anh sinh ra ngày… Những giọt nước mắt tinh khôi lăn trên. 95/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày 1/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày Dương Nghiễm Mậu Trời Cao Đất Dày MỤC LỤC Bông hồng cho... Chuyến trở về sau cùng Trở về và nhớ Cánh đồng mùa xuân Giọt nắng Một nơi có người Cõi sóng lạnh Đôi mắt Ngày đốn cây vú sữa Truy tìm kẻ mất tích 2/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày Bông hồng cho... Hai người lặng lẽ vượt qua dòng suối cạn, người cao qua trước đứng lại ngó người bạn còn ở dưới dòng nước trong vắt vẻ tần ngần, dòng nước trong nhìn rõ những viên sỏi nằm đan dưới đáy, khoảng trời nhỏ chạy theo với con suối, hai bờ rừng già cao những thân cây cao ngất khiến cho bầu trời trước mắt nhìn ngước lên như một cái vòm hút sâu, mặt trời đã xế nhưng trời xanh trong không một gợn mây, những ngọn cây đứng im trên cao đó, phía đầu nguồn sương rừng đã xuống một màu lam mơ hồ quyện lấy những lùm cây xa, lắng trong không gian chừng như tiếng chim rừng về chiều từ xa đang vọng lại. Người cao nói với xuống - Lẹ lên thôi mình phải tới chỗ an toàn trước khi trời tối không thì nguy đó nghe. Người dưới dòng vẫn tần ngần ngắm những viên cuội dưới đáy suối, ánh nước trong khiến cho những viên sỏi có những màu sắc kỳ lạ, người đó bỏ tay xuống mặt nước khua động, vẻ thảnh thơi như không quan tâm tới người chờ đợi. Lúc sau khi người trên bờ đã ngồi nghỉ nơi phiến đá, người dưới nước mới lên, nước còn đọng trên mặt, trên tóc, trên chân, người đó nói - Tôi sợ nước độc, trời chiều hơi lạnh nếu không tắm một cái thì mới thú…ai muốn tắm mát thì lên ngọn sông Đào, muốn ăn sim chín thì vào rừng xanh… Rừng xanh thấy rồi mà sim chín thì không… - Lúc nào cũng như du sơn du thủy không bằng, định ở đây chờ cọp nó đến ăn thịt hay sao đây. - Yên chí đi, mệnh bọn mình to lắm, người còn chưa ăn được nữa cọp. Người thấp vừa nói vừa cười vẻ sảng khoái, tiếng cười vang động cả khu rừng yên tĩnh trong buổi chiều sương lam đang xuống. Người cao đứng lên khỏi phiến đá, mùi hoa rừng hoang dại thoang thoảng trong không khí, men theo những khe đá nhỏ, người cao lần bước không nói một tiếng, người thấp theo sau nhưng chốc chốc ngừng lại hái những bông hoa mọc bên khe đá với vẻ trìu mến. Lúc sau người thấp mới bắt kịp người cao - Chừng bao lâu nữa mới tới được chỗ ngừng chân ? Tôi nghe đói nữa , không có gì ăn thì nguy hiểm lắm. 3/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày - Cứ thơ thẩn chút nữa đi,khỏi cần ăn để mình làm mồi cho cọp có hơn không ? - Sao anh biết trong khu này có cọp, khu rừng dữ gì mà dễ thương thế, cây cao bóng cả, suối trong mát, chim kêu vượn hót, hoa cỏ kỳ diệu, ước cho mình được sống mãi trong khung cảnh như thế này… Tiếc là xưa kia tôi không được biết rằng trên nước non mình có những nơi kỳ thú như thế… Mình sẽ tới đâu ? - Tới nhà một người, tôi tin rằng tới đó anh sẽ không còn muốn đi đâu hết, xưa kia tôi đã sống ở đây… Hai người lặng lẽ bước, đã qua hết khoảng trời trống ven suối, thoát khỏi những tảng đá chồng chất lên nhau, nhưng bây giờ hai người đã phải bước vào bóng tối nhòa nhập trong khu rừng cao. Những thân cây lớn thẳng tắp nhìn lên mỏi cổ, tất cả như có một bàn tay sắp xếp thứ tự một cách mỹ thuật, màu mộc cũ của những thân cây chen vào nhau, không có một cành nào ngang trên lối đi. Hai người đều cảm thấy mình nhò bé trong rừng cây. Tiếng những bước chân lạo xạo trên lá khô tạo thành môt âm thanh vui tai. Người thấp nói - Tôi cảm thấy lạnh… có lẽ trong khu rừng này không hề có bước chân người đặt đến ? - Sao lại không, anh quên rồi sao, xưa kia đã có lúc tôi sống ở đây, anh có muốn tôi chỉ từng cây cho anh thấy không, tôi có thể đảm bảo trong khu rừng này, từ giữa ngọn suối nơi mình đã qua cho tới đây bao nhiêu cây cổ thụ. Hơn thế nữa, có người còn biết rõ từng thân cây lớn bao nhiêu, cây nào đáng được dùng vào việc gì… - Thôi chứ...anh mà còn đùa tôi nữa ? - Anh không tin tôi sao ? Tôi không biết mà sao dám dẫn anh đi, anh nhớ lại xem, từ trên đó ngay từ khi mình bắt đầu tôi đã nói với anh biết rồi, đi trong bao lâu thì hết khu đồi chè, hết bao lâu ngừng qua quốc lộ, bao lâu tới dòng suối, từ dòng suối phải đi… - Thôi anh khỏi nói, tôi nhớ ra rồi, nhưng tôi vẫn thắc mắc không biết anh đang tới đâu, mình có dẫn nhau vào trong một ngôi nhà đá nào không đó ? - Không có ngôi nhà đá nào hết, có một ngôi nhà tranh… Thôi đừng hỏi nữa, phải tin tôi chứ, mình sẽ tới… Khu rừng cao ấy không có dày, chỉ trong một khoảng ngắn hai người đã ra khỏi khu rừng, nhìn lại, những thân cao dựng đứng như một tường 4/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày thành được xây bằng đá trắng đã có rêu phong của thời gian. Trên cùng những ngọn cây màu lá xanh dặm mỏng. Chưa bao giờ mình được thấy một khu rừng như thế, người thấp vừa nghĩ ngợi vừa bước đi, đôi mắt vẫn không ngừng quan sát cảnh vật biến đổi không ngừng trên đường, mũi cũng như cố gắng tận dụng mọi khả năng thở hít cái không khí kỳ bí ngây ngất cuả thiên nhiên...Nếu được tới, được sống trong khung cảnh như thế này, không biết tới bất cứ điều gì, không gặp, không nói với ai… Chợt người thấp ngừng lại ngạc nhiên, cả hai người đã tới một bên sườn đồi dốc, phía dưới một thung lũng đầy sương, những vạt sương trắng đục như mây di dộng với những cơn gió một vẻ hư ảo, dưới đó là một thung lũng hay một vực thẳm. Cảnh vật nhờ nhờ trong ánh chiều yếu ớt càng khiến cho khung cảnh có một vẻ vừa thơ mộng vừa rê gợn. Người cao nói - Anh nghĩ dưới làn sương đục kia là gì, suối, vực hay thung lũng… - Tôi chịu, ở đây làm gì có người, anh có nhầm lẫn không đó, tối rồi mà mình còn ở một nơi như thế này, tôi bắt đầu thấy lo… - Cùng lắm thì ngủ ngoài trời này, người còn không sợ lại sợ thú dữ sao ? - Nhưng nếu trời mưa, đêm chắc lạnh lắm ? - Mưa với lạnh thì ăn thua gì,anh không nhớ những ngày ở trên đó sao, cái hồi bọn mình trong cái hang đá đó, thế mà cũng chẳng chết, chẳng lẽ bây giờ lại chết ở đây, cứ yên đi, tối nay mình sẽ có rượu ngon uống, có thể có thịt rừng nữa… - Thế còn cái món mỹ nhân… bao lâu rồi không còn được thấy bóng một giai nhân… bàn tay mềm mại, hương tóc hăng nồng… - Nghĩ tới những điều đó chắc anh hối hận theo tôi. - Cũng có lúc tiếc, nhưng điều đó không bao nhiêu, tôi hỏi anh, trong những lúc như lúc này mà anh không nghĩ tới một điều nào khác sao, không mơ mộng sao, tôi cũng có lúc nhớ nhà, tiếc cảnh cũ nhưng đâu phải vì thế mà tôi không làm những chuyện khác, con người ta đâu chỉ có một đời sống, những lúc hăng say trong công việc tôi chỉ thấy công việc, nhưng những lúc mình phải trốn chui trốn nhủi, những lúc thất thế, hay những lúc như lúc này thì tôi nghĩ đến những điều khác, chắc anh nghĩ tôi xuống tinh thần phải khộng. Chừng như anh lúc nào cũng nghĩ tới thành công, tới lúc phất cao ngọn cờ trở về, nhưng anh cũng biết đó, trong mưu sự đâu phải ai cũng thành công, bao nhiêu người bỏ mình trong tù ngục, gục ngã trên biên giới, và những trở về lầm lũi… 5/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày Giọng người thấp bùi ngùi, người cao không nói đi men xuống sườn đồi - Thôi anh đừng nói nữa, chúng ta phải qua bên kia thung lũng. Hai người đi lần xuống, mây tạt ngang qua mặt, gió lạnh buốt, họ tưởng như lạc vào cõi u minh nào. Nhưng chỉ xuống thấp một khoảng thì họ đã ở dưới những lớp mây trắng, thung lũng quá sâu, dưới đó những ngọn đồi thấp nằm bên nhau trông rất ngoạn mục. Người thấp ngạc nhiên không nghĩ được rằng mình đã từ trên rất cao đi xuống. Ánh sáng trong thung lũng có một vẻ đặc biệt, màu trắng nhợt nhạt, như thứ ánh sáng của đêm trăng suông, mùi hoa dại đầy ắp trong không khí lạnh, trên cỏ long lanh những hạt sương. Những ngọn đồi cỏ cao, hoa cỏ màu gụ rung rinh theo chiều gió như mặt nước sóng sánh dưới ánh trăng. Chợt người thấp kêu lên - Có người ở đây… Người cao không nói, bước đi, họ vượt qua một khe nước nhỏ, qua một ngọn đồi cỏ chỉ cao lưng ống chân, những hoa cỏ may vượt cao , bây giờ nhìn lên cao bầu trời như bị úp bởi một màng lưới trắng muốt, hai người qua ngọn đồi, vượt thêm một khe nước nhỏ thì tới ngọn đồi có một căn nhà nằm trên đỉnh giữa mấy ngọn thông già, trông từ xa như một bức tranh Tàu cổ, nhưng lại gần thì càng ngạc nhiên hơn, cả ngọn đồi nhỏ không có một cây cỏ nào, toàn thể là một vườn hoa hồng bao la, một vườn hồng chỉ còn để lại một lối đi lớn vào giữa cửa nhà và những đường nhỏ chung quanh, trên những lối đi ấy , những khoảng trống có những chiếc bàn và ghế bằng những phiến đá lớn. Hương hồng tỏa ngát trong không khí, thật sự người ta không thể tưởng tượng được rằng cỏ khung cảnh như vậy ở giữa chốn rừng người bước lên lối đi, một lớp cỏ rêu xanh mướt bằng phẳng, bao nhiêu công phu để làm được một lối đi như thế, hai bên những cây hồng đầy hoa đỏ thắm, những bông hoa lớn nhỏ tươi mướt như nhung, trông những bông hồng đó ai cũng muốn hái nhưng tiếc rẻ nghĩ tới khi bông hoa tàn rụng… Đi hết con đường hai người ngừng lại trước sân nhà hình vuông, sân được dát những miếng đa xanh có gân trắng, trên những khe cỏ rêu xanh mọc, dưới gốc hai cây thông già uốn khúc có bể nước xây bằng đá, bên đó có những phiến đá mặt phẳng để không đều nhưng đủ là một chỗ ngồi trò chuyện cho một ít người, trước khung cảnh người ta nghĩ tới một nơi thờ tự trang nghiêm hơn la nơi có người ở. Ngôi nhà nhỏ được làm trên một nền cao có hiên , vách nhà bằng gỗ trông thô sơ đơn giản, những chiếc cột được làm nguyên bằng thân cây không hề bào chỉ bóc bỏ lần vỏ ngoài, hiên chạy chung quanh nhà, mái nhà lợp bằng lá gồi đan cẩn thận. Phía đầu nhà bên trái có một cái hiên làm dài ra ngoài cùng với nền nhà, nơi giữa hiên có một bàn cờ tướng, số quân cờ không đủ gây cho người nhìn thấy rõ như ván cờ đang đánh dở. Cả hai người 6/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày không nói một tiếng cùng nhau quan sát, chỉ người thấp là nhiều lúc kêu lên ngạc nhiên. Người cao bước lên hiên nhà đẩy cửa bước vào. Bóng tối dầy đặc ở bên trong, chừng như không còn ai ở lại trong nhà, người cao ngừng lại nơi bậc cửa - Cố nhân, cố nhân, có đàn em đến tá túc… Tiếng gọi vang lên rất lâu không nghe thấy tiếng người trả lời. Hai người bước vào trong nhà chỉ có một mùi ẩm mục, trong bóng tối có lúc những mạng nhện quấn vào mặt như một bàn tay vô hình nào. Người cao nói - Anh ấy đã không còn ở đây nữa. - Ai vậy, sao anh biết ở đây có người ? - Người anh cả của tôi, tôi đã có dịp ghé đây hồi trước, cũng năm năm trời rồi… Hai người đứng lại, người thấp thấy rợn người vì sự im lặng và ẩm mốc bao quanh, căn nhà như một ngôi nhà mồ không có một chút sinh khí. - Mình phải bật lửa lên. Vừa nói người thấp vừa bật hộp diêm giơ lên cao. Căn nhà vẫn còn nguyên như ngày nào. Một cơn gió lạnh thổi thốc từ nhà sau lên làm ngọn lửa phụt tắt. - Thôi đừng bật lửa, tôi đã nhìn thấy ngọn bạch lạp nơi trường kỷ rồi. Người cao nhắm vào hướng ngọn bạch lạp đi tới, rồi trở lại, que diêm được bật và châm vào, ánh sáng vàng soi căn nhà. Những vách ván màu gụ, chiếc bàn nhỏ bên tay trái với hai chiếc tràng kỷ đơn giản nhưng bằng một thứ gỗ quý đen bóng, một cửa thông vào phía trong, trên vách bên phải treo một cây cung có ở bên một cụm lan lớn cành lá và hoa đã khô. Người cao đứng lặng, ngó ngàng chung quanh, vẫn còn đó những bàn ghế, đồ đạc… nhưng đã không còn người xưa. Anh ấy đã đi đâu ? Con đường đưa lên biên giới với những mưu đồ cháy đỏ thời trẻ ? Giấc mộng chập chờn say đắm của cuộc tình ngày trưởng thành thơ mộng ? Con đường mòn nhỏ trong rừng thẳm với những bông la rừng diễm lệ, hay con hổ bạch lùng kiếm ngày nào trở lại với tiếng hú rung chuyển rừng xanh đã kết cục một cuộc sống những say đắm chết ngất như đỉnh trời cao rực rỡ một tuyệt đối…Khuôn mặt vuông vức, chiếc cằm những chân râu cứng, đôi mắt lớn màu hạt dẻ tinh quái, mái tóc hoa râm dấu tích những ngày tháng lận đận, tiếng nói sang sảng…Tất cả đã vắng, đã khuất… còn Đồi Hồng đỏ thắm, suối Hoàng Mai trong vắt, hiên Ngạo Thiên đầy ắp gió trăng… Trông bạn 7/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày sững người khiến người thấp cũng không dám cất tiếng, ngọn bạch lạp cháy bập bùng theo cơn gió lộng… Hai người bước vào nhà trong, ngọn bạch lạp trên tay đưa về phía trước, gian phòng lạnh trống, chiếc giường làm bằng gỗ quý rộng mênh mông nằm ép vào một bên ván, án thư không còn một cuốn sách chỉ có vô số những hòn đá đủ màu, đủ kiểu và những khóm lan khô, cây trầm dựng nơi góc vẫn còn nguyên vẹn. Người cao bước tới bên giá súng săn đã gỉ sét, người thấp cầm lên tay ngắm nghía rồi bỏ lại chỗ cũ. Người cao bước tới tủ áo, mở cánh cửa, tiếng kêu nghe khô khan. Một bộ quần áo ngủ còn treo trên giá nguyên vẹn. Mùi ẩm mốc đầy trong gian nhà, người cao động vào bộ quần áo, với ý định gỡ ra thì vải mục rớt xuống tan ra như một đống giẻ vụn, người thấp kêu lên, người cao sững sờ, hai người tưởng như mình đang sống trong một giấc mơ kinh dị, hay đang ở trong một ngôi nhà ma quái… Người cao bước tới mở hai cái chum lớn thi thấy lương khô vẫn còn đầy… - Anh ấy đi đâu rồi, đằng nào thì mình cũng phải ở lại đây đêm nay, mình phải kiếm cái ăn đã, tối đến trời lạnh lắm, phải nhóm lửa lên… Người thấp nghe theo, người cao bước tới góc nhà chất củi vào nơi hỏa lò rồi mồi lửa, gỗ thông bắt cháy nhanh chóng, trong chốc lát căn phòng sáng rực , hơi ấm tỏa ra đánh tan khí cao kéo hai chiếc ghế dựa thấp lại gần bên hỏa lò, trên khúc gỗ lớn vẫn còn lại chiếc bình hoa bằng sành màu gụ, không có một bông hoa, người cao đứng lên trở ra vườn hái một bông hồng vào cắm lên đó. Bông hồng dành cho công chúa. Người cao nhớ tới câu người xưa vẫn nói vào mỗi buổi sớm mai khi chiếc bình được thay nước và cắm vào một bông hoa mới, ngày nào cũng chỉ có một bông hồng độc nhất trong gian nhà. Bông hồng dành cho công chúa. Nhớ lại điều đó khiến người cao mỉm cười. Những miếng khoai ngô được sóc vào những chiếc que hơ lên than hồng, mùi thơm dễ chịu. Người thấp nói - Phải chi bây giờ có một bình rượu thì hay biết mấy, cái chum thịt rừng khô này thật là hấp dẫn. - Ý kiến thật hay, hy vọng rằng còn lại đâu đó một bình rượu cúc của chủ nhân. Vừa nói người cao vừa đứng lên tiến tới vách ván ngăn nhà ngoài với nhà trong, nơi đó có những thân cây vừa phải ghép liền với nhau, mỗi thân cây đều có khoét những khoảng trống, trong đó để những bình rượu bằng sành, mở hết bình này đến bình khác đều thấy nhẵn không còn mùi rượu nữa. Người cao nghĩ thầm chắc những bình đã được uống cạn trước khi lên đường. Sau rồi người cao không mở bình nữa, chỉ cầm lên lắc nhẹ rồi 8/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày bỏ xuống. Khi nhấc tới bình ở trên cao nơi khoảng giữa thì người đó kêu lên vẻ hoan hỉ - Có vậy chứ, trong gian nhà này có bao giờ hết rượu đâu. Cón một bình hoàng cúc đây. Mang lại bên đống lửa, người cao mở bình rượu, mùi thơm choáng ngợp cả gian nhà. - Đúng là hoàng cúc, đây là thứ mà chủ nhân thường dùng. Cầm bát sành phủi qua, người cao rót đưa cho người thấp - Chưa uống mà đã muốn say, anh có thấy vậy không ? Người thấp đưa bát rượu lên môi, xuýt xoa rồi đưa lại cho người bạn, đầu gật gật vẻ hài lòng - Quả là mỹ tửu… tôi có cảm tưởng rằng chính anh là chủ nhân ngôi nhà này. Kiếm ở đâu ra mà có thứ rượu lạ vậy… - Chưa phải là một đâu, ở đây còn nhiều thứ nữa, nhưng chừng đều đã cạn, chủ nhân lúc trước nói với tôi có trên một trăm thứ rượu khác nhau, nhưng đâu phải rượu nào ai uống cũng được, phải tùy tuổi tác, tùy người nữa, bọn mình thì chỉ nên uống tới hoàng cúc , hồng ngọc, lệ lan là cùng, còn những thứ bạch thảo, quỳnh vân thì bọn mình chưa đáng để uống… chủ nhân nói với tôi muốn chuyện uống rượu phải được nâng lên như một thứ tửu đạo, ngày trước tôi được uống một ly nhỏ bạch thảo mà cơn say kéo dài trong bảy ngày, một cơn say thần tiên siêu thoát, rượu được cất bằng một thứ cỏ trắng lấy trên một ngọn núi cao phía trong rừng sâu, chủ nhân cũng cho tôi một nắm cỏ này, mùi thơm, cọng lớn hơn que tăm có những đốt, thân và lá trắng như ngó, bỏ vào miệng nhai có chút chất ngọt mát, những cỏ ấy mọc dưới những khe đá, phải mất nhiều công phu mới ủ và cất được thành rượu, điều này tôi không biết gì hết…Trong những thứ rượu dễ cất nhất là hoàng cúc, nhưng chủ nhân cũng khó khăn trong việc chọn lựa hoa trong khi ủ men, bỏ ngọn đồi này, qua một khe nước, qua một ngọn đồi nữa chúng ta sẽ tới một khu đất khô cằn, khí hậu nóng hẳn, ở đó là một cánh đồng cúc vàng rộng mênh mông, khi muốn cất rượu hoàng cúc chủ nhân chuẩn bị khi mùa nắng bắt đầu, vào giữa mùa khi đất đã khô, vào buổi sáng tinh mơ chủ nhân tới đó chọn những bông hoa cúc mới hé nhụy trong đêm mà hái, công việc hái cúc phải hoàn tất trước khi có ánh nắng mặt trời, như thế hương cúc còn nguyên, ong và bướm chưa hề hút nhụy… Anh thấy đó, cái gì mà không là công phu,thực sự tôi chưa đến tuổi, không đáng mặt để nói về rượu, cái gì cũng có cái nghệ thuật, cái đạo của nó… 9/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày Tiếc thay, anh ấy nếu còn ở đây thì vui biết bao, cũng đáng tiếc cho riêng anh nữa. Người thấp đưa một miếng cá khô nướng cho bạn, anh ta lắc đầu - Hoàng cúc là phải uống suông, không thì nhấm chút trái cây, hay mấy cành hoa hồng là phải phép nhất, rượu này không phải để uống với cá thịt, có vậy mới giữ được cái hương thơm tinh khiết của nó… - Tôi còn trần tục lắm, không thể theo anh, tôi vẫn nóng lòng muốn biết về chủ nhân Đồi Hồng và căn nhà này ? - Tôi biết anh thắc mắc. Thực ra thì cũng không có gì. Tôi xin gọi người đó là anh cả. Anh ấy hơn tôi trên ba chục tuổi, như vậy tức là mình có thể coi như một người già, nhưng thật ra thì anh ấy còn trẻ, còn hăng hái say mê hơn chúng mình nhiều, sau những mưu toan ngày đó anh ấy trốn vào trong này cùng với một số đồng chí, nhưng chỉ được một thời gian mọi người đều bỏ đi vì không đồng chính kiến, anh ấy thì nói phải chờ đợi, phải tu luyện đã, mọi người thì nóng ruột, anh ấy cho thời cơ chưa đến nên nhất định không chịu bỏ khu rừng, trong số những người bỏ đi đó có ông thân sinh ra tôi, khi ấy ai cũng cho anh ấy là một tên gàn dở… Nhưng cuối cùng lại những người bỏ anh ấy mà đi đều chết chẳng còn một ai trở về, tất cả đều thất bại, mỗi lần được tin một người bạn chết anh ấy lại nấu một vò rượu rồi hạ thổ ở ven Đồi Hồng, ông thân tôi là người còn lại cuối cùng sau những thất bại, cha tôi quyết định trở vào trong này và mang theo tôi, chính vì đó mà tôi được biết nơi này, nhưng sau đó cha tôi thấy sức mình đã yếu, nghĩ tới người vợ hiền ở nhà, chết trong núi không đáng nên đã trở về quê, một năm sau , ông thân tôi qua đời. Thu xếp công việc tôi trở lại trong này với người bạn của cha tôi theo như lời giối giăng… Vào tới nơi ông không cho tôi gọi là bác hay cha, ông muốn tôi là em, ông nói ông còn muốn trẻ và muốn tôi coi ông như một người anh cả bởi vì chúng ta phải làm việc với nhau. Không được bao lâu anh ấy dường như quên đi những mộng tưởng ngày trẻ, anh ấy mải vui với Đồi Hồng, với những hoa cỏ kỳ lạ, mải vui với thiên nhiên, thú rừng khiến ông không còn nghĩ tới chuyện dời khỏi rừng sâu…Tôi chờ đợi quá lâu, không chịu đựng được nữa nên xin pháp ra đi. Tôi còn nhớ như hôm qua đây vào đêm cuối cùng tôi cũng ngồi với anh ấy như thế này và những vò rượu cạn. Anh ấy đã khóc nhưng không nói gì với tôi hết… Có điều tôi hiểu phần nào những u uẩn trong lòng anh… Những khẩu súng được lau mỗi ngày, bông hồng đó cắm trong chiếc bình mỗi sớm mai, đôi mắt sáng lên khi nghe rừng xanh chuyển động…Tôi cũng còn nhớ buổi chiều mưa nghe tiếng nước đổ từ trên núi xuống, chúng tôi cùng chạy ra nhìn khối nước bứt khỏi núi tràn xuống, xối chảy trên dòng suối soi băng đi một bên Đồi Hồng mang theo những vò rượu đã hạ thổ đánh dấu cái chết của những người bạn… Hôm đó chúng tôi tưởng cũng bị nước cuốn 10/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày trôi… Một mảng núi lở khiến nước tràn xuống tạo thành dòng suối mới… Trong cảnh ấy anh ấy cũng đã khóc, mọi điều đều tan, tan không để lại chút gì khi trời muốn như vậy… Chừng như đến một lúc nào người ta cảm thông được với tuyệt đối… Tôi nghĩ có lẽ vì vậy anh ấy đã từ chối mọi điều sau chót… mỗi lúc anh ấy một yêu hoa hồng hơn, ngọn đồi vì thế được chăm sóc một cách đặc biệt. Khi tôi theo cha tôi vào đây thì đồi vẫn chỉ có một ít khóm, nhưng đến khi trở lại thì đã nhiều, sau đó trong vòng mấy năm liền anh ấy dành hết cả thì giờ cho việc đốn những cây rừng, chiết trồng những cây hồng mới, và trước khi tôi đi một năm thì cả ngọn đồi chỉ còn lại hoa hồng và anh ấy đặt tên là Đồi Hồng… Sau đó anh ấy ham mê theo đuổi thú rừng, trong những cuộc săn đuổi ấy tạo thêm thú tìm lan và những loài hoa lạ, nhưng chỉ thêm vào mà không lấy đó làm chính, hoa hồng vẫn là giống hoa anh ấy yêu quý nhất, vì hoa hồng đối với anh ấy là một kỷ niệm không thể quên, một nàng công chúa… Người cao nói thao thao không ngừng, giọng kể đầy say mê quyến rũ, nhưng mỗi lúc chừng như một làm cho người bạn bị lôi cuốn vào câu chuyện nhiều hơn, người thấp hỏi - Chắc chủ nhân yêu một giai nhân tên Hồng… Tôi nghĩ… Chợt tiếng cọp hú vang lên, hai người chợt ngừng lại,người thấp tái mặt đi, người cao nhổm người lên, tiếng hú nghe rợn như tiếng ma quỷ và mỗi lúc một như gần lại. Hai người lặng im ngó nhau, mùi hôi thối theo gió đưa vào trong căn nhà, người cao nói nhỏ - Có lẽ con hổ bạch đã trở lại thung lũng… Giọng nói người cao hơi run, một lúc lâu người cao mới rón rén đứng lên đi ra phía nhà ngoài, người thấp cũng theo ra, hai người đứng ép vào khung cửa nhìn ra Đồi Hồng, ngoài đó không khí trắng như sữa, chừng như trên lớp mây đục trắng có ánh trăng chiếu xuống, Đồi Hồng mang vẻ kỳ bí thơ mộng, khung cảnh của một chốn non tiên cũng chỉ đến thế, cả hai người cùng như nhịn thở khi nhận ra một bóng trắng đang nhảy giữa những luống hồng, bóng trắng có lúc vọt cao, có lúc chúi xuống quần nát những khóm hồng cùng với tiếng hú ghê rợn… Sau cùng tiếng hú dội vang và bóng trắng nhảy biến mất về phía con suối trả lại sự yên tĩnh cho đêm vắng, mùi hôi thối cũng tan đi… Người cao vừa trở vào vừa nói - Đúng là con hổ bạch, tiếc là anh ấy không còn lại ở đây, trong hai năm liền khi tôi còn ở đây anh ấy đã lùng kiếm và chờ đợi nó. Ngồi xuống bên hỏa lò, cho thêm củi, bỏ bình rượu cúc vào bên bếp than cho nóng, người cao chỉ tay chung quanh vách 11/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày - Hồi tôi mới trở lại chung quanh ván này đầy những đầu thú, không thiếu một thứ gì, từ hổ, hươu, nai, rắn…anh ấy bắn được mang về lấy thịt phơi khô, đầu và da con nào đẹp thì ướp thuốc phơi khô hoặc sấy rồi trưng làm cảnh, ai cũng tưởng lạc giữa những thú rừng, nhưng một lần đi săn anh ấy bắt gặp một con hổ trắng,anh ấy bắn trật, nó chạy thoát sau khi xuýt vồ được anh ấy, từ đó anh ấy không thèm săn thú nhỏ nữa, anh ấy trở về đốt hết những đầu và da thú trong nhà, mỗi ngày vác súng ra đi đều nói phải hạ cho bằng được con hổ bạch đó… Mình phải săn thú lớn, không thể phí công sức săn thú nhỏ…Nhưng sau đó có những lần dò theo bước chân cả tuần, lùng kiếm chờ đợi anh ấy đều không gặp lại nó. Tôi còn nhớ một đêm ngửi thấy mùi hôi thối, anh ấy bật dậy, vác súng ra ngoài, tôi ở trong chờ đợi, anh ấy lần mò hết một đêm một ngày, nhưng sau thì trở về thất vọng, không phải nó, anh ấy nói vậy với tất cả sự tiếc rẻ, ta gặp một con cũng khá, hạ được nhưng thấy thật uổng công…có lần đi với anh ấy, gặp những thú rừng khác thật ngon anh ấy cũng không thèm bắn, anh ấy nói chờ đợi cho bọn nó lớn đã, chỉ cần hạ được con hổ trắng là ta bỏ rừng mà về, nhưng cho tới lúc tôi đi khỏi anh ấy vẫn không gặp nó, có lẽ đây là lúc nó trở về, tiếc thay tôi không phải là một tay súng giỏi, và có được một lòng kiêu hãnh tự tin như anh ấy… Uống cạn bát rượu nóng, người cao ngả người ra lưng ghế, người thấp cởi bỏ chiếc áo ngoài, hơi ấm làm cho không khí lạnh trở thành thân mật , khi vắt cái áo lưng ghế một tiếng động vang lên, người cao nhỏm người lên, nhíu mày nhìn khẩu súng lục rơi trên sàn gỗ - Anh có khẩu súng ấy hồi nào ? Người thấp hơi cuống, ngập ngừng nhặt khẩu súng lên tay, giọng nói xúc động - Chắc anh nghĩ tại sao tôi đã hành động nhự vậy? Trước đó tôi đã thề với trời đất rồi, nhưng thực ra cũng là tại nó đến số vậy thôi… - Vậy anh giết nó lúc nào ? Người thấp ngập ngừng một lúc mới nói tiếp - Khuya trước đêm mình lên đường, vả lại anh cũng hiểu cho tôi, nếu không thanh toán nó thì tôi không thể đi bình yên được, thêm nữa tôi cần vật hộ thân và một mối thù tôi phải trả, cái chết của mẹ tôi… Người bạn thở dài không nói nữa. Ngoài vườn cây tiếng gió rít từng hồi, trong đó nghe như cả tiếng rừng cây lay động. 12/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày - Anh có lẽ cũng không biết chuyện đó, lúc trước nó đi với giặc hại gia đình tôi, khi cha tôi chết ông nói chính nó đã báo cho giặc biết về những hoạt động của ông, không có bằng cớ khiến bọn nó tra tấn cho mẹ tôi đến chết. Cách mạng nổi lên nó tự đứng vào hàng ngũ như kẻ ở hàng đầu, nó biết tôi hoạt động chống lại nên vẫn tìm cách theo dõi, tôi nghĩ không nên chờ nếu như muốn những người còn ở lại được yên. Tôi phải ra tay, không ngờ hắn có súng…Anh biết? - Sao không, nó tưởng tôi ở trong đoàn thật sự nên nói với tôi phải coi chừng anh như một tên phản động… Chuyện ấy cũng qua, có điều tôi vẫn không muốn tay mình phải nhúng vào máu. Có lẽ đó là điều tôi chịu ảnh hưởng của anh cả. Vò rượu đã cạn, người cao lận mò tìm vò khác, nhưng lắc hoài vẫn gặp những vò không, khi nhắc đến chiếc bình vuông thì người cao nghe như có vật gì để ở trong, thực ra đây không phải là một cái bình mà như một cái phạn vuông vức, trên được đậy lại bằng một viên gạch, mở ra người cao ngạc nhiên thấy cuốn vở bìa cứng ở trong, cầm lên tay với tất cả vui mừng, người cao nói với bạn - Cuốn sách anh cả tôi viết trong nhiều năm, hồi đó anh dành nhiều thì giờ cho những suy ngẫm của anh, anh viết thật khó khăn, mong cuốn sách đã được hoàn tất trong thời gian tôi đi khỏi. Nói xong người cao mở cuốn sách ra dưới ánh lửa, nhưng mở mãi cũng chỉ thấy những trang giấy trắng, ở một đôi trang có ép những chiếc lá màu lạ mắt, một ít hoa và mấy cánh bướm màu sặc sỡ, cuốn vở đã bị xé đi nhiều trang, chỉ còn lại một ít tờ. Người cao mở cuốn vở với tất cả vẻ thận trọng nhưng không khỏi ngạc nhiên, không tìm thấy một chữ nào trên những trang giấy ấy, bỏ tập vở xuống với vẻ thất vọng vậy những trang đã viết bỏ đi đâu, như vậy là công việc ấy cũng không hoàn tất được. Những cánh hoa, cánh lá, cánh bướm khô là thế nào… Người cao lại lục lọi, trước nhất là nơi những chiếc sạp, với hy vọng tìm thấy một điều gì để lại, nhưng tuyệt nhiên không thấy gì ngoài một chiếc trong đó có để một hòn đá đen nhánh. Sau cùng tìm thấy một bình hồng ngọc, mùi rượu siêu thoát, men gần như đã không còn gì, uống vào mới bắt đầu nhạt môi, chỉ thấy thoảng mùi thơm nhưng men rượu sau đó ngấm dần, chừng như đó là bình rượu đã được để quá lâu đã khiến mất đi vẻ rượu bình thường trần tục… Thất vọng người cao ngồi ngả lưng ra sau ghế nhìn ánh lửa bập bùng trong hỏa lò. Men rượu như đưa người vào một cuộc viễn du thoát tục… Người thấp nói - Tôi không biết gì về người anh cả của anh, nhưng qua thứ rượu hoàng cúc và hồng lệ mà tôi được uống đây thì ông ta phải là một tay say 13/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày mê men nồng, sắc đẹp…chính những cái đó đã khiến ông bỏ cuộc…Tiếc thay một người như thế mà không thể đổi cho mình một thứ rượu khác… - Đổi cho mình một thứ rượu khác… Tôi không nghĩ như anh, cần gì phải đổi một thứ rượu khác, anh cả tôi đã có lần nói với tôi. Cần gì phải rượu mới say, có khi uống một hớp nước suối cũng nghe thấy như mình có thể say đến muôn ngàn năm… Với cái nhìn của tôi thì ông đã uống nhiều thứ quá, với đầy những đam mê và kiêu hãnh ông đã uống tới cùng tận, nhưng ông đã không chết được trong những cơn say não nùng đó, trong say ông vẫn nhận biết, và chính vì thế ông đã thất bại… Đó có khi cũng chỉ là một cái nhìn nhiều hơn là một sự thật, vì chính lúc này đây tôi cũng như anh không biết ông còn sống hay đã chết, trong vòng hơn năm năm qua và những giây phút này ông ra sao. Có điều ông khuyên tôi hãy uống cho hết, cho tới tận cùng, hãy say mê cho tới chung cuộc có thể chết đi êm đềm, nhưng phải tin ngay đó mình có thể phục sinh, sống lại trong một say mê mới hoàn toàn tinh khôi như mình chưa bao giờ được sống…phải tin và sống như vậy, một lúc phục sinh…Một phục sinh mới cho tôi, đó là ước mơ của tôi, và tôi tin mình sẽ có được… - Chừng như còn nhiều điều về cố nhân mà anh không muốn nói với tôi, tại sao vậy ? - Không phải thế, chính ra thì tôi cũng chẳng được biết gì. Như tôi đã nói với anh đó, anh cả bằng tuổi với cha tôi, ông là một người hoạt động với những mưu đồ nào đó, sau ông vào trong này, tôi sống với ông sáu năm, tôi bỏ ông đi cho đến nay đã năm năm hơn…Ngày trở lại thì không còn người xưa nữa. Như tôi đã kể ông yêu hoa hồng, thích săn thú lớn, cái ám ảnh về con hổ bạch trong những ngày sau đó cuốn hút ông. Ngoài thú cất rượu để uống, trồng hoa, tìm lan, săn thú cũng có lúc ông ngồi đánh cờ ngoài hiên Ngạo Thiên, thua được gì ông cũng cười, mỗi lần thế ông nói với tôi đáng ngạo ông trời lắm, cũng muốn lập ngôn, nhưng có lẽ công việc đó ông không hoàn thành dược, tất cả với ông chừng như đều thất bại. Nhưng ông nói với tôi, ông hài lòng một điều… - Điều gì ? Người cao nói trong giọng ngà ngà ; giọng nói của người còn ở trong cơn mơ - Bông hồng dành cho công chúa… - Bông hồng cho công chúa, tôi không hiểu gì hết. - Chính tôi cũng không được rõ. Nhưng theo như cha tôi thì đó là một câu chuyện tình. 14/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày - Ông ấy cũng có chuyện tình nữa, thật tôi không hiểu được. Hình dung về ông tôi nghĩ đó là một tay giang hồ, dũng mãnh, giàu nghị lực… - Điều đó thì đúng nhưng anh nghĩ những người đó không yêu sao, nếu anh nghĩ vậy thì anh nhầm, những kẻ như anh nói đó đã không say mê gì thì thôi, nhưng đã say mê thì không phải chuyện chơi, xẻ núi, lấp sông, vượt biển họ cũng không thay lòng đổi dạ được, những người đó bao giờ cũng có những ham mê để chết… - Tôi không hiểu chút gì. - Tôi nhớ lại những năm sống với ông, mỗi buổi sớm mai thì thấy ông bưng bình hoa ra ngoài, bỏ bông hồng cũ đi, tôi trông ông có vẻ gì buồn, có lần ông nói tiếc thay, hoa rồi phải tàn, ta thì không muốn thấy hoa tàn… Ông thay nước trong bình, dạo quanh những cây hồng tìm một bông hàm tiếu trịnh trọng ngắt lấy cắm vào trong bình rồi mang vào trong phòng, sau đó là buổi uống trà của ông, vừa uống trà, vừa ngắm hoa, trông ông những lúc đó như một đạo sĩ. Theo như cha tôi nói thì trước khi bước chân vào cuộc phiêu lưu ông đã có một mối tình, những tưởng một mai khi trở lại cuộc sống sum họp sẽ có, nhưng sau bao nhiêu gắn bó, chờ đợi người con gái kia chẳng được sum họp với người tình…Nàng qua đời trong mòn mỏi, ông được tin lặng người đi cho những dòng lệ chảy trên má, lúc đó cha tôi còn ở bên ông, sau này nhớ lại, nghĩ tới người vợ chưa chung chăn gối ấy, như một thủy chung, ông dành bông hồng cho người khuất, ông không dùng hoa khác vì nàng vốn yêu hoa hồng… ông chưa bao giờ thổ lộ những điều đó, nhưng theo tôi có lẽ cũng chỉ có vậy, tôi còn nhớ một điều ông nói trời phụ ta, ta cười ngạo trời, bạn bè phụ ta, ta buồn ta, con đường ta đi không hết, ta giận ta…Chỉ có một người chung thủy với ta thì ta không đền đáp được… Đó là mối hận lớn duy nhất không biết bao giờ cho nguôi… Bông hồng dành cho công chúa. Tôi nghĩ đó là điều ông dành cho mối hận trong lòng…và đó cũng là cái dĩ vãng duy nhất cháy sáng trong lòng ông… Nhưng sau chót ông đã kết thúc đời ông ra sao, thật tình ông vẫn là niềm bí ẩn… Ngọn lửa hồng và men rượu đã ru hai người vào một giấc ngủ ngắn ngủi lúc nữa đêm về sáng. Khi hai người thức dậy thì trời đã sáng tỏ, mây trong thung lũng đã tan để lại một bầu trời trong xanh, hai người bước ra ngoài thay nước rồi tìm một bông hồng hàm tiếu cắm vào chiếc bình. Hai người ngạc nhiên nhìn những luống hồng bị quần nát bởi con hổ bạch trong đêm, những cánh hoa đỏ giập nát đầy trên mặt đất như những giọt máu đào… Tiếng hổ hú trong rừng trước mặt bỗng vang lên, một đàn chim cánh lớn từ trong những ngọn cây bay lên rợp cả một vùng trời. Người cao chỉ 15/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày tay về hướng đó - Con hổ bạch vẫn còn quanh quẩn trong đó, sao nó không trở lại vào những năm trước. Nắng lên cao, hơi lạnh của rừng đã giảm, hai người đi vòng quanh căn nhà, khu Đồi Hồng rồi theo hướng mặt trời mà đi. Khi qua những khóm hồng đỏ thắm người cao ngắt theo một bông, lên đỉnh đồi người cao ngừng lại, vứt bông hoa theo chiều gió xuống thung lũng… Rồi ở đó buổi chiều sẽ đưa mây về bao phủ, và còn lại căn nhà. Đồi Hồng, suối Hoàng Mai, những bình rượu , hiên Ngạo Thiên và một con hổ bạch... 1969 Chuyến trở về sau cùng Người tài xế mở mắt nhìn lên kính xe, ánh nắng chói lòa chiếu từ trên mái nhà tôn xuống. Tiếng động buổi sáng rì rầm trong khu trại lính. Anh ta trở dậy, những khớp xương mỏi nhừ, với tay gấp chiếc màn nhỏ lại, mở cửa xe, ngồi trước tay lái. Một con gà đang thơ thẩn kiếm ăn trước mũi xe bỗng đập cánh vươn cao cổ gáy, tiếng gáy nhỏ và yếu, lạc lõng. Người tài xế xuống xe, với chiếc khăn mặt nhỏ bẩn thỉu vắt nơi tay lái xuống, nhìn quanh quất, anh tiến lại chiếc vòi nước nơi phía gần tường cao với những hàng dây thép bao phía dưới, chăng phía trên, anh ta bỏ đầu vào và mở nước cho nước chảy sối sả. Anh ta háp miệng lấy một ngụm nước đầy rồi ngửa cổ súc, tiếng nước kêu sục sục trong miệng trước khi anh ta nhổ mạnh nước ra xa. Lau mặt, vuốt tay lên mái tóc, anh ta trở lại leo lên lòng xe đánh thức người bạn đồng hành. Người lính nằm dài trên băng, quấn kín người bằng chiếc màn nhỏ, quần áo và giày vẫn còn ở trên người, chiếc mũ sắt và khẩu súng ở ngay bên cạnh. - Dậy đi thôi. Người lính nằm vùng dậy, dụi mắt nhìn chung quanh lơ đãng trong khi thu màn bỏ vào chiếc ba- lô. Người tài xế kéo ngay lại chiếc quốc kỳ xô lệch trên cỗ quan tài để giữa lòng xe, lá cờ ngắn không đủ che hết cỗ quan tài gỗ, đứng lên, người lính đu người nhảy xuống, chiếc quần vướng vào vòng hoa để bên kéo theo xuống, vòng hoa đã héo để phơi ra chiếc khung làm bằng dây kẽm gai, mấy bông hoa giấy đỏ, hoa dại trắng rơi vãi trên nền đất bột. - Mẹ, vòng hoa bằng kẽm gai nữa. Người tài xế ngồi yên trên băng ghế lấy gói thuốc ra rút một điếu châm hút. Người lính bỏ chiếc vòng hoa trở lên xe. Quà tặng của tiểu khu gởi cho 16/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày người chết, mỗi lần có chiến sĩ hy sinh, nơi phòng tâm lý chiến lại có một công tác, lính được phái đi lấy về những thứ hoa tạp nhạp, bất cứ hoa gì và xúm nhau lại cố gắng làm lấy một vòng hoa tang , những hoa dại mọc trên những bờ tường, nơi hàng rào, mấy bông vạn thọ trong sân tiểu khu, mấy bông sứ trong sân ngôi chùa bỏ hoang ở ngài ven thị trấn. để có được một vòng hoa không phải là một công việc dễ dàng trong tỉnh lỵ nhỏ bé nghèo nàn. - Đi chưa ? Người lính đứng dưới sân hỏi lên. Người tài xế nhìn xuống khói thuốc thở ra trên hai lỗ mũi - Đi cho rồi, trưa có thể về tới nơi, để kiếm chút xăng nhớt đã chứ. Sao không táng nó trên đó cho rồi, chết là hết ,bày đặt làm gì. - Đừng nói thế, nó nghe thấy nó buồn. - Chết rồi còn biết buồn ? - Sao lại không ? - Thôi đi rửa mặt còn kiếm chút cà phê. Người lính đi khỏi, người tài xế ngồi yên, chút sau anh ta lấy bao nhang thắp mấy nén cắm vào chiếc ống bơ để bên cạnh chiếc quan tài. Sinh hoạt trong tiểu khu đã rộn rịp hơn, người ra người vào mỗi lúc một đông, nơi khoảng trống phía gần cửa sổ xe cộ đã gần kín, một vài người đi ngang qua xe ngó lên rồi đi tiếp, mọi người như không chút ngạc nhiên với chiếc quan tài trong lòng xe. Người lính đã trở lại với gương mặt sáng sủa hơn. Người tài xế nhảy xuống xe. Hai người đi về phía câu lạc bộ, nơi đây ồn ào khác hẳn với không khí buổi tối hôm trước. Người tài xế gọi một tô hủ tiếu, người lính ngần ngừ một lúc rồi kêu một ly cà-phê sữa. Khi đứa nhỏ mang cà-phê và hủ tiếu lại, người lính giữ lấy vai đứa nhỏ - Đây có bán đế không nhỏ. - Có Đứa nhỏ nói nhanh và như còn đang cố gắng ghi nhớ những tiếng gọi khác đang vang lên. - Đong cho một xị nghe. Người lính đưa cho đức nhỏ cái chai không, đứa nhỏ chạy đi, người tài xế bẻ thêm bánh mì nhúng vào ăn chung với hủ tiếu, người lính nhẩn 17/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày nha, chậm chạp uống từng ngụm nhỏ cà-phê trong khi hút từng hơi thuốc lá ngắn. - Liệu chiều nay có xong không, kiếm không ra nhà thì chết bỏ đời đó nghe. - Rỡn hoài, có địa chỉ đường hoàng, tao biết ấp đó mà. - Ờ, cứ yên trí đi. Cái thằng chết rồi còn làm khổ thằng sống. Tao đã làm sẵn một chúc thư rồi, nếu chết là cứ việc đào một cái hố ngay bên cạnh mà bỏ xuống, khỏe không, rồi báo cho gia đình biết là được, mang về làm gì cho khổ, khóc mếu, tốn tiền bạc ma chay, mày nghĩ coi… - Chuyện của mày thì khỏe rồi, còn của thằng khác thì mặc xác người ta. Sinh hoạt chộn rộn chung quanh khiến câu chuyện có những ngắt quãng. Gõ chiếc muỗng vào thành tô, tiếng kêu lớn, đứa nhỏ tới mang theo xị đế, nó tính tiền nhanh chóng và thu dọn bàn cho những người khác. Ra khỏi câu lạc bộ, tới sân, người tài xế la lên - Xe đâu mất rồi. Người lính nhìn quanh. Hai người rảo bước, khi ra tới ngoài mới thấy một toán lính đang cố gắng đẩy chiếc xe ra phía sau tiểu khu. - Đẩy đi đâu vậy, bọn nó khùng hả ? Khi tới nơi, một người lính la - Mấy cha nội đi đâu bỏ cái xác này cho ai đây. Sao không mang đi cho rồi. - Đi đây. Người tài xế nhẩn nha như không chút bận tâm tới những người chung quanh. Họ cho thấy một ông lớn sắp tới tiểu khu, cái xe để không phải chỗ nên được lệnh dời đi. Người lính ậm ừ - Tưởng ai tới đánh cắp chiếc quan tài thì bọn này đỡ quá. - Đánh cắp để làm mắm à. Người tài xế nổ máy, người lính ngồi phía sau cầm lấy súng lên tay, báng bỏ xuống sàn xe, đội mũ sắt lên đầu. Anh ta thấy những que hương cháy gần hết. Những lượng khói mờ nhạt loãng tan nhanh chóng vào không khí. Chiếc xe lùi lại rồi chạy trở ra cổng tiểu khu. Người lính gác 18/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày bồng súng chào nghiêm chỉnh. Người lính ngồi trên xe mỉm cười, giơ tay vẫy thay một lời chào. Nắng sáng trên lá quốc kỳ, bầu trời trong, con đường lớn duy nhất của tỉnh lỵ, không có một bóng cây, những cột đèn, dây điện chạy dọc theo hai hè phố như hai bờ cao của một con kinh. Sinh hoạt nhạt nhẽo trong buổi sáng, đường vắng, xe chạy mỗi lúc một nhanh. Khi xe chạy tới đầu quốc lộ, người lính thấy đôi mí mắt như trĩu xuống với cơn buồn ngủ. Gió thổi mạnh làm mép lá quốc kỳ tung bay, những cây hương cháy nhanh hơn và gió không để lại một chút dấu vết của làn khói nhang nhẹ mỏng . Bây giờ nó đã chết. Thật kỳ. Nó ít nói, nó không uống rượu. Ngồi với anh em, mọi người uống đế, uống bia, nó kêu một ly trà đá, một chai nước ngọt, mọi người biết ý nó rồi nên không bao giờ làm phiền nó nữa. Lúc trước, có những lần như thế, bạn bè ép nó, nó mỉm cười tỉnh bơ đứng lên đi khỏi. Có đứa nói kiếp trước nó chết vì rượu nên kiếp này ngửi thấy rượu đã thấy kinh hoàng. Có đứa nói nó là ma rượu. Ai nói gì nó cũng nghe. Sau khi đi kích đêm, trên đường trở về, một phát súng bắn sẻ từ ngực trổ ra lưng ngã nằm xoài chết ngay trên mép cỏ xanh còn ướt sủng sương đêm. Đưa về tiểu khu nhập quan, người ta lục lọi tìm kiếm địa chỉ của nó trước khi đưa tiễn nó lên xe trở về. Nó như trăm nghìn những người khác ở trong cuộc chiến, đến tuổi động viên, theo lệnh gọi nhập ngũ và ra trận. Rồi chết. Xe chạy khỏi tiểu khu lúc hơn mười giờ, trời nắng đầy trên những ngọn cây, đáng lẽ có một tiểu đội đưa nó về nhưng tình hình không yên, chiếc xe chỉ có một người lính, một người tài xế. Từ trên cao nguyên, theo quốc lộ trở về, sẩm tối thì xe chạy được hai phần ba đường. người tài xế cho xe chạy tới tiểu khu, trình giấy xin ngủ tạm chờ sáng hôm sau đi nốt đoạn đường còn lại. Xe chạy mỗi lúc một nhanh hơn, người lính bỏ băng ghế, đi lên phía trên, ngồi xuống lòng xe, phía đầu quan tài, ngả lưng dựa vào khoảng ngăn của thùng xe với chỗ người tài xế ngồi. Cơn buồn ngủ ập đến. Những trạm kiểm soát dọc đường buộc chiếc xe ngừng lại, người tài xế ngừng xe xuống trình giấy. Tới trạm trước khi xe chạy giữa khu rừng cao su để qua một cây cầu xi măng, người tài xế chợt nhìn lên xe và không thấy người lính. Anh ta đến bên, trèo lên, ngó vào, người lính ôm súng ngủ gật. Người tài xế mỉm cười. Người lính quân cảnh tò mò đi theo, trèo lên ngó vào, - Ngủ vậy mà thằng chết nó dậy thì hết đường chạy. Người lính mở mắt, đứng vội dậy, kéo lại mũ, cầm lấy súng. - Sướng nhỉ. 19/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày Người lính không nói, đi trở ra phía ngoài ngồi nơi đầu băng ghế với vẻ nghiêm chỉnh. - Mơ ngủ hay sao vậy, ngồi xuống đi, ngồi thế này có khi ăn đạn cho xem. - Sao vậy ? Người tài xế vừa hỏi vừa nhìn quân cảnh - Xe đang chạy mà nếu thấy có người vẫy tay xin quá giang thì đừng có ngừng lại nghe, phóng cho nhanh mà chạy dù cho có đứa nào đứng ra giữa đường cũng vậy. Hôm trước có mấy con bị đi ngủ… Người quân cảnh cười cười vẻ thoải mái, không bận chút lo sợ. Người lính cười cười theo đưa một tay lên sờ ở gáy, ví dụ một viên đạn từ trong rừng nhắm vào đó. Người lính trở lại chỗ ngồi cũ. Người tài xế nói bâng quơ - Chết có số, đạn tránh người. - Thiệt không bạn ? Người quân cảnh vừa nói vừa vỗ tay lên vai người tài xế. Anh ta chỉ lên chiếc quan tài - Tên nào có phúc vậy ? - Phúc nữa ? - Sao không, biết mấy đứa không còn một miếng, như mắm… - Nó đi kích về thị bị hạ. - Thôi đi cho sớm chứ. Người quân cảnh vỗ mạnh tay nơi vai người tài xế rồi bỏ trở vào trạm kiểm soát. Người tài xế đứng nơi lề đường tiểu tiện rồi trở lại xe, dáng vẻ thong dong. Con đường còn lại, cây cầu xi măng, những tên lạ mặt nào. Anh ta nhìn theo con đường thẳng tắp trước mặt. Ngồi ngay ngắn trước tay lái, người tài xế lấy bao thuốc châm một điếu hút, khói thuốc un đầy trong lòng xe. Người lính ngồi phía sau chừng như nóng ruột khi không thấy xe chạy. Anh ta đứng lên, ngoài người về phía trước nhìn vào chỗ người tài xế ngồi - Ngủ hả, chạy cho rồi còn cà rịch cà tàng chi nữa ? 20/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày Người tài xế cười nhe hai hàm răng vàng nghệ - Nghĩ ớn quá, lên đạn đi nghe. - Sợ chết hả ? - Tao sợ thằng nhỏ nó chết thêm lần nữa thì tội. - Không đâu, bọn mình… - Thôi đi cha, cho con sống với vợ con chứ… Người tài xế mở máy, tiếng máy vang động không khí im lặng. Người lính trở lại chỗ ngồi nhìn khói đen oằn oại phía sau xe. Vòng hoa đã héo rũ, tất cả chỉ còn phơi ra những gai kẽm. Anh ta đứng lên cầm lấy vòng hoa vứt xuống đường, chiếc vòng lăn đi một quãng, những cánh lá, cánh hoa vung vãi trước khi chiếc vòng đổ xuống nằm trên mặt đường. Người tài xế mở hết tốc độ, chiếc xe chạy nhanh trên quốc lộ vắng. Người lính ngồi dựa lưng không yên phải nhích lưng ra và một tay giữ lấy thành xe. Khi mặt trời lên giữa đầu thì chiếc xe vào tới thị trấn để dừng lại. Ghé đồn quân cảnh, trình sự vụ lệnh, gửi chiếc xe để đi ăn cơm trưa nơi một quán bên đường. người lính, người tài xế đều mang theo súng, ba lô, mũ sắt, dáng vẻ yên tâm, mỗi người mỗi đĩa cơm, người tài xế kêu một chai bia lớn uống chung. Uống hết người lính lêu thêm một chi nữa - Khỏe rồi, uống cho phấn khởi. Người lính cười. Người tài xế không nói cắm cúi ăn. Buổi trưa nóng bức, con đường đầy nghẹt xe cộ, khói và bụi mù mịt. Trong mắt nhìn, có lúc người lính thấy như lửa bật cháy và những hình người lay động yếu ớt, có lúc cong đi lung linh trong nắng lửa. - Nắng thế này chắc nó trương lên rồi. - Mới ba ngày ăn thua gì. - Thôi đi, nắng thế này mà nói, có khi hơi nó phá vỡ quan tài cho mà xem. - Bày đặt, hồi năm trước có lần tao chở tám thằng trên một xe, biết không, chết từ một tuần trước, thế mà chẳng sao hết. nước vàng chảy rỉ rả, có mùi, làm tao ăn không được nôn mửa một tuần, thế mà người ta vẫn ôm lấy mà lăn lộn khóc, ruột thịt đau đớn chừng đó, người ta chẳng biết kinh sợ nữa. Thằng này chết vậy là có phúc lắm. một mình một ngựa trở về thảnh 21/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày thơi… Chỉ khổ cho người sống. Cái số mình như phải đóng mãi vai trò của tử thần. - Cái gì ? Mình là tử thần ? - Ờ rồi coi, tao biết quá rồi. Tao vốn ớn cái trò mang quan tài về nhà, báo tin người chết… Mày tưởng tượng thử coi… - Chết thì mang về chứ có sao, họ phải cảm ơn mình chứ. Người tài xế cười ngất. - Mày là cái thứ gì không biết. Nhà người ta đang vui vẻ bỗng nhiên mình đưa đến một xác chết,hoặc đến báo tin một người chết. Như vậy không còn là tử thần à. Lúc gặp người ta cười nói, nghe mình nói xong người ta khóc mếu kêu gào, vậy mà thú vị lắm sao ? Người lính uống cạn ly bia rồi nhìn bạn - Ừ nhỉ, nếu bây giờ mình đang ở trong nhà, cười nói, có người tới báo tin em mình vừa chết, xác để trên xe… không được, không được… Vừa nói vừa lắc đầu, người tài xế đập tay lên đầu người bạn - Say rồi hả. - Đâu có, mình thiệt ngu. Trở lại đồn quân cảnh, người lính và bạn ngồi lên phía trước. Trưa nắng mỗi lúc một khó chịu - Đi chưa ? Người lính hỏi bạn, giọng ngái ngủ mệt nhọc, nói hết câu anh ta đã nhắm mắt lại - Trưa thế này vào nhà người ta kỳ. Thôi cho họ ngủ trưa đi đã. Người tài xế xuống xe, đóng cửa lại, anh ta đi về phía sau nhìn màu lá quốc kỳ rực rỡ dưới ánh nắng. Anh ta di vào hiên nhà, nơi chỗ ghế dài chừng như dành cho những người ngồi đợi, anh ta bỏ khuy áo, ngả người nằm xuống. Khi nghe tiếng còi xe vang bên tai, người tài xế trở dậy thì nắng đã hơi nghiêng xuống. Người lính ngồi trên xe giơ tay vẫy bạn. Người tài xế sửa lại quần áo trở lại ngồi trước tay lái 22/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày - Định giữ của thêm đến bao giờ đây. - Mệt quá, ngủ như chết. Thôi đi. Người lính trở lại sau xe, nhảy lên, đội mũ sắt, cầm súng, ngồi ngay ngắn. Xe ra khỏi đồn chạy vào đường phố. Chạy một quãng ngắn, người tài xế ghé vào lề đường, đứng lên nói với người bạn - Đưa cái địa chỉ đây. Người lính mở túi lấy ra một chiếc phong bì màu nâu trao cho người tài xế. - Chạy hết đường này đi, tới chỗ ngã tư quẹo tay mặt. - Làm như là thổ công không bằng. - Chứ sao. Nhớ là phải đi hết khu nghĩa địa rồi mới tới xóm này. Chà, cái ấp này nhà cửa cũng lộn tùng phèo ghê lắm… Người tài xế không nói, trở lại với tay lái, chuyến xe chạy theo con đường lớn ven đô. Những nhà cửa hai bên không đều, có những khu mới tân trang sầm uất, có những khu còn nguyên vẹn khung cảnh của một vùng ngoại ô, nhà thấp, mái ngói, một vài khóm tre, những tàn vú sữa, những chiếc sân đất và những hàng rào cây xanh thấp. Xe tới ngã tư thứ nhất, người tài xế cho xe quẹo. Con đường rộng, hai bên trơ trụi những mái nhà tôn thấp, không có lề đường, chạy một quãng thì qua khu nghĩa địa, một khoảng dài không có nhà cửa cho thấy hình ảnh khu vực ngoại ô. Khi tới đầu khu dân cư thì người tài xế ngừng xe lại, tắt máy, mở cửa xe bước xuống, anh ta ngó lên người bạn đồng hành đang đứng tì tay nơi thành xe - Xóm này đây. - Đi chút nữa đi, tới con ngõ lớn vào trong, chắc là ở trong chứ không phải ở ngoài này. Người tài xế lên xe cho chạy chậm, tay giữ vòng lái, mắt nhìn vào tấm biển số nhà. Tới đầu con ngõ đưa vào xóm thì xe ngừng lại. Người tài xế nhìn vào tấm bảng treo chi chít nơi chiếc cột cổng, đó là những biển quảng cáo, lời rao bán nhà, những mũi tên chỉ cho thấy những địa chỉ ở phía trong. Một vài người trong quán cóc đầu ngõ chỉ trỏ chiếc quan tài, mấy đứa nhỏ chạy ra, có đứa nghịch leo lên bánh xe, người lính phải la lớn đuổi chúng nhưng chúng vẫn bu quanh. Khi người tài xế bước vào quán cóc thì những người ngồi bỗng nhiên im lặng hết, ai cũng nhìn lên như chờ đợi điều gì. Người lính ngại ngần 23/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày đứng lại gần một người đàn ông đứng tuổi - Thưa bác có phải đây là ấp Tây Nhứt không ạ… - Phải, ấp Tây Nhứt… Con cái nhà nào đây, mọi người chung quanh bu lại, một người đàn bà nói giọng lo âu - Con cái nhà ai đây ? - Dạ Nguyễn Văn T. - Nguyễn Văn T nào cà ? Mọi người lặng im như cố nhớ tên một người nào đó của gia đình, quen biết hiện đi xa. - Nhà số mấy ? Một người đàn bà ngồi phía trong hỏi vọng ra giọng khô. Người lính vừa nhìn vào tờ giấy vừa đọc - Số 131 trên 32. - Thế thì xóm trên kia, đây là hẻm 30. Anh làm tôi hết hồn, thằng con tôi đi hơn tháng nay không có tin tức gì. Người đàn ông thở ra - Anh làm tôi nghẹt thở, thằng Hai nhà tôi nó mới viết thư về nói đánh hoài không về phép được. Không khí trong quán cóc bỗng trở lại vui vẻ, mọi người nói chuyện trở lại, câu chuyện quanh những người đi xa, những liên hệ và tỏ vẻ tội nghiệp cho gia đình nào là thân nhân của kẻ xấu số đang nằm kia. Mọi người cũng nhắc đi nhắc lại số nhà như cố gắng nhớ xem mình có liên hệ gì với con số đó. Người lính sau khi hỏi han về địa chỉ trở lại xe. Khi đứng ở đầu ngõ anh thấy những con mắt ngó nhìn. Có gia đình nào ngày nay không có con em trong quân đội. Có gia đình nào trong suốt mười năm nay không có những cái tang đau đớn. Hôm nào mình cũng ngã xuống, người lính bắt đầu bước lên xe, mở máy cho xe chạy về phía trước. Xe chạy khoảng hơn trăm thước thì tới đầu con ngõ lớn, con số 32 trên tấm bảng lớn treo cao. Người tài xế cho xe chạy vào, những người hai bên gõ thấy chiếc xe chở quan tài thì ra cửa đứng nhìn, những cánh tay giơ lên chỉ trỏ, người lính nhìn một bên, người tài xế nhìn một bên tìm kiếm một con số. Đi được một khoảng thì xe phải ngừng, một ngôi nhà đang xây cất chất đầy gạch nơi đường 24/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày hẻm khiến xe không đi được. Người tài xế đứng lên cao ngó lại người lính phía sau - Xuống tìm chút đi, ngõ này rồi, xe không vào được. Người lính nhảy xuống xe nhìn ngơ ngác hai bên đường. Một số người đã bu đến xe hỏi thăm người tài xế. Không khí im lặng, đe dọa như bỗng nhiên ập xuống con ngõ. Những mắt nhìn lo âu. Ai đó anh ? Những tiếng nhắc lại một tên người ghi trên tờ giấy. Những thở ra nhẹ nhõm. Người lính đã đi vào tới sâu trong ngõ. Người tài xế chợt nhận ra cánh tay vẫy của người bạn. - Thấy rồi. Người tài xế như nói với riêng mình. Thấy rồi, cả một gánh nặng như được trút xuống khỏi vai. Anh ta xuống xe đi lại phía người bạn. - Người đàn ông mặc chiếc quần cụt, áo mai-ô cáu bẩn đứng nơi cửa chờ đợi người tài xế. người lính nói - Đưa giấy coi nào, đúng số nhà này phải không ? Người tài xế vừa mở giấy vừa nhìn lên tấm bảng ghi số nhà - Đúng rồi, 131/32. Từ trong nhà một người đàn bà, một cô gái chạy ra với vẻ kinh hoàng. Người đàn bà hỏi - Gì vậy ông ? Thằng Út hả. - Út chết sao ba ? Mắt người con gái và người đàn bà đỏ lên như sắp khóc. - Không phải, đây là con của ông chủ nhà trước. - Trời ơi, tôi tưởng… Người đàn bà phác một vẻ mặt thoát nạn, người đàn ông nói giọng trầm tĩnh trước sự chờ đợi của hai người lính - Đúng số nhà đấy, nhưng nhà này người ta đi chỗ khác rồi, mới được hơn tháng. Tội chưa, ông ta có hai người con, đứa trước bị gãy chân, đứa này chết nữa… - Bác có biết ông ta đi ở đâu không ? 25/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày - Không, chúng tôi mới mua nhà này. Người tài xế nhìn bạn - Làm sao đây ? Người lính vẻ chán nản hiện ra, không nói năng anh ta đi trở ra khỏi ngõ, những người chung quanh ngó ngàng. Người tài xế cầm sắp giấy tờ đi theo ra. Trong con hẻm chưa lúc nào đông người như lúc đó, họ tụm lại bàn tán với nhau, có người tới gần xe nhìn lên cỗ quan tài phủ lá quốc kỳ với màu sắc rực rỡ. Người tài xế đứng nơi đầu xe nhìn người bạn đồng hành - Thật tổ chác, cái thằng chết tiệt này nó hành mình. Làm sao đây ? Người lính nói - Thì tìm chứ làm sao ? - Tìm ở đâu ? Người lính không nói thêm, anh ta trèo lên xe thò tay lấy xị đế để ở dưới chỗ ngồi mở ra tu một hơi dài… Người tài xế văng tục một mình, lấy bao thuốc ra châm hút, lúc sau anh ta trở lên chỗ ngồi mở máy cho xe lùi ra khỏi ngõ, hai bên hẻm nhiều người vẫn tụ tập, đám trẻ bám quanh xe khiến người tài xế phải bấm còi liên hồi… Uống hết xị đế người lính đứng lên vứt vỏ chai không xuống đường, tiếng vỡ khô sắc...Xe đã ra khỏi con ngõ, đậu sát vào lề, người tài xế mở cửa nói về phía sau - Bây giờ làm sao ? Người lính nói lớn - Muốn sao thì muốn, không biết. Người tài xế văng tục, nhìn bạn hơi mỉm cười - Kiếm chỗ nào cho họ vùi cả bọn cho xong.... 1972 Trở về và nhớ Trực nhìn xuống những ruộng lúa bị cháy đen và xăng chảy từ những ống ra ngoài, vết đen lớn tàn phá lúa. Ngày xa cũ thưa thớt vài bóng cây, xe chạy ngược vào thị trấn dần dần xa khỏi những đồi cỏ để vào đường phố 26/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày với hàng thông cao ướt nước, đường phố đầy bùn đỏ dơ bẩn và chỉ những chiếc xe nhà binh ướt sũng không ngừng, những dãy phố thấp, những hè phố không đều và những đường dốc. Xe ngừng lại nơi cửa nhà thờ, Trực bước xuống đeo ba lô trên vai, bây giờ hãy kiếm một tô mì, môt ly cà phê cho buổi sáng của mình. Bờ lề cao, ngôi quán Tàu mái nhà thấp, những thân cột sơn đỏ, trần thấp ám khói, tủ kính ngoài quầy hàng treo thịt quay, xá xíu người đàn bà Tàu cắt tóc ngắn ngồi từ trên cao nhìn xuống, những bàn vuông và tròn với ống đũa, những chai nước mắm, bình ớt đỏ… Cho một tô hủ tiếu, một phế nại. Đứa con gái không nói bước đi. Trực bỏ ba lô xuống một chiếc ghế, mặt bàn cáu bẩn và ấm nước như đã mốc. Nơi nào cũng chỉ có Tàu, Tàu… dù một thành phố lớn, một thị trấn có người ở, ở đó có hủ tiếu, cà phê dớ, từ đó những ngôi nhà lớn mọc lên và những cửa tiệm luộm thuộm. Thực tôi cũng không hiểu được. Chú tôi nói trong quân đội mấy lính Ba Tàu làm hỏa đầu quân thì ông quan nào cũng khoái hết, họ khôn ngoan , chịu khó và sợ chết nữa, nhưng nhà bếp thì họ không e sợ gì cả… Tôi đã gặp những lính Tàu… Bữa ăn sáng, hơi thuốc lá ngọt, đâu phải lúc nào mình cũng được sống hạnh phúc như thế, nhưng nếu mình được sống hoài như thế đã chắc gì mình thấy mình hạnh phúc. Mình sẽ qua những ngày phép trong căn nhà nhỏ, những đường phố dơ bẩn, những bữa ăn sáng và quanh quẩn ít người bạn…Cuộc sống hình như không còn gì lôi kéo về phía trước mặt mình. Trực bải hoải với những ý nghĩ buồn nản vô cớ. Mình sẽ hưởng những gì và ngay từ trong cùng tận của cuộc sống, một kêu gọi thẳm sâu nào… Và Trực như thấy mình sống lại… … Chiếc trực thăng vượt lên cao mãi theo với những ngọn núi kế tiếp và bầu trời xanh những lớp mây vươn lên chất ngất, len giữa những ngọn núi có lúc mây che khuất ngọn, gió lạnh buốt, qua khỏi những lớp trường thành thiên nhiên hùng vĩ đó trực thăng xuống thấp dần ngang qua những ngọn núi rừng cây với những ngọn cây trải thành thảm lá mướt êm đềm. một khoảng trống hiện ra với những đồn biên phòng nằm gọn trong thung lũng nơi tôi sống những ngày cô quạnh. Trực thăng lượn một vòng, xuống thấp dần và Trực nhìn thấy bóng một vài người trong chiếc sân trống giữa những lớp hàng rào kẽm gai, giữa những công sự chiến đấu, có những cánh tay giơ cao vẫy chào đón đợi…trực thăng sà xuống và đậu giữa sân của tiền đồn, cánh quạt ngừng quay và Trực bước xuống với ba lô, chiếc thùng sắt, tất cả những gì chàng có. Tôi hiểu những gì tôi sắp bắt đầu được sống những người bạn chưa quen, núi rừng xa lạ, mưa gió, thiên nhiên, những kẻ lạ không tên gọi đang ẩn hiện đâu đó và cái chết rình chờ bên những hẻm núi, nơi những gốc cây, lùm bụi hờm sẵn những họng súng, những mũi dao nhọn hoắt đã được mài giũa bằng những lời hô hào , những quyết tâm những lời thề sinh bắc tử nam …Chúng tôi có tám đứa được đưa tới tăng phái cho tiền đồn, người thượng sĩ đứng đón cách phi cơ khoảng 27/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày mười thước mỉm cười nhìn chúng tôi. Trực thăng ngừng cánh, một thành viên bỏ phi cơ đi vào trại mang theo một bao đỏ những thư từ của gia đình những binh sĩ trấn đóng nơi đây. Sau khi vào trại chúng tôi được dẫn tới gian nhà phía tay trái của trại, chúng tôi được chỉ cho nơi mình được sống, một số bạn mới của chúng tôi bu lại có người ngó nhìn, có người cười nói hỏi chuyện chúng tôi, ở đâu tới, bây giờ cuộc sống ở Sài-gòn, ở Pleiku, ở Kontum ra sao. Chúng tôi làm quen với nhau. Sau đó chúng tôi trình diện trưởng trại. Trong căn phòng được chất đầy những thùng đạn dựng đất vây lấy những bức tường, viên sĩ quan lặng lẽ nhìn chúng tôi từ đầu tới chân như một người ngắm nhìn những gì mới lạ. Đại úy N. tiến đến bên Hùng đặt tay lên vai người lính mới, mỉm cười - Chú em giết người rồi hả ? Nét mặt măng trẻ của Hùng như muốn đỏ lên, hắn lúng túng một lúc lâu, Đại úy N. hỏi tiếp - Sao, nhiều hả ? Hùng, giọng mất tự nhiên, nhỏ - Dạ, thưa đại úy không có… - Thôi mà, xạo hoài, cái sẹo nào đây ? Ngón tay trỏ của đại úy N. chạy dài trên vết sẹo từ nơi mang tai xuống cổ, vết sẹo còn để lại những dấu vằn như vết khâu trên da mặt. Vết sẹo làm cho khuôn mặt Hùng có một vẻ đặc biệt vừa dữ tợn vừa dịu dàng. Đôi mắt lớn cuống quýt, dáng ẻo lả. Trực không hiểu được Hùng, sao hắn có thể vào lính sớm như vậy. Trông thấy Hùng trong toán tăng phái, Trực ngạc nhiên không ít. Đại úy N. nói tiếp - Cái huy chương này đáng giá lắm… - Thưa đại úy, một tai nạn, bọn nó hiểu lầm em… Giọng cười khô khan - Không sao, hiểu lầm hay không chẳng sao, nhưng ở đây thì bỏ máu anh chị đi nghe, đây không có chuyện đâm thuê chém mướn đâu nghe, mấy tuổi rồi ? - Dạ, mười chín. - Một hiệp sĩ mù, được lắm… 28/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày Bỏ Hùng lại, Đại úy N. đến bên Thiện cầm lấy cánh tay đưa lên, hình một người con gái khỏa thân xâm trên cánh tay đầy những lông đen quăn, Đại úy N. cười cười bỏ xuống không nói, ông đi tới những người khác. Tới Trực ông chậm chạp nhìn ngắm. Đôi mắt sâu hút, lông mày rậm, nước da đen, đôi môi đỏ, ống mũi nhẹ nhàng. Tôi không thấy nơi ông một vẻ gì hung dữ, Trực đứng im. Đại úy N. - Tóc tai tài tử quá hả, vợ con gì chưa ? - Dạ chưa. Đại úy N. mỉm cười nhưng nét mặt vẫn có một vẻ nghiêm nghị một cách khôi hài - Sao chưa biết hả ? - Dạ biết… Trực ngượng ngùng nhìn xuống, tiếng cười trong cổ họng vị sĩ quan, ông đi trở lại phía sau bàn giấy, ngồi xuống lấy thuốc châm hút - Rồi, các chú tới đây bọn tôi mừng lắm, ở đây thì đường hoàng nghe, giang hồ với nhau, không có quan với lính mẹ gì hết, sống đường hoàng, xuống dưới đó nhận tiểu đội, kiếm rượu uống, có tiền không, đây phát cho mỗi chú một ngàn, cho mượn chờ tháng lĩnh lương trả, trừ đứa nào được bạc thì trả ngay. Rồi, cảm ơn mấy chú. Cả đám rời khỏi phòng, trở lại với những bạn mới, Trực thấy yên tâm phần nào với đại úy N. ông mang đến cho mọi người sự thân mật cần thiết, đáng ra Trực không cần tiền nhưng thấy dáng vẻ của Đại úy N. Trực thích số tiền đó. Trực bỏ đồ đạc vào nơi đầu chiếc giường được chỉ định, chàng nhận thấy căn phòng có một vẻ hỗn độn đặc biệt, những hình khỏa thân lấy ra từ trong một tập báo Mỹ dán đấy nơi những vách ván, bên đó treo những mũ, súng, những cành cây khô, nơi đầu giường gần nơi cửa của phòng có một khóm lan rừng treo từ vách rũ xuống ở bên một cây đàn. Trực nghĩ một tay nghệ sĩ giang hồ. Trong phòng có mười chiếc giường, Trực là một trong hai người được bổ sung cho toán này. Trong phòng, lúc đó chỉ còn lại hai người, Lịnh và Mãnh, những người vắng mặt đang ở trong một chuyến công tác vắng mặt đã ba ngày, Lịnh nói - Tháng trước có hai con đi ngủ, bọn tôi chờ mấy anh. Tôi cũng sắp được về, sáu tháng rồi. - Rách hai con hồi nào ? 29/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày - Tháng trước, mới đầu tưởng thất lạc, sau thấy bị treo trên một cành cây. Giọng Lịnh bình thản. Mãnh đứng bên, tựa người vào vách nhà nhìn chúng tôi, tôi lo trải giường rồi nằm xuống cho những thớ thịt doãi ra. Sáu tháng là ít nhất tôi sống ở đây và có thể chết ở đây. Mãnh nói - Tôi muốn đổi về Lôi Hổ, ở đây buồn quá, ngày đêm lúc nào cũng như bị tù, chẳng có nơi nào là hậu cứ cho mình, thiếu mọi điền cần thiết, sống hết nổi, có lúc muốn phát điên, anh tưởng tượng sáu tháng không đàn bà… Mãnh cười cung cúc như tiếng cười của môt người đàn bà thô kệch không còn duyên dáng của một người nữ. Trực cười theo lặng lẽ. Thời loạn, những đòi hỏi thực tế con người. Mình cũng đã chọn một đời sống đã chết. Sao mình không làm khác ? Làm gì ? Trực lại nhớ tới người con của ông chú, thi xong tú tài nó học cầm chừng và chơi bời, la nó, nó nói nhẹ nhàng đằng nào rồi cũng vào lính, chỉ có chờ, chỉ có trước hay sau… Trực nghĩ tới vô số những người khác cùng lứa tuổi với mình, chỉ có một nơi chờ họ tới Trại binh , sau đó là chiến trường ...Tương lai sáng lên những u tối của một thời đại liên tiếp những biến đổi, liên tiếp kéo tới những số kiếp đồng dạng bi thảm nhoa nhếch những máu và nước mắt. Trực cầm trong chiếc ba lô ra tờ nhật báo cũ bỏ lên giường. Mãnh cúi xuống cầm lên đọc - Ở đây bọn tôi chỉ có la dô, tờ báo cũng trở thành kỳ lạ. Nghĩ thấy những cái này cũng chẳng cần gì. Thực nhiều khi tôi không còn muốn biết gì nữa, mọi điều ở ngoài nơi đây tôi không cần biết tới. Anh cũng đã biết ? - Tôi biết, ở trong lính được hơn một năm rồi. - Như vậy là thọ. - Anh thích Lôi Hổ ? - Không phải thích, nhưng trong những thứ buộc phải lựa chọn thì mình chọn cái nào khá hơn, chẳng lẽ chọn đời sống của một tên trốn chui trốn nhủi hay một tên lính gác cửa, anh thấy vậy không ? - Anh tưởng vậy, tìm một chỗ làm lính gác cửa đâu phải dễ gì tiền bạc không đó ? - Thật là thằng ngu mới lựa chọn như thế, nhiều chuyện không hiểu nổi, thật bọn heo… - Có lần tôi xin đi làm chuyên viên chất nổ mà không được, tim đập ghê quá. 30/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày Mãnh cười, hắn lật trang báo tới chỗ này chỗ khác, Lịnh nằm dài nơi chiếc giường mé bên kia. Hùng đã trải xong và thu xếp mọi thứ cần thiết. Trực nhìn Hùng lúc lâu, vết sẹo nơi mang tai. Nghĩ tới ngón tay của Đại úy N. và câu chuyện ngắn ngủi khiến Trực bật cười và bỗng thắc mắc về Hùng - Trông cậu như tên tội phạm khi đứng trước đại úy. - Phạm tội, rỡn hoài… - Thế sao xanh mướt, run và mồ hôi chảy nhép trên mang tai, cậu cũng anh chị nhỉ, lịch sử một vết sẹo đâu phải cứt gì, cũng đâm chém đấy chứ… - Thôi đi, một tai nạn xe cộ, một tai nạn hồi nhỏ tuổi không thể có à ? - Không tin, trông mặt cậu ta không tin, lại nữa, bước chân vào một nơi như thế này, cậu không phải như thế, khai đi cho anh em nghe chơi và ngưỡng mộ. Hùng lặng thinh không nói, Mãnh ngó Hùng không chớp mắt, Lịnh cũng nhìn Hùng như muốn biết rõ về người bạn đồng đội mới của mình. Không khí im lặng như chờ đợi. Hùng nhìn Trực - Thế còn cậu, không có một lịch sử nào cho cậu sao ? thất tình phải không ? một nàng tiên nào đó đã đá cậu một cú song phi ? - Lại chuyện tình nữa, có thể lắm, chết vì tình là nhất. - Đó là lịch sử của cậu ? - Nàng tặng ta khổ đau Ta không nhận nhưng cầm Mang về để dưới gối… - Chà một nghệ sĩ giang hồ. Cả đám cùng cười rộ. Trực tự hỏi tại sao không có một lịch sử nào cho mình, tại sao mình lại thấy phải bước vào con đường này một mơ ước phiêu lưu ? một lựa chọn vô lý ? một thự tế cùng quẫn ? một vô vọng lười biếng ? Một chuyện tình cho mình có để bỏ đi như hành lý cần thiết là một hạnh phúc mà mình cũng không có. Tôi chỉ có những nàng tiên trong ổ đĩ, chỉ có những thoáng nhìn tội nghiệp, chỉ có một đời sống mồ côi và thực tế cơm áo, tôi không có gì khác ngoài một thực tế tầm thường. Trực như nói với mình 31/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày - Nếu có một chuyện tình như mình nhớ. - Thôi đừng mơ mộng chứ… Hùng bỏ ra ngoài phòng. Trực ngả người xuống giường. Nơi đây tôi sẽ sống những ngày sắp tới. Không khí những người chung quanh mang đến cho Trực một niềm vui, ở đâu cũng thế, trong những năm trôi nổi chàng chỉ thấy có tình bạn. Những bên nhau, đi bên nhau, chiến đấu bên nhau thân thiết như chân tay. Đôi mắt một người bạn cũ mở không ngừng trong trí nhớ Trực. Hai đứa vừa vượt lên khỏi hầm lao đầu về phía trước thì một loạt đại liên nổ xối xả, hắn ngả xuống với tiếng kêu thất thanh. Trực không tiến lên, nằm rạp xuống, quay đấu trở lại, người bạn đang quằn quại với vết thương trên ngực. Quên những làn đạn trên đầu, Trực bế vội người bạn quay trở lại hầm trú ẩn. Người bạn không nói được, máu chảy ướt sang người Trực. Đôi mắt hắn mở lớn không chớp. Lúc sau giữa những tiếng đạn nổ nhức nhối tiếng người bạn thều thào tao chết mất mày. Và hắn chết, đôi mắt mở lớn như tìm kiếm cái gì. Trực nghĩ tới những người thân của hắn. Trực nhớ tới câu chuyện một ngày nào đó đã xa lắm hắn nói hắn bỏ gia đình mà đi, hắn chỉ thương mẹ hắn. Đôi mắt mở trợn trừng, tiếng kêu thất thanh nơi tuyến đầu vẫn như còn đó với hình ảnh khắc ghi. Trực đã lấy bàn tay dính máu vuốt mắt người bạn mà trước đó không lâu còn cười nói bên mình. Chính trong chiếc hầm đó, Trực đã rã người đi với xác người bạn lạnh dần trên tay. Khi trở lại sau trận chiến với máu đầy trên người, những đồng đội đã nhìn thấy Trực như một người chết hiện về. Cuộc sống ngắn ngủi, cái chết tình cờ dễ dàng nhanh chóng đã nhiều lúc khiến Trực bàng hoàng. Bây giờ ở đây, những bạn bè mới gặp, những ngày tháng gai lửa trước mặt, Trực tự nghĩ, biết đâu một hôm nào đó Trực sẽ trút hơi thở bên một người đồng đội . Cái chết mang theo mọi điều đã có trên đời sống, những điều chẳng liên can đến ai. Chiếc ba lô, chiếc thùng sắt, một ít vật dụng, một số tiền chết cũng không ai nhận lãnh, và chàng nằm xuống lòng đất rã tan… Trực trở dậy theo Mãnh đi thăm căn trại. Những bạn mới, những căn nhà như hầm với những vỏ đạn, bao đất, thùng đất chất chồng từ nơi này tới nơi khác, những công sự chiến đấu kiên cố, Mãnh nói - Hồi cách đây ba tháng bọn này bị đói mất mấy ngày, bọn nó làm dữ, trời thì mưa không sao tiếp tế được, tức phát chết là đồ thả dù lại rơi vào bọn nó hết, tức cười nhất là một thùng đồ rơi phía ngoài vòng trại một khoảng, cả hai bên cùng tìm cách chiếm, thằng ở trong bò ra thì bị bắn, thằng ở ngoài định lấy cũng không được, mấy thằng bị chết vì kiện lương thực đó, nghĩ đến tức cười giữa hai làn đạn, sau những ngày cầm cự đến lúc ra lấy được kiện hàng thì chẳng phải lương thực gì hết mà toàn là quân 32/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày trang, chẳng hiểu là họ nhầm hay không, nhưng quân trang đầy những vết đạn và chẳng đứa nào thèm lãnh hết. Nghĩ thực tức cười. - Nhưng cậu thì mong ở trong đó một thứ gì ? - Một người đàn bà được bọc trong một thùng bằng thép. Trực cười ngất, Mãnh nghiêm giọng - Ngó bộ cậu nghĩ đó là chuyện bậy bạ sao ? Một chuyện nghiêm trang đó chứ. - Đâu có, mình tưởng cậu nghĩ tới lương thực. - Lương thực cũng cần, nhưng đàn bà cũng cần. - Bọn đàn ông ở chung lại với nhau, ở trong tù, ở trong trại lính trước hết nghĩ tới ăn đã, trước là cần có cái ăn, sau là ăn ngon và đủ, sau đó mới tới chuyện đàn bà. Ăn đã… Hai người tiếp tục đi vòng quanh khu trại, Mãnh chỉ nói tới nhà nào lương thực, chỗ nào súng đạn, tới căn nhà nhỏ nằm riêng phía góc của trại, ngoài phía sân bay trực thăng, kế đó phía ngoài hàng rào có một sân bay nhỏ trải đá đỏ dùng cho các chuyến bay tiếp tế, đường bay ngắn có nhiều hố đạn chưa được lấp phẳng, dấu tích của những trận pháo kích của địch quân. Mãnh nói - Đó là nhà Vĩnh biệt, và đó cũng là nhà chứa bộ quần áo cho bọn mình diện lần cuối nếu có may mắn… - May mắn ? - Chứ sao ... - Cậu còn yêu đời lắm, nghĩ tới cả lúc chết thì tuyệt thật. Cái kho áo quan ấy trước không có, sau này mới có vì bọn này đã bị một lần cực vì cái ông bạn mình chết ở đó. - Sao vậy ? - Cậu thử tưởng tượng bây giờ có người chết, kéo dài hàng nửa tháng để trong trại này, mùi hôi thối có làm cho cậu chết không ? Bọn này đã bị rồi… Nửa tháng máy bay không xuống được, mưa, sương mù và đạn thù làm cho bọn sống, bọn chết, người bị thương ở chung với nhau .Phải sống qua mới biết thế nào là mùi tử khí . Sau này trại xin cho quan tài bọc kẽm mang xuống, anh nào tịch bỏ vào liền, gắn chì lại, để cả năm cũng không sao… 33/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày Trực rùng mình nghĩ tới cảnh đó nơi chàng vừa bắt đầu thời gian mới của đời mình. Thức ăn, súng đạn và mơ ước . Một nỗi cay đắng buồn phiền xâm chiếm Trực… Những ngày tháng mới, những chuyến đi toán, rừng cao lớp lớp không ánh mặt trời, không một con đường mòn, chỉ có lá rừng dưới chân, những cạm bẫy chờ đợi, những họng súng đâu cũng đã có lần ngây ngất với hương lan hoang dại giữa rừng sâu, những con suối trong vắt chảy dài như con rắn hiền lành. Giữa rừng sâu, giữa những hoang vu đầy mùi thảo mộc đó có lúc Trực nghĩ tới một viên đạn nổ vào đầu, ghim vào ngực và Trực nằm xuống không còn thở nữa. Chàng muốn được nằm đó và thân xác tan rữa. … Trực nhớ tới những điều đó, những ý nghĩ quanh quẩn lâu lâu với hoàn cảnh lại thức dậy… Nhưng chàng đã không chết, chàng đã sống và dời khỏi tiền đồn, chia tay với bạn bè, từ biệt những con đường ngắn ngủi chạy quanh khu trại, từ biệt chiếc giường sắt, những cái ghế trong câu lạc bộ, từ biệt những họng súng chờ đợi nhìn xuống từ những sườn núi, từ biệt những kẻ lạ mặt trì chí trong rừng sâu nhưng có hẹn ngày trở về ? … Những ý nghĩ miên man đến với Trực, cơn mưa ở đâu ập xuống xối xả, buổi sáng như được kéo dài theo với cơn mưa và không khí ẩm lạnh của thị trấn trên cao. Trực kêu thêm cho mình một ly cà phê, thứ cà phê đất bùn này dù sao cũng còn khá hơn thứ cà phê của bọn Mỹ bỏ trong những chiếc bao chua lòm khó chịu. Cửa tiệm gần như không còn sinh hoạt nào khác, Trực ngồi một mình trong đó giữa những bàn ghế bỏ trống. Người đàn bà ngồi nơi quầy có lúc vào nhà trong bỏ lại khoảng trống, ngoài đường, thỉnh thoảng một người ngang qua với áo mưa ướt bóng. Những chiếc xe nhà binh chạy nhanh xuống dốc vời tiếng máy khó chịu. Mưa như thế này ở trong thung lũng thì coi như buổi tối đã bắt đầu và mọi người nằm ngồi trong ánh sáng vàng của những ngọn điện treo trên cao. Tấm lịch chàng có đã phải được gạch đi từng ngày để biết thời gian trôi, những ngày hành quân trong rừng, có lần trở về Trực không còn biết rõ ngày tháng. Chừng như thời gian trong những ngày tháng ấy dài hơn những ngày tháng khác. Trong ngôi trại, mùa mưa có những giấc ngủ kéo dài khi thức dậy chàng không còn trí nhớ để xem mình đang ở trong đêm mình đã ngủ, ngày hôm sau hay là một đêm khác đã bắt đầu, những ngày tháng vô vị lãng đãng đó như một cảm giác vô vị nhạt nhẽo lềnh bềnh trôi và Trực thả mình trong lười biếng cùng trí óc cùn nhụt… Hai đứa nhỏ đánh giày ướt át đi vào, đứng nơi cửa ngó ngang quán ăn tìm kiếm những khách hàng. Một đứa đến bên Trực - Đánh giày anh hai… Không kịp nghe trả lời đứa nhỏ đã ngồi ngay xuống kéo giày của Trực định đánh, Trực kéo chân lại, ngó xuống 34/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày - Mưa gió mà đánh gì chú bé. Đứa nhỏ tay vẫn cố lôi chân Trực, mắt nhìn lên nhìn Trực với vẻ tội nghiệp khó chịu, đôi mắt thơ ngây, khuôn mặt khô lại, những giọt nước còn chảy nhoa nhếch trên mặt, chiếc áo cánh mỏng ướt nhép, chiếc quần ngắn, hắn ngồi bỏ cao hai đầu gối trần ra ngoài đầy bùn đỏ. Trực nhìn vào mặt bàn - Thôi không đánh đâu em. Đứa nhỏ đứng lên ra cửa ngồi xuống bên đứa bạn nhìn ra ngoài đường cơn mưa đang xối xả đổ xuống. Một đứa đang hút một điếu thuốc, khói bay lên chậm chạp trong bầu khí lạnh đặc. Cơn mưa làm bầu trời thấp và tối, những thân cây và những căn nhà bên kia đường nhòe đi trong mắt nhìn. 1972 Cánh đồng mùa xuân 1 Chú tôi ngồi dựa lưng vào tường , hai tay cầm lấy hai mép của chiếc bao tải căng rộng ra đưa xuống dưới chân, hai chân co lên rồi lồng vào chiếc bao tải và duỗi thẳng, chiếc bao tải quá khổ nhờ thím tôi tháo đáy một cái rồi khâu nối lại với nhau, miệng chiếc bao tải kéo lên ngang ngực, chú kéo hai đầu dây buộc lại, bây giờ chú đã gọn gàng trong chiếc bao,hai tay bỏ xuống dưới, ngả người vào vách nhà. Tôi cởi chiếc khăn quàng ra chùm lên đầu còn lại quấn một vòng cổ và buộc lại - Năm nay sao rét ngọt quá, rét từ trong bụng mà ra, cháu làm cái ổ rơm dưới hầm cẩn thận không ? - Ở dưới ẩm quá, chắc hầm ở dưới mực nước ao. Thím tôi ngồi ở chiếc ghế đẩu phía ngoài đang hơ những ngón chân lên những nùi giẻ cháy khét và khói mù, có lúc nhăn mặt vì đau đớn với những khe chân nước ăn bị nứt ra. Chú tôi cầm chiếc điếu cày hít một hơi thuốc dài, hãm khói rồi thở khói thuốc lên cao. Chú bỏ chiếc điếu xuống bên, ghếch lên vách nói lơ đãng - Chú muốn cháu ở hẳn ngoài ấy, cháu không nên ở nhà nữa, mặt trận mỗi lúc một thít lại, bom đạn thì vô chừng... 35/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày Thím tôi ở phía ngoài ngẩng lên nhìn tôi rồi lại cúi xuống, tôi nhìn chú tôi - Cháu muốn đưa bố cháu đi, không thể để ông dưới hầm mãi như thế. - Làm sao đi ? Lên tới huyện là có thể bị bắt giam rồi. Giải thích làm sao đây ? - Để bố cháu chết ở dưới hầm đó sao ? Chú tôi ngồi im, tôi thấy hai ngón chân cái chú động đậy trong chiếc bao tải. Ngọn đèn nhỏ như hạt đậu xanh đứng im trên ngọn bấc, gian nhà chìm vào trong một thứ ánh sáng vàng nhờ nhờ bệnh hoạn. Tôi nghe như những ngọn gió lẻn vào trong vách vào trong nhà, hơi gió buốt có lúc len vào cổ, luồn vào trong chiếc áo bông ngắn ngủn trên người. Chú tôi thở dài, cúi xuống với hai tay khoanh trước ngực - Chú cũng tính đưa thím ra ngoài kiếm ăn, ở nhà không yên, nhưng cháu thấy, bây giờ mình đi thì như chim chích vào rừng làm sao nuôi sống được nhau, ruộng nương ở nhà giao cho ai, bán thì không có ai mua, mình chỉ có thể sống được ở quê nhà, riêng phần cháu thì được, chính thế chú muốn cháu hoặc trở ra ngoài đó hoặc trở vào với bác. Chuyện của bố cháu để chú thím lo, cháu còn nhỏ… bây giờ ở quê mỗi lúc một bất ổn, cháu thấy đó, mới đêm qua ông Trùm bị giết. - Ông Trùm bị giết ? - Chú mới nghe tin hồi chiều, tính xuống dưới thăm nhưng rồi chú không dám đi, từ đây xuống Bãi Bồi chiều tối là không còn bóng người. Đêm qua họ họp ở dưới đó, ông Trùm bị mang ra xử và bị bắn ngay ở cửa nhà thờ… - Tội gì, họ nói tội gì ? Ông Trùm già và hiền… - Chó săn cho Tây. - Thực sao ? thế chú gì đó con ông Trùm là du kích sao không cứu cha ? - Tây nó bắn chết hồi năm ngoái rồi. - À phải rồi… Tôi ngồi yên với những ý nghĩ miên man, bây giờ thì thực sự chú thím tôi đã không muốn cho tôi ở nhà nữa, dù chỉ là những thời gian ngắn ngủi, 36/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày những tuần lễ học hành ở ngoài tỉnh không cho tôi yên tâm mỗi khi nhớ tới cha tôi đang nằm dưới hầm và quê nhà thân yêu, chú thím tôi phải sống trong vòng lửa đạn[1]. Có lúc tôi muốn trở lại Nha Trang với bác tôi, nhưng tôi đã không thể quyết định được giữa vô số những giằng co không đâu, mà tôi nghĩ những người cùng trang lứa chắc không nghĩ đến. Khi nghĩ tới chuyện đưa cha tôi ra khỏi hầm, đưa cha tôi ra tỉnh, tôi hiểu ngay rằng tôi chưa đủ lớn để làm một điều gì. Đêm càng khuya tôi càng cảm thấy lạnh buốt nơi hai bàn chân không, mùa đông trở lại, ở quê không có chăn, thím tôi đã mua được mấy cái bao tải và đêm lại mỗi người chui vào trong cho qua giấc ngủ trên ổ rơm khô. Những buổi sáng thức dậy bỏ tay vào chậu nước cảm giác tê buốt chạy khắp cơ thể, trên những mặt ao tù chừng như hơi nước còn đọng lại và tôi chờ nắng lên ra ngồi ngoài sân gạch cởi chiếc áo len cũ ra lần bắt những con rận nằm nép bên những đường đan gấp lại, những con rận khô bên những chiếc trứng trắng tươi như hạt vừng nhỏ đã sát vỏ. Và mỗi ngày tôi mang xuống hầm cho cha tôi môt ấm đất nước nóng. Có những buổi sáng tôi thấy cha tôi vẫn ngủ say nằm co quắp trong chiếc bao tải, có buổi tôi tưởng như cha tôi đã chết. Lúc bấy giờ mùa đông, tôi nhớ rõ thế, trong một tình thế khó khăn bất ổn, chú tôi đã không muốn cho tôi ở lại nhà, tôi thì muốn đưa cha tôi lên khỏi hầm, đưa ông ra tỉnh sống, nhưng chú tôi không thể giúp tôi thực hiện điều đó, chú tôi cho tôi thấy tất cả những khó khăn, tôi ra tỉnh và tìm kiếm, hỏi han một số người quen biết giúp cho, sau chót tôi có một người đằng ngoại nói với tôi là nên nói chuyện đó với Cha sở, nhờ ông nói với Tây và ông Quận rồi đưa cha tôi đi. Thực ra lúc đó chuyện cha tôi trốn dưới hầm vẫn không ai rõ, tôi thì nói cho người ta hiểu mập mờ như là cha tôi ở ngoài khu muốn về tề. Và tôi mang chuyện đó ra nói với cha tôi. Đúng như chú tôi tiên liệu, vài ngày sau khi ông Trùm bị xử bắn thì Tây hành quân càn quét một cách hung bạo, đêm họ lại bắn moóc- chê vào làng nữa. Cha tôi ở dưới hầm mà cũng run. Nhưng ngay khi Tây đi khỏi, đêm lại, du kích về đốt sạch cả xóm Bãi Bồi, lửa cháy sáng cả một góc trời, tôi ra đứng nơi sân ngó về hướng bên kia bờ đê mà kinh hoàng. Nhưng cũng may phần lớn những người ở đây đã bỏ xóm mà lên tá túc trên huyện cả. Tôi kể lại sự kiện này cho cha tôi nghe, ông thở dài và buồn khi nhắc tới ông Trùm, một người bà con xa với gia đình. Tôi nói - Con muốn cha ra tỉnh, con không muốn thấy cha chết ở dưới hầm. Cha tôi lắc đầu nhìn tôi, tôi thấy những ngọn tóc bạc lay động. - Vậy cha chịu chết ở dưới này sao ? 37/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày - Không cha tin ở một đổi thay. 2 Người lớn tuổi im lặng cúi nhìn xuống khoảng đất bột phẳng mà người trẻ tuổi đang dùng chiếc que vẽ một tràng pháo đài với những chiếc pháo đều đặn. Người trẻ ngửng lên nhìn bạn, người lớn tuổi giọng mơ hồ - Lại hồi tưởng, thời ấy đã xa rồi… Anh lại đang… - Tôi nhớ lại một cái Tết hồi còn ở lại ngoài Bắc, cái Tết cuối cùng nơi quê hương, và có lẽ là cái Tết cuối cùng trong đời, dù là Tết trong thời loạn, từ đó mình không còn là Tết nữa, anh có vậy không ? Người lớn tuổi phác một nụ cười trễ biếng trên môi - Người ta bao giờ cũng gắn bó với quá khứ, chính quá khứ đã khiến anh không sống được gì, đó là một thiệt thòi, lỗi một phần ở anh. - Lỗi ở tôi ? - Một phần, đừng cáu giận chứ. Người trẻ im lặng cầm cái que trên tay vứt ra xa, lấy chân chùi bỏ hình vẽ trên mặt đất. Người lớn tuổi nhìn vẻ ái ngại - Nhiều lúc tôi không hiểu gì nơi anh hết, anh thật gần với tôi, nhưng có lúc tôi thấy anh lạ quá, những điều anh nói với tôi cũng vậy, có lúc tôi nghĩ anh sắp làm sáng tỏ một điều gì, thì ngay đó tôi thấy anh đã xóa bỏ nó không giải đáp, và ngay đó anh lại mở ra một vấn đề khác không ăn nhập gì… - Không phải thế, chính nó vẫn ở trong câu chuyện mà tôi đang nói với anh, muốn anh giúp, tôi thấy tôi không thể giải thích được một cách thỏa đáng, để sau đó có thể chết thanh thản. - Không phải thế, không phải là cái chết,chính là sự sống… - Tôi đã lại thấy đau đầu, chừng như có một hạt sạn nào đó lọt vào trong đầu tôi. - Không phải đâu, tôi biết một chuyện khác. - Cái gì ? - Một cái cây đang mọc ở trong đó. 38/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày Người trẻ vẻ mặt nghiêm, người lớn mỉm cười tinh quái - Tôi biết, hồi nhỏ, anh ăn ổi, ăn cam, ăn nhãn rồi anh nuốt hột vào trong bụng, phải không, bây giờ những hạt đó đã mọc mầm và đâm lên đỉnh đầu. Người trẻ tuổi phá lên cười, người lớn cười theo, tiếng cười hồn nhiên giòn tan trong không khí yên lặng của khu bệnh viện. Người trẻ gật đầu vẻ tươi tắn trên nét mặt xanh xao - Anh làm như tôi còn con nít, điều ấy hồi nhỏ tôi vẫn sợ mỗi lần ăn quả gì mà vô tình nuốt cả hột, nhất là khi ăn nhót, anh biết không ? - Thôi đừng nói, chảy cả nước miếng, tôi nhớ nó hồi được ra Hà-nội học, những trái gì mà mọng đỏ, với phấn và mình cầm từng trái sát vào áo len và áo dạ… Ơ nhưng mà hình như anh đang nói với tôi chuyện gì kia mà, đâu phải là những trái nhót nhỉ ? Người trẻ tuổi lặng yên, người lớn nhìn mông ra khu sân cỏ của bệnh viện, người trẻ tuổi tư lự, người lớn tuổi ngó bạn thương hại - Điều tôi muốn biết là cha anh sau đó có được cứu sống không ? - Thong thả anh để cho tôi nhớ lại, vâng… Người trẻ lấy một điếu thuốc châm hút, người lớn tuổi lấy một viên kẹo ngậm, chút giấy bông nhỏ vê tròn trong lòng tay. Người lớn tuổi đứng lên đi về phía bên kia nhà nguyện, buổi chiều đã xuống, trên con đường từ cổng bệnh viện đi vào số người vào thăm bắt đầu đông hơn, những bước đi vội vàng, những gói quà trên tay, trong giỏ xách. Người trẻ tuổi vẫn ngồi im nhìn người bạn bước đi chậm, người lớn tuổi quay lại nói - Đứng lên, đi một chút cho nó khỏe chứ. Người trẻ vừa đi đến vừa nói - Đã què rồi còn ham đi, nếu còn chân chắc lúc nào anh cũng chạy, phải thế không ? Người lớn tuổi cười, gõ tay vào chiếc nạng - Chưa chừng rồi tôi trở thành một hiệp sĩ độc cước. Người trẻ nhìn bạn ngậm ngùi 39/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày - Bây giờ chỉ toàn là những hiệp sĩ, hiệp sĩ mù, hiệp sĩ độc thủ, hiệp sĩ cụt, có điều toàn là hiệp sĩ không có kiếm. - Anh nghĩ tôi khuya cái nạng này lên mà không mệt à. - Thôi, cũng không xong đâu, anh không thấy là mình thua đấy sao, thua rồi, hỏng rồi… Tôi , tôi mất hết cả tin tưởng. Chúng ta ở trong một cái vòng siết rồi. và đau lòng hơn hết khi tôi thầy chúng ta đứng ở hai phía của Tây phương lại vẫn cứ tưởng rằng mình là dân tộc… Người trẻ tuổi dừng lại với cơn ho rũ rượi, người trẻ rũ người xuống như một tàu lá, người lớn đi vội lại bên cho người trẻ tựa lấy, cơn ho nghẹn ngào, khi cơn ho dứt, người trẻ ngửng mặt lên với khuôn mặt nhòe nhoẹt những nước mắt, da tái nhợt, hơi thở gấp gáp cồn cào - Nói cho cố, nghe bệnh anh không khá được, mình lại kia đi, ngồi một chút cho khỏe lại. Anh bi quan quá. - Bi quan, bác sĩ bảo tôi không chết vì bệnh mà chết vì những điều nhảm nhí trong đầu. Nhảm nhí, cái tiếng ấy nghe hay thật. - Anh không thấy là thời tiết đang chuyển đó sao, cuối đông rồi, mùa xuân sẽ đến… - Anh đừng an ủi tôi, mùa xuân. Tôi đâu đã được sống. Trời đã tối hẳn, buổi chiều đã tan, những ngọn đèn đã bật sáng, hai người trở lại phòng. 3 Khi chuồi người được vào trong hầm, tôi ngừng lại một lúc để làm quen với bóng tối vây quanh, trong ánh sáng lờ mờ tôi nhìn vào góc tối quen thuộc nơi cha tôi vẫn ngồi, tôi thót người hốt hoảng trong giây phút, tim đập mạnh, chỉ còn một ổ rơm bỏ trống với dấu vết của một chỗ ngồi. Cha tôi đã biến đi đâu ? Tôi tưởng tượng tới chuyện cha tôi đã rời khỏi hầm và biến vào một thế giới nào đấy, biết đâu, trong đêm trước mặt một người nào đó, người bạn cũ chẳng hạn, đã đến đây với mũi nhọn trong người mang cha tôi đi, rồi một bản án ghim trên ngực, hay một viên đạn xuyên mang tai… Tôi run lên với những lo sợ. Tôi đứng im lắng nghe, với những cố gắng tột cùng tôi tìm kiếm cha tôi… vách hầm phía trước mặt, lỗ thông hơi với ánh sáng, bên trái tôi và bên phải, tôi giật mình, cha tôi đang đứng ép người vào một vách hẩm ngay bên người tôi. Tôi thở ra, lấy lại bình tĩnh cha, cha làm gì vậy ? Tôi nghe thấy tiếng cha tôi thở dài, bỏ chỗ đứng và ngồi xuống nơi ổ rơm tệ quá, thời gian làm cho cha mất khả năng chịu đựng, cha đứng thẳng xem mình còn sức khỏe không, tệ lắm rồi, đứng đã 40/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày thấy mỏi, đầu gối đã thấy run và hơi thở không đều nữa… cha tôi cười thành tiếng. Tôi đã quen với bóng tối đi tới ngồi xuống bên cha tôi. Như một thói quen cha tôi nói con hãy kể những chuyện con biết cho cha nghe… Tôi ngồi và nói cho ông biết những chuyện đang diễn ra trên mặt hầm, những trận càn quét, những sinh hoạt của mọi người, trong đó có chuyện một thanh niên trong làng đã dẫn Tây từ đồn về khui lên một cái hầm của du kích, bắn chết hai người, bắt đi một người và đốt ngôi nhà có hầm… Anh ta bị bắt cách đây một tuần, hôm nay trở về với vẻ vàng vọt, chú nói Tây nó đánh dã man anh ta không chịu được nên khai, anh ta là con bà nhiêu gì dưới xóm dưới, ngay sau khi Tây dẫn người con về khui hầm thì ông bà ấy vội vàng ôm quần áo lên huyện vừa đi vừa khóc, họ sợ đêm du kích về thì khó sống. Cha tôi thở dài e rồi cũng có ngày Tây nó khui được hầm của cha cho mà coi, con bị đánh có khai cho cha là Việt Minh không ? Một cảm giác lạnh buốt chạy suốt sống lưng tôi. Tôi hình dung tới khi mình bị treo lên sà nhà, bị côt điện vào chân tay, bị ngâm vào trong bể nước dơ bẩn, bị đổ nước sà phòng vào miệng rồi người ta dùng một tấm ván đè lên bụng mà nhảy lên cho ói hết mật xanh mật vàng…có khi lúc ấy tôi sẽ khai cha tôi là Việt Minh… Cha đang đào hầm cho sâu hơn một chút nữa… Vừa nói cha tôi vừa trở lại nơi cha tôi vừa đứng, ông cầm lấy chiếc bát và đào đất lên, tôi thấy ở chỗ đó đất đã sâu hơn xuống một chút. Nhờ đất dưới hầm và dưới sâu nên mềm, với chiếc bát cha tôi có thể đào được một cách không khó khăn nhưng chậm chạp. Ông cắm cúi làm việc như quên tôi có mặt ở bên, trong bóng tối nhờ nhờ tôi nhìn thấy những cố gắng nơi ông dồn vào một bên tay ra sức đào sâu thêm chiếc hầm của mình, trên thái dương những nếp gân như cũng nổi lên với những cố gắng của cha tôi, nơi đó tôi tưởng như mồ hôi đang vã ra. Con đã thấy một người giãy chết ở trước mặt bao giờ chưa ? Chưa. Cha đã thấy một người giãy chết trước mặt, biết ông ta chết mà không sao cứu được, người ta cắt cổ ông ấy, máu phọt ra nơi cổ như người ta cắt tiết một con gà, sau đó là những bọt, chân tay thì giãy giãy nhẹ nhẹ, có cái lạ là người đó không chết nhanh chóng, anh ta vẫn cố gắng thở như bám chặt lấy sự sống…bây giờ hình ảnh đó như vẫn còn hiển hiện, lúc bấy giờ người ta như thế nào nhỉ… Trước đó với con người đó, anh ta đã nhìn thấy một con người khác, hắn là kẻ cầm con mã tấu từ từ cứa lên cổ kẻ được coi là thù địch kia, nào đâu có phải là một nhát chém mạnh cho xong ngay, hắn không muốn thế, hắn nói phải bắt nó chết từ từ, chết trong đau đớn, xưa kia vua chúa trị vì phạm nhân còn đặt ra lệnh “tùng xẻo” thì đủ biết, môt tiếng trống đánh lên, một miếng thịt được cắt khỏi cơ thể, cho tới lúc kẻ kia chỉ còn một bộ xương… Kẻ ấy phải chết vì bị kết tội Việt gian, trong người mang cờ tam tài, một miếng vá nơi lẩn trong chiếc áo khoác, còn để làm gì nữa, chính là dùng để ra hiệu cho máy bay Pháp dội bom xuống bộ đội…Cha đã sống giữa một phiên tòa, một phiên tòa được coi là 41/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày của nhân dân kết án kẻ kia, người ta la thét, chửi bới, lớn tiếng như một bầy thú điên cuồng, trong cuồng nộ của đám đông kẻ bị mang ra xét xử chỉ còn có cái chết chờ đợi, hắn không được bào chữa, tiếng nói của bị tước đoạt, giành giật, hắn xanh như tàu lá giữa đám đông và tiếng nói của hắn biến mất, với đôi mắt thất thần nhìn quanh nhìn quất như chẳng còn ai có thể cứu được hắn… Hắn chết trong cơn cuồng nộ của kẻ khác và trong sự u tối, ngu xuẩn của đám đông bị dẫn dắt lôi kéo với những mưu toan… Cho đến ngày nay cha vẫn không quên được sự việc… Cha tôi bỏ chiếc bát xuống, đứng lên, dựa lưng vào vách hầm, ông đứng thật thẳng, hai chân bỏ cuống hố mới đào thêm, ông giơ tay lên khỏi đấu chưa được. Ông vừa đụng tay lên trần hầm vừa nói ngắn gọn, phải đào thêm nữa, như thế này chưa đủ để treo cổ mình lên. Tôi nói nhanh trong hốt hoảng cha định chết – Có lẽ chỉ có cái chết cho cha, cha không muốn chết một cách khổ sở. Tôi ngồi im nhìn cha tôi đứng dán lưng vào vách hầm, mái tóc dài vuốt về phía sau, những sợi râu dài, đôi mắt nhắm lại, đôi má sị xuống như da mặt một người bị phù thủng… Trong bóng tôi nhờ nhờ tôi thấy cha tôi như đã chết bao giờ. Có phải tôi đang ở một bên người chết, có khi không phải là cha tôi nữa mà là một con ma nào đấy ? Tôi nghĩ tới một người bị căng lên vách ván và những cái đinh dài đóng khắp thân thể, hình ảnh của Chúa Cứu Thế trên thập tự giá… Tôi không hiểu được rằng chúng tôi đã đứng im như vậy trong bao lâu, mãi cho tới lúc tiếng cha tôi nói mới đưa tôi ra khỏi cơn mê chập chờn nhòa lẫn, những u tối chờn vờn quanh quất mù đục như bầu trời lúc gần tối trong những ngày mùa đông lạnh giá. Cha tôi ngồi trở xuống, ông lấy ra một cái bao, trong bóng tối nhưng tôi cũng nhận thấy một màu xanh thiên lý đã cũ, tôi nhận ra đó là một cái ruột tượng, cái bao dành cho đàn bà thắt lưng trong để tiền… Cha tôi vuốt thẳng cái bao trên hai tay dang ra đây là cái ruột tượng của mẹ con lúc còn sống, cha dùng để giấy tờ, con thấy không, nó có thể giúp cha chết được một cách êm ái. Vừa nói ông vừa quàng lên cổ, khoanh một vòng, cha tôi cầm lấy hai đầu và nói tiếp kể ra thì mình cũng có thể thắt cho chặt lại, nhưng cha sợ tới lúc mình thấy thương mình quá mà không đang tay. Cha thương cha nhiều hơn, cha muốn đào cho cái hầm nó sâu thêm. Con nghĩ thế nào khi thấy xác cha lạnh ? Tôi ngồi im, lúc sau mới nói con không trông đợi điều đó… Nhưng con nghĩ thế nào, cha ví dụ thế, khi con trở lại quê mà chung quanh, mọi người thân yêu đều đã chết hết, không ai còn biết tới con – con không tưởng tượng cho mình sống, con chờ đợi và sống với thực tại… 42/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày Giọng cha tôi chợt như bị lôi cuốn vào một dĩ vãng cái lần vượt ngục ấy cha không thể quên, khi nhớ lại cha không hiểu sao mình đã thoát chết, làm cách nào mà mình lại có sức mạnh để nhảy qua được những chướng ngại vật, cha nghĩ, giá lúc đó mình chết thì thật tuyệt diệu, nhưng lúc ấy cha không nghĩ tới chết, cha nghĩ tới sống. 4 Người lớn tuổi nằm dài xuống chiếc ghế đá nhìn lên bầu trời, vầng trăng non thấp thoáng trên cành lá, người trẻ ngồi hút thuốc lá nhìn suốt theo con đường ra ngoài cổng bệnh viện, những đường kẻ trắng, hai bờ cây xanh thấp thoáng ngoài xa, không khí hoàn toàn im vắng. - Anh có trông đợi cha anh chết không ?Tôi biết có người trông cho người thân yêu chết, không phải là vô nhân đạo, chính là vì yêu thương quá mà không thể giúp đỡ được gì cho người đó. Như trường hợp anh… - Không, tôi không trông đợi điều đó, thực tình tôi muốn có một ông cha bình thường như mọi người, ông làm đồ chơi cho con cái, trong nom cho con học hành… anh có ước như tôi vậy không ? Tôi mong ước một cuộc sống bình yên giữa cha mẹ, anh em, anh nhớ không, không khí như trong sách Quốc văn giáo khoa thư vẫn tả với vẻ êm ấm của gia đình sum họp dưới ánh đèn… - Sau đó, cha anh treo cổ chết ? - Không, ông tiếp tục đào cái hầm cho sâu thêm. Thời gian, tôi muốn nói tới thời gian. Tôi đã không nói lại với anh một cách mạch lạc, cái đầu tôi nó nhiều khi cũng không còn thứ tự nữa. - Tại sao anh không đưa cha anh lên khỏi hầm ? - Sau này tôi cũng hỏi tôi như thế, nhưng khi tôi nhớ lại thì thực ra lúc đó, với những điều cha tôi nói về chính ông, và những điều chung quanh đã khiến tôi không thể làm điều đó. Anh hãy nhớ tới sự rình rập của du kích, sự có mặt của lính Tây. Như anh biết, cha tôi không muốn bị giết, nghĩa là không có nơi nào cho ông trừ cái hầm… - Ông có nghĩ là ông sẽ chết ở dưới đó không ? - Có lúc tôi nghĩ ông chọn cái chết cho ông, như anh đã thấy, nhưng đồng thời cha tôi cũng tin tưởng một cách mơ hồ rằng rồi cha tôi sẽ có hoàn cảnh để ra khỏi hầm, ông tin có những đổi thay, đổi thay khiến không có mặt cả hai phe mà ông đã không chấp nhận. 43/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày - Thực tôi không thể tưởng tượng được. Người lớn tuổi ngừng lại, chừng như có tiếng thở dài, trăng mỗi lúc một sáng hơn trong khu vườn cây xanh, không khí của một cõi sống êm ả, trăng mướt như một giải lụa huyền ảo. Người trẻ tuổi chống hai tay về phía sau, ngửa mặt lên trời - Trăng đẹp quá… Người lớn tuổi ngối trở dậy. Người trẻ tuổi đốt một điếu thuốc, mùi diêm sinh ngầy ngật, ánh lửa đỏ bệnh hoạn… - Tôi muốn được chết. Điếu thuốc cầm ra tay, ngụm khói thả lên bầu trời - Tại sao người ta không tự tử ? - Tôi muốn nói cách khác tại sao người ta sống ? - Anh thì có thể trả lời được, tôi thì không. - Anh đừng bắt tôi làm việc đó. Nhưng còn cha anh ? - Cha tôi không còn có thì giờ nữa. Anh hãy nhớ lại, như tôi đã nói, dù tuổi anh nhỏ hơn tuổi cha tôi, nhưng anh thực sự thuộc về thế hệ cha tôi, anh đã sống như cha tôi, lựa chọn như cha tôi, trô nổi từng ấy năm với những biến cố không ngừng, anh đã sống, hành động như mình nghĩ, tin tưởng, phải vậy không, cho đến nay anh vẫn còn muốn được sống, vậy thì anh, hơn ai hết có thể trả lời tại sao anh sống ? - Tôi sống. Vậy thôi, tôi không giải thích được. - Tôi không hiểu gì cả. - Vì anh không chịu sống. - Tôi mệt rồi, anh chẳng chịu nhìn thấy chúng tôi, những kẻ đang lang thang thất thểu đi tìm các anh, đi tìm các anh để hỏi các anh một điều… Người trẻ tuổi gập người xuống với cơn ho dữ dội, người lớn tuổi, một tay đỡ lấy ngực một tay giữ lấy lưng và vuốt ngực cho người bạn trẻ, điếu thuốc cầm trên tay rung theo với nhịp ho. Lúc người trẻ ngửng mặt lên, người lớn tuổi nhìn thấy đôi mắt ràn rụa những lệ, những giọt nước mắt như không ngừng lại với nhịp thở hối hả, trong ánh trăng xanh những giọt lệ long lanh chảy xuống theo hai gò má, da mặt nhợt nhạt hẳn đi, trong giây phút ấy người lớn tuổi cầm chặt tay người bạn trẻ. Giọng người trẻ yếu ớt 44/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày - Anh quên những điều lẩm cẩm đó đi, những điều vô nghĩa… Có điều, anh có hối hận không ? - Hối hận cái gì ? Người trẻ tuổi phác một nụ cười buồn như một nét vẻ nhoa nhếch trên chân dung một ông già bệnh hoạn - Xin lỗi anh, tôi muốn nói anh có hối hận là được sinh ra không - Không, tôi không hối hận. - Tôi thì có. Tôi ân hận. - Tôi chỉ ân hận mình đã không được sống như mình mong ước… Người trẻ tuổi đứng lên, bước ra xa một quãng, dang rộng hai tay, mặt nhìn lên trời, ánh trăng sáng chan hòa trên những giọt nước mắt ràn rụa, tiếng nói như lạc đi xa lạ - Nhân danh Đấng tối cao ta ban phép lành cho nhà ngươi… Trong ánh sáng xanh đục, người trẻ tuổi đứng im như một pho tượng đá, đầu ngả sang một bên, hai tay dang rộng, người lớn tuổi ngồi im nhìn lên, mỗi lúc kẻ đứng như một trôi xa thêm , tiếng nói một lúc như một vang vào trong cõi hư không, tiếng vang không ngừng va đi va lại như tiếng sóng rì rầm vỗ không ngừng vào một vách đá. Tôi nhìn thấy tôi như một pho tượng cát đang rã tan và loãng dần vào những lớp sóng đưa tôi vào trong lòng biển mênh mông… 5 Hai người cùng nhau bước dọc theo con đường chạy sát với bờ hiên cao, hành lang vắng người, buổi sáng đã bắt đầu, những đợt nắng mới lóng lánh trên những mặt lá ướt nhẫy sương đêm, trên thảm cỏ xanh, dưới gốc cây hoa sứ, mấy cánh hoa còn trắng tươi nằm rải rác. Tiếng sỏi kêu nhẹ dưới bước chân. Người trẻ nói - Trong đời có khi nào anh nghĩ là mình đã được trao tặng một bông hoa của hạnh phúc và ơn huệ. Người lớn tuổi ngửng lên, đôi mắt nhìn cười - Sau một chiến thắng tôi đã được trao tặng vòng hoa trên cổ. - Anh thấy hạnh phúc không ? 45/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày Người lớn tuổi cười lớn - Hạnh phúc, thực ra anh mới là người lạc quan… - Sao vậy ? - Tôi chưa biết hạnh phúc nghĩa là gì. Tiếng thở dài, cơn gió lạnh thổi suốt qua đường hầm tối ám, tiếng rên rỉ một kẻ hấp hối trên cánh đồng mùa đông băng giá. - Chẳng lẽ anh đã không có một niềm vui riêng nào. - Chắc là có, nhưng nào nó có ý nghĩa gì nữa, nó như hột muối nhỏ. Tôi mơ hồ tưởng tới một cái gì, một… điều này khó nói. Được trao tặng một bông hoa, tôi chưa bao giờ biết tới. suốt bao thời gian, có lúc tôi thử tưởng tượng, hãy bám vào một cái gì đó, chẳng hạn như kỷ niệm để có thể nói đó là hạnh phúc đã mất, nhưng tôi cũng không thấy đó là hạnh phúc nữa, anh nghĩ coi, như thời thơ ấu của mỗi người, có phải, chính anh cũng đã từng tìm thấy bóng dáng của hạnh phúc một thời nào đó, sống với hạnh phúc đã mất, tôi không có. Kỷ niệm anh có thấy đó là một thứ đồ hộp không, nếu không thì cũng là một món ăn nguội, một thứ ướp nước đá… Tôi không muốn ăn những thực phẩm đó… Người lớn tuổi ngừng lại, chống chiếc nạng, cúi xuống bên hàng cây thấp ngăn lối đi với thảm cỏ, ngắt lên tay một cây nhỏ, người trẻ nói - Cây gì đó ? - Cây chua me. Người lớn tuổi đứng lên, giơ cây nhỏ lên tầm nhìn - Cây này nấu canh với cá rô nướng ngon lắm, anh được ăn bao giờ chưa, ở nhà quê có cái món rau tập tàng tôi thú lắm, lâu không còn được ăn nữa. - Tôi chỉ nhớ lá cây bánh khúc, anh biết không ? - Biết, nhưng ở đây đào đâu ra… - Tôi bỗng nhớ tới cánh đồng mùa xuân, rau khúc có vào mùa đó, anh nhớ không, ăn Tết xong, trời còn lạnh, những cánh đồng trơ gốc rạ, đất nứt nẻ, những cơn mưa bụi dịu dàng, rau khúc mọc trên những mặt đất nâu ẩm. Chính cha tôi đã nói cho tôi biết về thứ rau đó, tôi cũng ăn miếng bánh khúc thứ nhất trong đời đó với cha tôi, lúc bấy giờ mùa xuân… 46/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày Giọng nói xa vắng, cánh đồng bát ngát, những chân rạ, từng cơn mưa bụi trắng, trong bếp lửa hồng, trong hầm tối ẩm, tiếng than thở của một dĩ vãng… Hai người bước tới phía trước, người lớn tuổi xoe cây chua me trên hai ngón tay, tới cuối dãy nhà, họ ngồi xuống bờ hiên, thỏng hai chân xuống sân. Giọng người trẻ ngậm ngùi - Tôi mong ông đã chết êm đềm như một giấc mơ… 6 Anh muốn nghe, vậy thì tôi kể tiếp cho anh nghe, thực ra tôi vẫn đang cố gắng dò tìm lại từ trong quá khứ một vài điều, những điều mà tôi nghĩ có thể giúp tôi tìm lại cho mình… tìm lại, anh có thấy là thảm không ? Một thứ đồ hộp, một món ăn nguội tích trữ, để dành, không, tôi không nghĩ như anh, quả thực quá khứ đối với tôi là một kho tàng. Làm sao để cho người ta sống không có quá khứ, cũng như làm sao để một người không có tâm sự. Quá khứ, cái nôi hồng của tuổi thơ, tôi được nó nuôi dưỡng. Ngày xưa, gần Tết tôi trở về nhà. Trở về, anh có thấy đó là một hạnh phúc không. Bây giờ thì chúng ta không có nơi để trở về nữa. Từ trên đường cái quan, tôi băng qua cánh đồng sau mùa gặt chỉ còn trơ những gốc rạ, con đường ruộng nhỏ ngoằn ngoèo, những búp cỏ non, những cánh chim bỗng vỗ cánh bay lên. Tôi nhớ vào buổi chiều, gió lạnh buốt, cánh đồng không có bóng người, chiếc quán nước giữa đồng với gốc cây đa cao quạnh hiu. Tôi nhìn về lũy tre xanh trước mặt, cây đa đầu làng, tôi hình dung tới ngôi nhà thân yêu nơi chú thím tôi đang sống, và ở đó cha tôi… phải nói cha đang sống hay đang chết ? Có lẽ không thể nói như thế. Ở đó cha tôi đang thở, ông đang thở, sau này tôi nghĩ chỉ có thế, ông không còn được sống như một người nữa, ông chỉ còn biết thở mà thôi. Tôi, lúc bấy giờ mơ tưởng, nếu như không có chiến tranh, mẹ tôi còn sống, hẳn trên đường về ấy tôi đã chạy thật nhanh, chạy băng trên những ruộng khô để sớm được ngồi trong bếp lửa ấm áp. Nhưng không, tôi buồn rầu bước từng bước ngắn nghe mình rời rã. Mong ước được trở về, nhưng sao tôi không thấy trọn vẹn. Anh thấy đó, có phải tôi tham lam không ? Trở về mái nhà xưa ngày cuối năm, chờ đón mùa xuân đến, có trở về nào hạnh phúc hơn thế, nhưng thực thế làm tôi đau lòng. Tôi lắng nghe tôi. Tôi đi hết con đường đất, hết cánh đồng khô, bước qua cổng làng để về tới ngôi nhà nơi tôi đã được sinh ra và ít năm thơ ấu ngắn ngủi mờ nhạt. Tôi nhớ tới những cái Tết ngày xưa. Tất cả đã được sửa soạn, cổng nhà quét môt nước vôi trắng mới, bàn thờ đã được lau chùi sạch sẽ, mấy đôi câu đối bằng giấy đỏ dán nơi cổng nhà, nơi cột hiên. Nơi bàn thờ đã có một đôi mía cao, có bình hoa và một mâm bồng đầy chuối, quít và bưởi… 47/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày Anh nhớ không, cái không khí trong ngôi nhà thờ, vào một buổi trưa nào đó, anh ngồi trong ngôi nhà thờ một mình, dù không thắp hương, không đèn nến, nhưng anh vẫn thấy môt không khí thơm ngát và trang nghiêm thành kính, nơi chúng ta không dám động mạnh. Ngày cuối năm, chờ xuân đến, trong ngôi nhà thờ tôi càng cảm thấy một cái gì thiêng liêng, ấm cúng. Có phải những người chết quanh quẩn nơi đó. Từ chiếc sập gụ, từ cây đèn trét những sáp, tấm màn… tất cả như đều được ủ trong một hương thơm và thời gian đã mang đến cho nó những tâm sự. Tôi tưởng tượng nếu những vật kia nói với chúng ta, chúng ta sẽ được che lại cả một lịch sử. Tôi thấy thân thiết gắn bó với những đồ vật đó. Có phải vì chúng có bàn tay của mẹ tôi, bố tôi, ông bà tôi cầm vào, nhìn tới. Mẹ tôi cũng được thờ nơi đó, và cha tôi chết cũng sẽ được thờ nơi ấy, tôi nữa…những ngày giỗ tết, cỗ bàn dọn lên, thắp hai ngọn nến, đốt ba nén hương, lời khấn nguyện của con cháu. Nghĩ thế tôi cảm động. Kể lại cho anh về không khí trong nhà thờ để anh hiểu vì sao tôi mong ước trở về đó… Cha tôi vẫn ở dưới hầm, vâng, tôi đâu có quên, nhưng đâu có phải lúc nào tôi muốn gặp cũng được. Tôi phải chờ đợi… Tôi trở về, vâng, làng quê với những cây nêu cao, thấp thoáng những vuông giấy đỏ và những dọn dẹp trên đường đi, lối cổng vào nhà… Mọi người đón chờ, và có lẽ cũng như tôi, chúng tôi đón chờ một hy vọng vào đầu mùa xuân sẽ tới… Tôi đang nói tới ngày tết ở quê nhà, mùa xuân cuối cùng trên quê hương. Tất cả, bây giờ đã xa, đã khuất, đã chỉ còn là kỷ niệm, không phải là một món ăn nguội, thứ đồ hộp. Không phải thế. Chính là một thứ rượu, rượu càng lâu năm càng đậm, càng nồng. Đậm và nồng của một thứ rượu ngon nhưng cũng trở thành cay đắng. Phải, nhiều đêm không ngủ, liếm môi khô tôi tưởng như vị đắng và chát của quá khứ còn đọng trên đó, nhưng không phải, đó là nước mắt, tôi đã khóc thầm khi nhớ lại những gì của thơ ấu, ngày cha tôi và tôi còn ở trên quê hương. Tôi nói con định đưa cha đi, không thể chờ được nữa. Cha tôi lặng đi. Tôi nói tiếp cha không còn đào thêm cái hầm nữa. Cha tôi không nói. Ngày đầu năm ấy, mùa xuân cuối cùng ấy, tôi và cha tôi đã im lặng nhìn nhau… không có một tiếng nói nào thốt ra. Và đến bây giờ tôi vẫn còn im lặng lắng nghe… 7 Người trẻ tuổi đứng lên vươn vai thở mạnh, người lớn tuổi lặng thinh, nắng đã đầy trên khoảng sân cỏ hẹp, trời xanh và cao vút. - Lúc bấy giờ mùa xuân, tôi phân vân trăm ngả. Hết Tết, tôi băng qua cánh đồng trơ những gốc rạ, tất cả một màu trắng đục của mưa xuân, con đường đất trơn nhẵn,tôi nhìn chung quanh, chỉ có màu trắng đục mênh 48/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày mông, nỗi cô quạnh và buồn rầu. Giữa gió lạnh, không khí giá buốt, tôi tự hỏi mùa xuân đó sao ? Bây giờ tôi còn nhớ nhu in cái cảm giác ngày hôm dời quê với những băn khoăn về người cha. Có phải ông đang sống không ? Người lớn tuổi mồi một điếu thuốc. Người trẻ nhìn khói thuốc hay tản mạn… - Nhiều khi người ta chọn để trở thành người thất bại… Tôi muốn biết sau đó cha anh ra sao ? - Cha tôi ở lại dưới hầm tối đó. Một cái hầm tối trong một vùng dĩ vãng thăm thẳm. 1968 Giọt nắng Sau khi gặp tôi , người mà cô tìm kiếm , cô gái ngượng ngùng ngồi xuống chiếc ghế ở bên, vạt áo dài trắng được kéo lên phía trước, chiếc xắc tay bỏ trong lòng. Cô gái nói cám ơn tôi về bức thư đã nhận được. Cô giải thích về người quen của cô làm trong bệnh viện nơi tôi đang được điều trị, cô cũng cho tôi biết là cô vẫn thường vào trong này thăm người quen và có một lần theo những bạn bè vào đây ủy lạo những thương bệnh binh. Cô cũng không quên hỏi thăm tôi về gia đình, chừng như cô gái muốn biết tôi có người thăm nom hay không - Nhiều khi vào bệnh viện về tôi buồn mấy ngày, nhiều hoàn cảnh thật thương tâm, với lại, có bạn nói tôi giàu tình cảm. Tôi cười nói - Cô bạn của tôi cũng thế, cô ấy nhìn mọi người rồi nói với tôi sự ngạc nhiên, đây là phòng của những bệnh nhân nhẹ, chắc cô rõ. - Vâng, ở bên kia tiếng kêu khóc làm cho tôi phải bước đi thật nhanh, còn ở san bên kia, ông biết không, thuộc về khoa thần kinh. Tôi có biết một ông ở bên kia kìa, ông ta bị bom và thành câm. Cô gái nói và chỉ sang phía bên kia, dãy nhà cách một khoảng sân hẹp. Tôi cũng đã được nghe nói về những người bệnh ở đó. Thực có nhiều trường hợp không thể tưởng tượng được. Cô gái ngồi im nhìn quanh quất cả phòng bệnh những người nằm đứng, kẻ ngồi, tôi thấy có lúc cô gái ngừng lại rất lâu khi nhìn ra ngoài cửa 49/95 8/8/2020 Trời Cao Đất Dày sổ, qua đó khoảng sân bệnh viện với nền cỏ xanh tươi. Cô gái quay trở lại, chợt cô nhìn về phía cuối - Kìa, ông hãy nhìn kìa. Ông đã thấy rõ ông ta chưa, trông cái miệng của ông ta kìa, đang máy máy, ông ta lại đang nói với ông ta đó, chỉ ông ta nghe thấy, hôm trước ông ấy mới cào mặt đó,còn những vết xước, thật tội nghiệp, ông ta đỏ mặt lên đầy tức tối, chân tay múa may rồi đập tay lên đầu và cuối cùng lại ông ta cào lên mặt như một người điên, nước mắt ràn rụa… Ông bác sĩ đã phải cùng với người y tá giữ ông ta lại, chích thuốc cho ông ấy ngủ… Đây là lần thứ sáu rồi, người ta tìm cách cho ông ta nói được, nhưng vô hiệu, lần trước người ta đã chích thuốc, ông ta cầm một cái chai ở bên đánh vào đầu đến chảy máu, ông ầy bị bom… vâng bị bom, đã sáu tháng nay rồi, người hoàn toàn khỏe mạnh nhưng không nói được , người ta cố gắng giúp ông ta tìm lại tiếng nói nhưng chưa có kết quả… Ông bác sĩ vẫn hy vọng, bây giờ ông ta viết, nghe được mà nói không được, ông thấy không, trời thường sinh điếc và câm với nhau, ở đây câm mà không điếc mới tội chứ… Người đàn ông vẫn ngồi im chỉ có miệng mấp máy, đôi mắt ông nhìn mông ra khoảng sân cỏ ngoài cửa sổ, tôi nhìn thấy những vết xước trên mặt ông và mấy miếng băng keo dán nơi gò má, ông ta có một dáng hình khỏe mạnh, hai cánh tay trần với làn da trắng mịn và đẫy. Cô gái nói - Ông thử tượng tượng nếu ông cũng mất tiếng nói như ông ta ? Tôi nhìn cô gái, những sợi tóc mai dài, lông măng còn mượt nơi mang tai, nơi cổ - Nếu phải chọn tai họa không chống được có lẽ tôi ưng điếc hơn câm. Thế còn cô ? hỏi có vẻ dại dột… - Tôi không ưng gì cả, tàn tật là oan nghiệt. Thế giữa điếc và mù ông chọn cái nào ? - Điếc. - Thế giữa mù và câm điếc thì ông ưng cái nào ? - Câm và điếc, không chịu được mù… Cô gái bỗng cười ngặt nghẽo, đôi má ửng đỏ với lúm đồng tiền duyên dáng, tôi thấy hai chiếc răng khểnh của cô gái. Chợt cô gái nghiêm nét mặt, giọng dịu dàng - Xin lỗi ông, tôi nghĩ lẩn thẩn quá, thế ông bị thương ở đâu vậy ? 50/95 MỤC LỤCLời Tựa1. Một Ngày Để Khóc2. Ngày Giỗ Đầu của Gabriel3. Hồn Thiếu Nữ Tối Lễ Độc Lập4. Ai Làm Nên Nỗi?5. Nhiều Nỗi Truân Chuyên6. Máy Điện Toán và Tôi7. Giả Ngu Tìm Bọ8. Vẫn Chiến Đấu Âm Thầm9. Lý Lẽ của Trái Tim10. Thà Chịu Tiếng Lầm Đường11. Còn Đáng Mặt Đàn Ông12. Người Mẹ Đi Ăn Mày13. Thảm Kịch Gia Đình14. Tấm Gương Hiếu Thảo15. Như Trong Niềm Nhớ16. Người Bơi tới Thiên Đường17. Trời Cao Đất Dày18. Như Truyện Kiếm Hiệp19. Bừng Con Mắt Dậy20. Đời Cô Lệ21. Nhìn Quá Khứ, Đoán Vị Lai22. Bỏ Thì Thương, Vương Thì Tội23. Về Tắm Ao Ta24. Chuyện Ngu Thứ NămTiểu sử Nguyễn Ngọc HoaLỜI TỰACuối năm 2012, hơn chín năm trước, chúng tôi đặt ra cho mình một dự án văn chươngkhiêm nhường viết truyện ngắn để kể lại cho bạn bè nghe những câu chuyện của mộtquãng đời xa xưa và trau giồi Việt ngữ sau những năm dài sống xa quê hương. Mặcdù cuốn Trời Cao Đất Dày Tập Truyện Nguyễn Ngọc Hoa VIII trên tay quý bạn đã đánhdấu một đoạn đường khá dài gồm ngót hai trăm truyện ngắn, mục tiêu ban đầu củachúng tôi vẫn không thay đổi. Mỗi truyện ngắn là một tác phẩm riêng lẻ đặt liên hoànvới các truyện khác theo thứ tự thời gian, nhưng toàn thể tám cuốn Tập TruyệnNguyễn Ngọc Hoa I, II, III, IV, V, VI, VII, và VIII phổ biến và ấn hành từ năm 2013 đếnnay không hẳn là một trường thiên tiểu thuyết. Nhớ chuyện cũ đến đâu, chúng tôiviết đến đó chứ không sắp đặt trước bố cục, nội dung, hay nhân vật như các tác giảviết truyện truyện ngắn trong tập truyện này đã được phổ biến dưới tiêu đề “loạt truyện TheoNgọn Mây Tần” – lấy từ câu “Hồn quê theo ngọn mây Tần xa xa” trong truyện Kiều –kể lại những câu chuyện chúng tôi trải qua, chứng kiến, hay nghe thuật lại khoảng cuốithập niên 1970 và đầu thập niên 1980, khi cố gắng hòa nhập với đờisống Hoa kỳ nhưngvẫn hướng về quê hương yêu dấu. Để tránh ngộ nhận đáng tiếc, chúng tôi xin nhắc lạimột lần nữa Tác phẩm của chúng tôi không phải là hồi ký, tự truyện, hay tài liệu ghilại dữ kiện lịch sử. Nhân vật xưng "tôi" được dùng làm nhân chứng thuật lại chuyệncũ, không phải chính tác giả. Mọi nhân vật khác đều được dựng nên và tiểu thuyếthóa cho phù hợp với chuyện kể, xin đừng liên kết với bất cứ nhân vật nào ngoài tôi xin cám ơn các thân hữu đã góp ý, phê bình, và chỉnh sửa cũng như đã khíchlệ chúng tôi trong việc sáng tác. Xin được kể tên vài người là các chị Lưu Phương Lannhà văn Phương Lan và Trần Thùy Mai nhà văn và các anh Nguyễn Trọng Dzũng,Nguyễn Đình Hiếu, Nguyễn Nhật Hoàng báo Trẻ, Nguyễn Thanh Hoàng nhà văn PhanHạnh, Nguyễn Xuân Phong, Nguyễn Khắc Phụng, Châu Hiền Quang nhà thơ KiềuPhong Toronto, Nguyễn văn Sâm, Nguyễn Thiệp nhà văn Tràm Cà Mau, NguyễnXuân Thiệp nhà thơ, và Nguyễn Công Thuần. Chúng tôi cũng cám ơn tiện nội là kịchtác gia, nhà văn, và đạo diễn Nguyễn thị Minh Ngọc đã thương yêu tạo điều kiện chochúng tôi sáng tác và xuất bản tác phẩm đã tôi hy vọng, trong một tương lai không xa, sẽ có cơ hội ấn hành và ra mắt độcgiả Tập Truyện Nguyễn Ngọc Hoa IX đang được phổ biến dưới tiêu đề “loạt truyệnNhận Làm Quê Hương.” Mời quý bạn đón Ngọc HoaNgày Hạ chí 202221-06-2022Một Ngày Để KhócMùa xuân đến gần sáu tuần nay, nhưng buổi sớm mai trời North Dakota còn se lạnh. Tôi rakhỏi nhà đi làm mà lòng bồi hồi rưng rưng, con đường đến sở dường như không còn quenthuộc như mọi ngày vì trong tâm tưởng, tôi đang sống lại những kỷ niệm buồn đau. Ngày này,30 tháng Tư, đúng một năm trước đây 1975, lúc mười giờ rưỡi sáng, trên chiếc chiến hạm Hảiquân di tản đến hải phận quốc tế ngoài khơi Vũng Tàu, tôi đã khóc và hát bài quốc ca Việt namCộng hòa “VNCH” một lần cuối khi lá cờ vàng ba sọc đỏ từ từ hạ xuống kỳ đài,Này công dân ơi! Đứng lên đáp lời sông lòng cùng đi hy sinh tiếc gì thân qua tối thứ Năm, tôi thức khuya gọi điện thoại nói chuyện với thằng Tú, người bạn thươngphế binh thân thiết đang dạy học ở Rockford thuộc tiểu bang Illinois; gọi viễn liên sau 11 giờđêm giá rẻ hơn ban ngày và buổi tối, tỉ tê chuyện cà kê dê ngỗng đỡ ngại cháy túi. Hai thằngvừa khóc vừa cười nhớ lại chuỗi ngày tuyệt vọng thương đau dẫn tới biến cố đổi đời “bỏ nướcra đi” và nhắc nhở những chuyện vặt về thằng Song, bạn cùng lớp và cũng là bạn thân nhất củatôi ở trường kỹ sư bây giờ sống khốn khó ở Việt nam. Tôi chơi với thằng Tú vì nó là bạn thờitrung học Pleiku của thằng Song. Bạn của bạn mình đương nhiên là bạn mình; ngày đó, chúngtôi quan niệm đơn giản như giọng nói của thằng Tú, tôi cảm thấy dường như có điều gì ẩn khuất mà nó chưa nói cùng, nó bật lên hỏi, cố nén nước mắt,“Mày còn nhớ thằng quỷ An không nhỉ?”“Mày què chân chứ đầu óc có cùn đâu mà hỏi gì kỳ vậy? Trong bọn mày – đám khỉ cùngđàn với thằng Song từ Pleiku xuống, mày thân với tao nhất, nhưng thằng An là đứa dễ thươngtao khoái nhất.”Trong nhóm bạn thằng Song, thằng An người Huế gặp hoàn cảnh khó khăn hơn cả. Năm cả bọnhọc đệ nhất lớp 12 trường trung học Pleiku, cha nó mất, và cuối năm nó thi rớt Tú tài II. Tronglúc bạn về Sài gòn học đại học, nó lớn nhất nhà, trở thành cột trụ gia đình, và đưa mẹ và bốnđứa em xuống Mỹ Tho ở nhờ nhà người chú họ và tìm kế sinh nhai. Nó có ba cô em gái kế tiếpnhau, cô kế nó là Lệ Quỳnh kém nó một tuổi, và cậu em trai út lên mười. Tôi gặp nó lần đầu khiđi theo thằng Song từ Sài gòn xuống Mỹ Tho thăm nó, cả gia đình sáu người sống chen chúctrong căn phòng chật chội, và nó phải đưa tôi và thằng Song ra ngoài công viên gần nhà An cao lớn, dễ đến hơn một thước bảy, mặt mày trắng trẻo hiền hậu, và đặc biệt nụ cườidễ mến. Lần thứ hai tôi theo thằng Song đi thăm nó thì nó và gia đình ở Vũng Tàu, thành phốdu lịch nổi tiếng đời Pháp thuộc dưới tên “Cap Saint Jacques” và nay có nhiều căn cứ quân sựHoa kỳ. Thằng An giải thích lý do dọn về đây,“Mạ tao và con Quỳnh mua bán hàng Mỹ nhảy dù từ trong Pi-Ếch PX ra. Mạ tao giỏimà cả và con Quỳnh rành tiếng Anh hiểu rõ mặt hàng nên gia đình đủ ăn. Chiều chiều taomướn xích-lô chở mấy thằng lính Mỹ chạy chơi vòng vòng để kiếm thêm địa tiền.” “PX” hay“Post Exchange” là cửa hàng Quân Tiếp vụ Hoa kỳ.“Mày giỏi dữ há?” thằng Song khen nhẹ nhàng.“Tụi lính Mỹ trẻ tuổi, cỡ bằng tụi mình, rất thích ngồi xích-lô đi hóng mát và coi thànhphố. Mấy anh đạp xích lô thường ốm đói, tụi Mỹ thấy tội nghiệp nên rất ngại đi xe. Nếu đi thìtụi nó biểu anh phu xe ngồi vào ghế đằng trước, để nó ngồi trên yên phía sau đạp xe. KháchMẽo giành nhau đi xe tao vì tao đô con, tụi nó không ngại. Tao lại biết tiếng Anh nói xí xô xí xào,chỉ trỏ nơi nọ nơi kia.”“Mày định làm nghề xô xích-le xe xích-lô này đến bao giờ?” thằng Song ái ngại.“Tao rán sao có được nhiều tiền để lại cho mạ tao và con Quỳnh trước khi đi vào quântrường. Vì thi hỏng mất rồi ta đợi ngày đi,” thằng An thản nhiên trả rồi thằng An bị gọi nhập ngũ vào trường Bộ binh Thủ Đức, ra trường tình nguyện đi NhảyDù, và học nhảy dù ở trung tâm Huấn luyện Nhảy Dù trong trại Hoàng Hoa Thám, nơi đặt bảndoanh bộ tư lệnh Sư đoàn Nhảy Dù, trên đường Lê văn Duyệt nối dài quá Ngã Tư Bảy Hiềnchừng một cây số. Ngày nó ra đơn vị là Tiểu đoàn 7 Nhảy Dù, thằng Song và các bạn cũ đã rờikhỏi Sài gòn, chỉ còn mình tôi ở đây. Khi được nghỉ phép về Sài gòn, thằng An luôn luôn ghé lạitôi trước khi đi Vũng Tàu thăm nhà. Đời lính bất thường, nó đến tìm tôi vào những lúc bất ngờnhất. Có lần nó xuất hiện trước cửa giảng đường trong lúc tôi chăm chú dạy học. Một lát sau,thấy sinh viên xì xào nhìn ra cửa, tôi nhìn ra thấy nó đứng nghiêm ưỡn ngực chào như chào kínhthượng cấp không biết từ lúc nào. Tôi chìa tay ra hiệu mời nó vào ngồi ở cuối giảng đường vàtiếp tục giảng bài cho đến hết giờ lần khác, khi sinh viên học sinh Sài gòn ồn ào xuống đường biểu tình chống chính phủ, đơnvị thằng An bị điều động về giữ an ninh đô thành, đề phòng Việt Cộng lợi dụng tình thế bất ổnđể tấn công. Nó đóng quân trên đường Hòa Hưng đi vào khám Chí Hòa và cho người tìm tôibáo tin. Trước khi đến với thằng An, tôi vào Chợ Lớn mua vịt quay và cơm chiên Dương Châuđể ăn chiều với tôi đến, thằng An đang cắt đặt canh gác trạm phòng thủ tạm thời dựng lên bằng bao cátchất cao ngang ngực ở các góc đường. Nó vui vẻ chào tôi như thường lệ rồi biểu anh tà lọt línhcận vệ giúp việc vặt cho sĩ quan chỉ huy đem vịt quay và cơm chiên chia đều cho anh em; tôi vànó cũng có một phần và cùng ăn phần cơm gạo sấy với lương khô như mọi người. Gạo sấy làgạo đã được nấu chín và rút hết nước, khi dùng chỉ cần đổ nước sôi hay nước lạnh vào cho gạonở thành lãnh lương túi còn rủng rỉnh, tôi mua bia ở hai chiếc xe sinh tố gần đó và nhờ mang ra đãitrung đội thằng An. Nó cho phép quân nhân không có nhiệm vụ canh gác uống, nhưng ra lệnhuống ít để đừng say sưa. Sau khi giao nhiệm vụ cho anh trung sĩ nhất trung đội phó, nó cùng tôingồi bệt ở lề đường uống bia và nhìn xe cộ và khách bộ hành qua lại. Gần khuya, tôi hỏi bạn,“Đêm nay mày ngủ đâu?”“Hàng hiên nhà người ta đó. Tao đã xin phép chủ nhà, thằng tà lọt quét dọn sạch sẽrồi,” nó đưa tay chỉ ngôi nhà gần đó.“Mẹ nó . . .” tôi tức tối giùm bạn.“Dân nhà binh đi hành quân nằm bờ ngủ bụi là thường, mày thắc mắc làm chó gì chomệt. Tao chỉ mong tối nay Việt Cộng không đánh vào đây.”Tôi tiếp tục uống bia với thằng An đến sau giờ giới nghiêm rồi ngủ lại dưới hàng hiên với hôm sau tôi thức dậy, anh tà lọt bưng nước đến mời “ông thầy” rửa mặt. Anh gọi tôi là“ông thầy” vì tôi làm thầy giáo, khác với “ông thầy” gọi thằng An là cấp chỉ huy, là ông sếp số các bạn tôi, thằng An là đứa hiền lành nhất, mặc dù nó là một sĩ quan Nhảy Dù cao lớnvà dáng dấp bên ngoài có thể làm bất cứ ai khiếp đảm. Tôi chưa nghe người lính mũ đỏ nàychửi thề, tìm cách dọa nạt ai, hay kể chuyện bắn giết ngoài trận địa. Không như những sĩ quanhào hoa “anh là lính đa tình” khác, nó không hề nói về một mối tình nào khác hơn tình yêu thiếttha đối với một cô giáo dạy tiểu học ở Vũng Tàu là bạn thân của Lệ Quỳnh em lần chia tay với thằng An là một lần tôi lo đứt ruột, thầm mong Trời Phật phù hộ cho nóđược an lành. Đầu năm 1971, suốt hai tháng tôi hồi hộp lo lắng theo dõi tin tức cuộc hànhquân Hạ Lào hay chiến dịch Lam Sơn 719. Nó trở về với chiếc lon trung úy vinh thăng ngoàimặt trận và tấm anh dũng bội tinh với nhành dương liễu, nhưng nụ cười héo hắt. Anh dũng bộitinh là huy chương tưởng thưởng cho quân nhân lập chiến công và đi kèm theo bản tuyêndương công trạng. “Với nhành dương liễu” là tuyên dương công trạng trước quân đội – cấp caonhất; sau đó lần lượt đến cấp quân đoàn với ngôi sao vàng, cấp sư đoàn với ngôi sao bạc, vàcấp trung đoàn hay lữ đoàn với ngôi sao đồng.Sau các trận đánh khốc liệt của Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, thằng An trở lại, cười rạng rỡ với ba bônghoa mai vàng trên cổ áo và cái huy chương mới trên ngực trái. Từ đầu năm 1974, nó bị điềuđộng đi liên miên ra chiến trường khắp bốn vùng chiến thuật và không có thì giờ đi phép về Sàigòn. Tôi chỉ biết loáng thoáng nó còn sống nguyên vẹn hình hài và đã lên thiếu tá.* * *Khác với mọi khi, thằng Tú bị tôi mắng mà không phát cáu hay mắng trả. Nó rầu rầu,“Đầu óc tao chưa cùn nên vẫn nhớ ngày Sài gòn hai thằng mày gần gũi với nhau. Vì màylà thằng mít ướt tình cảm như đàn bà con gái nên tao phân vân không biết có nên cho mày haykhông.”“Thằng què này, mày có tin thằng An mà định giấu tao sao hả? Hay là nó chết cha nórồi?” tôi nóng lòng hỏi tới.“Ừ, nó chết cha nó rồi . . .” thằng Tú lạc giọng.“Khi nào? Sao lâu nay mày không nói gì cả?” tôi la lên thật lớn.“Tao mới hay tin hôm kia thôi. Con Quỳnh em nó viết thư cho người bà con bên Gia NãĐại nhờ tìm cách nhắn lại với tao. May sao người đó lại quen thân với bà chị lớn của con Phụngvợ tao chị còn ở Việt nam,” nó nhăn nhó giải thích rồi chậm rãi thuật ngày 30 tháng Tư, thằng An không chịu đi trình diện “học tập cải tạo” vì biết chắc một thiếutá Nhảy Dù VNCH với tội “mang nợ máu với nhân dân” sẽ không sống sót nổi trong trại tù hàkhắc tàn khốc của Việt Cộng. Nó liên lạc với một số bạn cựu đồng ngũ không đi trình diện nhưnó và mưu toan lập lực lượng đi vào rừng kháng chiến. Mộng lớn không thành, nó theo ngườilính cận vệ thân tín thương nó như anh ruột, về quê anh ta là một làng đánh cá ở Phước Tuy ẩnnhẫn trốn tránh, và làm ngư phủ để vừa nuôi thân vừa che mắt nhà cầm quyền chiến binh từng vào sinh ra tử và quen tìm đường sống trong chỗ chết, thằng An và các bạntin rằng ở hải phận quốc tế ngoài khơi Việt nam, hàng ngày có hàng trăm thương thuyền ngoạiquốc đi lại, chưa kể các tàu tuần tiễu của Đệ thất Hạm đội của Hải quân Hoa kỳ. Chỉ cần liềuchết đi ra đó chờ xin tiếp cứu, thế nào cũng được vớt ra khỏi địa ngục trần gian mà nghệ sĩ Trầnvăn Trạch 1924 - 1994 tóm tắt bằng câu nói đơn giản "Ở Việt nam, cái cột đèn cũng muốn rađi." Cùng lắm là vùi thân vào bụng cá, xem như chọn nhằm cửa tử thần!Cơ hội đến vào mùa biển động cuối tháng Hai, “công an biên phòng” lơ là canh phòng vì ỷ ykhông ai dám “vượt biên” trong mùa này. Thằng An cùng một số cựu quân nhân VNCH khác lênđường ra khơi. Không ai biết chuyện gì xảy ra sau đó. Chỉ biết vào khoảng mười ngày sau,trong cơn thịnh nộ của biển cả, xác vỡ của chiếc thuyền đánh cá cùng với thân xác của chừng 20thanh niên bị sóng đánh tấp vào bãi biển làng Phước Hải gần Vũng Tàu, cách nơi khởi hànhkhoảng 20 cây số về phía đầu dây bên kia, thằng Tú khóc tấm tức,“Dân làng tìm thấy xác của đám người ra đi, khi thủy triều đang dâng lên. Không nỡ đểcơn sóng kéo xác ra biển trở lại, họ liền trói’ xác vào thân cây trên bãi để giữ lại chờ thân nhânđến nhận.”“Tại sao phải trói’?” tôi ngạc nhiên tột bậc.“Thực ra là buộc xác vào thân cây, nhưng con nước ròng quá mạnh nên phải gô tróichặt xác lại mới giữ được.”Lòng tôi quặn đau, hai hàng nước mắt chảy dài trên má. An ơi, tao nhớ mày quá sức. Nhớ câu“Tuý ngọa sa trường quân mạc tiếu” Có say nằm nơi sa trường bạn cũng đừng cười trong“Lương Châu từ” hay khúc hát Lương Châu của Vương Hàn thời Thịnh Đường mà mình ngâmnga với nhau trong đêm ngủ hàng hiên trên đường Hòa Hưng. Thằng Tú nói tao mít ướt nêntao thương mày mà không khóc. Để dành nước mắt khóc cho đất nước Ngọc HoaNgày 17 tháng Ba, 2021Ngày Giỗ Đầu của GabrielHôm nay thứ Sáu, buổi sáng tôi đi làm mà lòng thấy rộn ràng. Trước mặt là cuối tuần dài nghỉ lễChiến sĩ Trận vong truy niệm vào ngày thứ Hai cuối cùng của tháng Năm. Sau Tết tây, đó là ngàynghỉ lễ đầu tiên của tôi trong năm. Tôi và mấy người bạn Việt đã dự trù một chương trình “ănchơi” cho bõ . . . những ngày mùa đông cơ cực. Chúng tôi sẽ kéo nhau cả đoàn đi câu cá, picnic,và cắm trại ngoài hồ rồi ghé thăm nông trại của vợ chồng Phượng và Dean để người lớn bắt gà“đi bộ” làm thịt ăn nhậu và trẻ em chạy chơi ngoài đồng. Miên man nghĩ tới cuối tuần vui vẻsắp tới, bất giác tôi thấy yêu đời vừa đi vừa hát nho nhỏ,Ngày mai em đi, biển nhớ tên em gọi vềGọi hồn liễu rũ lê thê, gọi bờ cát trắng đêm khuya.Trịnh Công Sơn – “Biển Nhớ”Bỗng một thiếu nữ đậu xe bên kia đường, chạy băng qua, và niềm nở như thường lệ,“Chào anh Ba Hoa, anh khỏe không? Hình như anh có gì vui lắm?”Nàng là Laurie làm kế toán viên nha Kế toán ở lầu ba, hàng ngày đi làm đậu xe tại chỗ này, vàthường gặp tôi vào giờ này. Nàng độ hai mươi ba, hai mươi bốn tuổi, xinh xắn và hoạt bát, vàluôn luôn vồn vã bắt chuyện khiến tôi có cảm tưởng nàng thân mật với tôi hơn là với một ngườibạn cùng sở thông thường. Hôm nay bị bắt gặp đang lẩm bẩm hát, tôi đâm ra bối rối,“Chào cô Laurie. Có gì đâu, tôi nói chuyện một mình ấy mà.”“Nói chuyện một mình chắc ăn nhất, họ’ không bao giờ nói trả lại,” nàng cười thôngcảm, “Tôi cũng hay hát một mình, họ’ không bao giờ chê tôi hát dở hay bực bội khi tôi bỏ dởnửa chừng vì quên phần bài ca còn lại.”“Mặc dù người Việt có câu hát hay không bằng hay hát,’ tôi bị bà vợ cấm không cho hátở nhà, ngay cả trong lúc đi tắm, vì sợ cậu con nhỏ nghe được. Tôi hát dở ẹt mà ít khi nhớ rõ lờibài hát nên cứ hồn nhiên hát nhại thành lời nhảm nhí. À, thế phân nửa tuyệt vời hơn của côđâu?” tôi nhân tiện hỏi dò; “phân nửa tuyệt vời hơn” your better half là từ ngữ dùng ám chỉvợ hay chồng, hay ngườisống chung như vợ chồng, của người đối diện.“Trước khi gặp anh sáng nay tôi tính sẽ gọi điện thoại mời anh đi uống cà-phê vào giờnghỉ giải lao, và sẽ hỏi anh một chuyện. Anh đi nhé, lúc đó tôi sẽ trả lời câu hỏi của anh.”Tôi nhận lời không do dự; khi đến sở, Laurie hẹn gặp lại ở tiền đình ngay cửa ra vào. Lời mờibất ngờ của nàng khiến tôi bâng khuâng nhớ lại câu chuyện “bị bà Mỹ đẹp tuyệt vời tấn công”một anh bạn độc thân sang đây một mình kể đi kể lại khi ngà ngà say trong các buổi nhậu cuốituần. Câu chuyện được cho kết thúc bằng màn anh bạn lắc đầu quầy quậy, từ chối “hảo ý hiếndâng của bà Mỹ,” nhưng ai cũng biết anh là kẻ thích khoác lác một tấc lên tới chờ sẵn dưới nhà và cùng tôi đi bộ ra café cách sở chưa tới hai khu phố. Mặc dù từ tiếngPháp có nghĩa là cà-phê, “café” trong tiếng Anh là quán ăn nhỏ bán cả đồ ăn lẫn thức uống,thực đơn có giới hạn, và món ăn tương đối đơn giản và giá phải chăng. Người Mỹ gọi quánchuyên bán cà-phê là “coffeehouse.” Đặc biệt ở các quán ăn vùng miền bắc Hoa kỳ, khi gọi càphê, khách uống bao nhiêu cũng được, không giới hạn, và nhà hàng không tính tiền thêm. Saukhi chúng tôi rót cà-phê vào tách và uống ngụm đầu tiên, nàng hỏi,“Cuối tuần này anh chị có chương trình làm gì chưa?”“Chúng tôi và vài người bạn định đi câu cá và cắm trại đến chiều Chủ Nhật, sau đó ranông trại thăm vợ chồng một người bạn khác, và ở lại chơi cho đến hết chiều thứ Hai.”“Vậy thì tôi chậm chân một bước, tiếc quá. Thôi để tôi trả lời câu hỏi của anh trước Tôisống một mình ở apartment để đi làm và không có phân nửa tuyệt vời hơn nào cả. Tôi độcthân’ từ khi Gabriel đi lính qua Việt nam và không hề trở lại,” giọng nói trầm xuống và đôi mắtbuồn tênh, nàng kể lại về người tình thời trung học nay không còn trên cõi và Laurie ra đời cùng năm trong hai gia đình nông gia ở kế cận nhau. Chơi với nhau từlúc chưa biết nói, hai đứa trẻ đi học trên cùng một chuyến xe buýt vào trường trong thành phố,học cùng lớp cùng trường, và buổi tối sang nhà nhau cùng làm bài. Đến năm cuối trung học,tình yêu của họ lớn mạnh và được hai gia đình chính thức chấp nhận, đôi bạn bắt đầu tínhchuyện tương lai Họ sẽ đi Fargo, thành phố lớn nhất của North Dakota, học trường NorthDakota State University NDSU. Gabriel sẽ học ngành canh nông vì trường canh nông NDSU cótiếng, và Laurie theo đuổi ngành kế toán vì nàng thích làm việc với con số. Theo truyền thốngcủa dân chúng vùng này, họ sẽ làm đám cưới trước khi tốt nghiệp để khi ra trường đi làm sốngchung dưới mái ấm gia đình của riêng định của đôi tình nhân trẻ tan vỡ vì cuộc chiến tranh Việt nam. Thay vì vào đại học để đượchoãn dịch, Gabriel tình nguyện nhập ngũ. Chàng giải thích với người yêu,“Học đại học và lập gia đình có thể hoãn lại vài năm, nhưng bổn phận chiến đấu bảo vệlý tưởng tự do chống lại sự bành trướng của chủ nghĩa Cộng sản không thể trì hoãn.”Laurie đi học NDSU một mình, lần đầu tiên đến trường không có Gabriel. Chàng được gửi sangViệt nam một ngày đầu xuân 1970, hăng say chiến đấu, viết thư về nhà hàng tuần, và tườngthuật về đời sống quân ngũ – vất vả nhưng rất bổ ích. Chàng yêu mến đất nước có cảnh trítuyệt đẹp và dân chúng hiếu khách đến không ngờ ấy. Hai năm sau, trước khi cuộc chiến trởnên sôi động vào mùa hè năm 1972, chàng tái đăng phục vụ thêm một nhiệm kỳ nữa, và đơn vịchàng di chuyển về đóng gần Tây tháng Sáu năm 1972, trong một chuyến tuần tiễu, tiểu đội của Gabriel bị Việt Cộng phụckích, và chàng bị bắt dẫn đi mất tích. Gia đình chàng và Laurie hy vọng Gabriel sẽ được trao trảtheo quy chế tù binh của Hiệp định Paris 1973, nhưng rồi thất vọng ê chề vì chàng vẫn bặt vôâm tín. Họ cố bám víu vào niềm tin Gabriel còn sống và mong chờ một ngày nào đó chàng sẽtrở về. Ba năm trôi qua, cuối tháng Tư vừa qua, bộ Quốc phòng chính thức tuyên bố chàng tửtrận, kết liễu mọi hy vọng mong manh của thân nhân. Laurie tức tưởi,“Không biết Gabriel mất vào ngày nào, gia đình anh ấy dùng lễ Chiến sĩ Trận vong làmngày giỗ hàng năm. Ngày giỗ đầu năm nay, họ tổ chức lễ tưởng niệm tại nhà thờ anh rửa tộingày mới ra đời.”“Tôi rất lấy làm tiếc về sự mất mát của cô. Lễ tưởng niệm cho Gabriel ở đâu và lúc mấygiờ?” tôi an ủy nàng.“Lễ cử hành lúc 10 giờ sáng thứ Hai ở Glen Ullin, đúng hơn tại một nhà thờ miền quênhỏ cách Glen Ullin chừng mười dặm Anh về hướng bắc,” nàng vừa nói vừa lấy khăn chặmnước mắt, “Anh là người Việt tỵ nạn được nhiều người trong công ty mến phục. Tôi biếtGabriel sẽ rất thích gặp’ một người Việt như anh nên định mời anh chị tới dự. Lỗi tại tôi cứchần chờ, hôm nay nói chuyện với anh thì quá trễ.”Glen Ullin là một thành phố nhỏ chừng 1,200 dân nằm cách Bismarck chừng 50 dặm Anh vềphía tây. Tôi nhíu mày suy nghĩ,“Chúng tôi câu cá và cắm trại ở hồ Sweet Briar gần Glen Ullin và sẽ đến nhà bạn tôi làPhượng và Dean cũng ở phía bắc Glen Ullin, có lẽ không xa nhà thờ đó lắm đâu. Nếu cô còn cóý định mời thì tôi sẽ sung sướng nhận lời.”“Thật vậy sao? Cám ơn anh nhiều lắm. Từ nhà bạn anh, đi băng qua đường và cái sânrộng là tới nhà thờ,” nàng mừng khấp khởi.“Cô quen với vợ chồng bạn tôi sao?” tôi hơi ngạc nhiên.“Thảo nào lúc tôi mời anh chị ấy, Phượng nói sẽ có khách đến thăm nên không dự là anh họ của tôi; dân Na Uy chúng tôi ở vùng này toàn là bà con họ hàng với nhau cả,”bây giờ tôi mới thấy nàng cười vui; Na Uy là một trong bốn nhóm chủng tộc chính ở NorthDakota, ba nhóm kia là Đức, Nga, và Ái Nhĩ Lan.* * *Ngủ đêm ở nhà Phượng và Dean, sáng thứ Hai tôi và Quỳnh Châu sang nhà thờ dự lễ tưởngniệm. Nhà thờ nhỏ không có mục sư thường trực nên phải mời một mục sư trẻ ở Bismarck cóhọ với gia đình Gabriel lên làm chủ tế. Không khí trang nghiêm nhưng không buồn bã vì ngườiMỹ quan niệm tưởng niệm người quá cố là để kỷ niệm đời sống của người ấy. Tấm chân dunglớn của Gabriel mang lễ phục bộ binh màu cứt ngựa nằm giữa các bình hoa tươi trên chiếc bànnhỏ trước mặt mọi người. Mục sư xen kẽ đọc thánh kinh, điều khiển cử tọa hát thánh ca, và lầnlượt mời thân nhân và bạn bè lên chia xẻ kỷ niệm buồn vui với Gabriel – phần chính của buổi đặc biệt chú ý phần trình bày của Eric, em song sinh của Gabriel. Eric là em vì ra đời sauGabriel mười phút và trông giống Gabriel trong hình như đúc. Eric nói trong nước mắt,Gabriel, từ lúc sinh ra và lớn lên, anh em mình không rời nhau nửa bước, cho đến khi emtiễn anh ra phi trường đi xuống Đồn Benning dự khóa huấn luyện bộ binh căn ngờ đó là lần cuối cùng em thấy mặt anh. Em biết anh yêu Laurie vô vàn. Nàngsống trong tuyệt vọng và khổ đau suốt bốn năm qua. Em hứa với anh, em sẽ thay anhmang hạnh phúc đến cho nàng. Đó là điều em làm được và sẽ làm, nàng xứng đángđược như thế. Anh hãy yên nghỉ trong bình Benning nằm hàng hai trên biên giới hai tiểu bang Alabama và Georgia là một căn cứ Lụcquân rất lớn và là nhà của một số trường huấn luyện quân sự nổi tiếng, trong đó có Trường Bộbinh. Tiếp theo Eric, Laurie với đôi mắt đȁm lệ trình bày bức thư cuối cùng của Gabriel. Thưviết đêm mồng 10 tháng Sáu năm 1972, hai ngày sau khi chàng trông thấy cô bé Kim Phúc chíntuổi chạy trần truồng ra khỏi đám lửa của bom na-pan napalm đằng sau lưng trên Quốc lộ 1tại Trảng Bàng thuộc Tây Ninh. Phóng viên nhiếp ảnh Nick Út của thông tấn xã AssociatedPress chụp được bức hình của Kim Phúc trong giây phút đó, truyền đi khắp thế giới, và đoạt giảiPulitzer về báo chí năm 1973.Trong đêm mưa nhiệt đới ấy, Gabriel xúc động viết thư kể lại và kèm theo bài thơ trong đó cómột đoạn,But still the branches are wireAnd thunder is the pounding mortar,Still I close my eyes and see the girlRunning from her village, napalmStuck to her dress like jelly,Her hands reaching for the no oneWho waits in waves of heat before her.Nhưng cành cây vȁn là cuộn kẽm gaiVà sấm sét là súng cối pháo kích ầm ầm,Tôi nhắm mắt nhưng vȁn thấy cô bé ấyChạy từ trong làng ra, na-panBám chặt vào quần áo cô như thể thạch đông,Hai bàn tay cô giương ra tìm đến người “không ai”Đợi trong cơn sóng thiêu đốt trước mặt cô.Bruce Weigl – “Song of Napalm” [Bài ca Na-pan]Thư đến tay Laurie vài ngày sau khi gia đình Gabriel được báo tin chàng bị mất tích. Tôi chưahết bàng hoàng vì lời kể của nàng thì sau buổi lễ, trong bữa cơm trưa gia đình Gabriel khoản đãiở hậu phòng nhà thờ, lại chứng kiến một cảnh cảm động khác. Đợi mọi người lấy đồ ăn và ngồivào bàn xong xuôi, Eric dìu Laurie tới phía trước, quỳ gối trên chân trái, lấy hộp nhȁn trong túira, và nâng lên bằng cả hai tay,“Laurie Amy Ricker, đây là chiếc nhȁn đính hôn của mẹ tôi. Xin em ban cho tôi cái hânhạnh lớn nhất đời là làm chồng em. Tôi sẽ hiến dâng cho em mọi thứ tôi có được trên đời này.”Amy là tên giữa và Ricker là họ của Laurie. Tôi biết nàng sẽ không còn mang họ Ricker bao lâunữa Nàng cười trong nước mắt nhận lời cầu hôn của Eric, và đàn bà tây phương lấy họ chồngsau khi thành suốt buổi lễ hôm nay, các người Mỹ nhớ về quá khứ đau buồn, nhưng họ không hề thanvãn, oán trách, hay căm hờn. Thật đáng phục, ước gì tôi làm được như họ! Nhưng làm sao tôiquên được hận thù khi bọn người man rợ tàn ác tiếp tục cướp bóc, đày đọa, và giết lần mòndân tôi trên mảnh đất nhỏ bé bên kia bờ Thái bình dương? Vết thù trong lòng khó thể Ngọc HoaNgày 31 tháng Ba, 2021Hồn Thiếu Nữ Tối Lễ Độc LậpMấy người bạn người Việt của tôi thường gọi đùa Mạc là “thằng cu bụi đời” vì tôi và QuỳnhChâu đi đâu cũng “tha” bé theo, để ở nhà không có người giữ. Chúng tôi quấn bé vào trongchăn, đặt trong cái rổ mang em bé và nịt lại, và đặt rổ dưới sàn xe để rổ không di chuyển khi xechạy nhanh hay thắng gấp. Bé dễ tính, thường không hay khóc hay quấy rầy, miễn là no sữa vàsạch tả. Trong cái túi xắc có dải mang vai đựng tả, bình sữa, và các vật dụng lỉnh kỉnh khác,Quỳnh Châu luôn luôn thủ sẵn một cặp núm vú giả của trẻ con. Cái núm vú giả tiếng Anh“pacifier” nghe rất . . . oai là người hay vật dẹp yên, dẹp loạn, hay bình định, để cho Mạc ngậmvà giữ bé nằm im lặng, không khóc oe oe rầy rà, khi nàng cần làm việc với người nay, sau một chuyến đi thông dịch cho người đồng hương xin welfare và food stamps,Quỳnh Châu nựng bé và cũng để trách yêu tôi,“Con của má mới từng này mà đã đi giang hồ giống ba. Mai mốt lớn lên thành Lệnh HồXung trong Tiếu Ngạo Giang Hồ của Kim Dung cho thiên hạ biết tay!”“Ba nó nhờ làm Lệnh Hồ Xung vô chiêu thắng hữu chiêu’ mà vớ được mụ vợ dễ thươnghết sảy là nàng Nhậm Doanh Doanh này đó,” tôi cười khà khà đáp lại.“Xí, người ta’ thương mình’ là thương cái học giỏi, cái thông minh, chớ cái dzụ giang hồvặt của mình’ thì mấy năm sau mới xảy ra. Khi đó người ta’ đã lỡ thương rồi. Trót vì tay đãnhúng chàm, dại rồi còn biết khôn làm sao đây!” nàng cong môi đáp bằng hai câu Kiều.“Người ta nói thánh nhân đãi kẻ khù khờ, mèo mù vớ cá rán, là chồng em đó,” tôi chấpnhận một . . . sự thực phũ nhớ ra cuộc phiêu du sắp tới của Mạc, Quỳnh Châu nắm tay tôi nhắc nhở,“Cô Bình nhà mình khoái cu Mạc như điên, khen thằng nhỏ bụ bẫm má phinh phính ngómà muốn cắn một cái, và muốn khoe cháu với bạn nên hẹn vợ chồng mình tối Chủ Nhật tới đưacon lên capitol nghe nhạc và xem pháo bông.”“Capitol” là khu nhà chính quyền trung ương tiểu bang làm việc, cách apartment chúng tôi ởkhông tới ba khu phố. Tòa nhà chính của capitol là ngôi tháp hình hộp 21 tầng mà cửa sổ đặcbiệt dùng để trang hoàng thủ phủ Bismarck vào dịp lễ lạt. Mùa Giáng sinh, ban đêm mànhmành màu đỏ và xanh lá cây được kéo lên cửa sổ và đèn thắp sáng bên trong các văn phòngđược chỉ định để cho thấy hình cây Nô-en. Đêm “trừ tịch” trước Tết tây, đèn thắp sáng để báohiệu năm mới; hai số đầu “19” nằm bên trên, và hai số sau “76” nằm bên dưới. Để mừng lễĐộc lập, đèn lại thắp sáng để viết thành “4TH” tức là ngày mồng Độc lập cử hành vào ngày mồng bốn tháng Bảy, năm nay 1976 nhằm ngày Chủ Nhật. Ngàynày 200 năm trước, 13 thuộc địa họp lại, tuyên bố độc lập với Anh quốc, và thành lập Hợpchúng quốc Hoa kỳ. Năm nay, trong các cuộc lễ ăn mừng sinh nhật lần thứ 200 của đất nước,mọi người tham dự đều mặc áo quần, đội mũ, và quàng khăn có ba màu đỏ trắng xanh – màucờ Hoa kỳ. Đây là lần đầu tiên tôi chứng kiến cảnh mừng lễ Độc lập và lại được nghỉ “bắc cầu”sang ngày thứ Hai. Nếu một ngày lễ rơi vào thứ Bảy, sẽ được nghỉ “bắc cầu” qua ngày thứ Sáutrước đó.Sáng thứ Bảy, tôi được xem tận mắt cuộc diễn hành đầy màu sắc và sống động trên đường phốmà trước đây chỉ thấy trong phim xi-nê. Ban nhạc diễn hành của các trường trung học trongtiểu bang mang đồng phục tuyệt đẹp và sử dụng nhạc khí bóng loáng tụ về khoe tài, xen lẫn vớixe hoa của các đoàn thể xã hội và chính trị và xe trình diễn của các công ty hay cơ sở thươngmại khắp tiểu Dakota là tiểu bang chuyên về nông nghiệp và chăn nuôi nên rodeo không thể vắng bóngtrong dịp lễ trọng đại này. Bắt nguồn từ Tây Ban Nha và Mễ Tây Cơ và lan rộng ra khắp châu Mỹvà các quốc gia khác, rodeo là môn thể thao cỡi ngựa để thi thố kỹ năng cần thiết trong việcchăn bò. Các môn tranh tài hào hứng thường gồm quăng dây thừng bắt bê và trói lại, rượttheo vật lộn và chế ngự bò đực, cỡi ngựa chứng không yên, cỡi bò tót đang vùng vẫy hất ngườicỡi xuống, và cỡi ngựa chạy quanh các thùng phuy xếp vòng vèo theo hình lá cây chĩa bacloverleaf. Rodeo diễn ra suốt ngày Chủ Nhật ở Mandan, thành phố sinh đôi và cách Bismarckbảy dặm Anh, và thu hút cowboy cao bồi hay người chăn bò nam và cowgirl nữ khắp nơi, kểcả các tiểu bang lân cận, đổ về so thành phố mê ăn uống như tôi thì khoái street fair hội chợ ngoài đường phố hơn. Tronghai ngày thứ Sáu và thứ Bảy, người ta ngăn khu thị tứ dưới phố lại, không cho xe cộ đi qua đểlàm hội chợ. Các lò nướng ngoài trời nướng thịt ướp gia vị bay mùi thơm phức, Quỳnh Châumê đùi gà tây nướng, và tôi khoái thịt bò kèm với thịt cừu nướng theo kiểu Hy Lạp gọi là ra có xe bán món ăn đặc thù của các dân tộc khác nhau như Ái Nhĩ Lan, Đức, Na Uy, Nga, và nhiều kiosk bán áo quần may tại gia, tranh vẽ cảnh vật, và các sản phẩm thủ công nghệkhác. Trên sân khấu lộ thiên, nghệ sĩ địa phương thay nhau trình diễn giúp vui liên tục từ trưađến tối ngày lễ Độc lập, dân chúng tụ tập trên bãi cỏ xanh mướt rộng mênh mông trước capitolđể nghe nhạc và xem pháo bông. Đó là nơi Bình hẹn gặp chúng tôi. Số người tham dự năm nayđược dự đoán lên đến trên 30 ngàn. Người ta mang theo lawn chair ghế để ngoài trời để dùngtrên bãi cỏ hay ngoài vườn và các tấm trải để ngồi hay nằm thưởng thức hòa nhạc do ban nhạcđại hòa tấu của thành phố trình diễn trên sân khấu ở bậc thềm capitol. Khoảng 10 giờ đêm, trờitối, màn bắn pháo bông bắt đầu; ban nhạc tiếp tục đánh đến khi hết pháo bông.* * *Đầu tháng Bảy, tám giờ tối mà trời còn sáng. Cơm nước xong, tôi và Quỳnh Châu sửa soạn đemMạc lên capitol dự hội. Trên bãi cỏ đã có rất đông người, Bình và vài người bạn Mỹ học cùnglớp trên Đại học Cộng đồng Bismarck BJC đến trước giành chỗ sẵn cho chúng tôi. Tôi ứa nướcmắt ôm chặt cô em gái duy nhất và là đứa em từng sống gần gũi với tôi nhất; ở cùng một thànhphố mà hơn năm tháng nay anh em tôi mới gặp lại nhau. Các bạn của Bình biết ý đi ra nơi khácđể chúng tôi nói chuyện riêng quanh tôi, vài người hóa trang thành Uncle Sam chú Sam, đội mũ chóp cao màu trắngcó sao trắng trên dải xanh, và mặc áo đuôi tôm màu xanh và quần sọc đỏ và trắng, và đôi baphụ nữ ăn vận trang điểm như phu nhân đi dự dạ hội thời Cách mạng Hoa kỳ năm 1776. Tôi vàBình đang tỉ tê tâm sự trong khi Quỳnh Châu cho Mạc bú sữa thì một thiếu nữ bỗng ghé lại bắtchuyện với Quỳnh Châu,“Chào bà, tôi là Emma Lander. Tôi nhận ra bà vì bà xuất hiện trên tờ Bismarck Tribunetrước đây không lâu, khi sinh người Mỹ gốc Việt đầu tiên của North Dakota. Chắc là chú bé nàyđây? Trông chú ngoan quá, vừa bú vừa yên lặng thưởng thức âm nhạc như người lớn.”“Dạ phải, cám ơn cô. Tối hôm nay trời đẹp tuyệt vời, chúng tôi mừng lễ Độc lập lần đầutiên từ khi đến Bismarck,” Quỳnh Châu niềm nở trả lời.“Ngôi tháp capitol đẹp quá bà nhỉ. Tôi nhớ như in, một buổi sáng sớm cuối năm 1930,tôi khóc ròng khi đứng nhìn tòa capitol cũ chìm trong biển lửa. Tôi theo cha dự lễ động thổ xâycất tòa capitol mới này, nhưng không bao giờ có cơ hội dự lễ khánh thành,” cô kia buồn rầu mặt tôi là một thiếu nữ mười chín, hai mươi tuổi, người cao và thanh nhã, và mặt đẹpmột cách thần bí. Cô để kiểu tóc và mang trang phục của thập niên 1930, tức là thời đại khủnghoảng kinh tế. Tôi chào cô và nói cho có chuyện,“Ban hòa tấu đánh nhạc thật hay. Không biết lúc nào bắn pháo bông?”“Ông bà đừng nóng ruột, mùa này mặt trời lặn trễ, và đợi tối trời bắn pháo bông lên mớithấy rõ và đẹp,” thiếu nữ mỉm cười.“Emma, cô thật tài, thiên hạ đông đảo thế này mà cô nhận ra chúng tôi. Trước đâychúng mình gặp nhau lần nào chưa?” tôi không khỏi thắc mắc.“Có lúc mình là hàng xóm láng giềng với nhau. Nhà tôi ở ngay góc đường,” cô trả lờilửng tối vui vẻ và thoải mái, nhưng Quỳnh Châu không khỏi băn khoăn về Emma. Vài ngày sau,Quỳnh Châu trở lại chuyện ấy,“Mấy người bạn dạy trên trường BJC nói hàng năm cứ tối mồng bốn tháng Bảy là có mộtcô Emma xuất hiện trong lễ ăn mừng trên capitol, gợi chuyện với vài ba người, kể chuyệncapitol cũ bị cháy, và sau đó biến mất. Không ai gặp lại hay biết cổ ở đâu.”“Không ai chịu khó truy tầm tông tích cô ấy sao?” tôi ngạc nhiên.“Căn cứ theo lời kể và họ Lander của cổ, bạn em tin cổ là con gái đầu lòng trong số bốncô con gái của Thống đốc Bill Lander, nhân vật mà một sử gia gọi là bậc thầy về hí trườngchính trị,’” nàng hé mở bức màn bí mật và kể chuyện vị thống đốc Lander là bộ trưởng bộ tư pháp và là ứng cử viên thống đốc khi lễ động thổ xây tòa capitolmới cử hành vào trung tuần tháng Tám năm 1932. Cuối năm ấy ông đắc cử, đầu năm 1933nhậm chức, và không bao lâu sau bị công tố viên liên bang là kẻ thù chính trị truy tố về tội “âmmưu lường gạt chính phủ liên bang.” Năm 1934 tòa án liên bang xử, quan tòa lại là một kẻ thùchính trị khác. Ông Lander bị tuyên xử có tội và bị Tối cao Pháp viện North Dakota cách bèn tụ hợp chừng mười người bạn, tuyên bố North Dakota độc lập với liên bang, ban hànhluật khẩn cấp, và cố thủ trong dinh thống đốc đến khi gặp mặt tối cao pháp viện. Rốt cuộc, ôngnhượng bộ và trao quyền cho phó thống đốc lên thay năm 1934, vợ ông Lander ra tranh cử thống đốc nhưng thất cử. Năm 1935, ông chống ánthành công, và tòa phá án ra lệnh tòa dưới xử lại. Tòa xử lần thứ hai dưới sự điều khiển củaông quan tòa cũ, phụ thẩm đoàn luận tội lại bị hung “treo” hay lơ lửng, tức là không đạt đượckết luận có tội hay không, và ông công tố viên cũ quyết định đưa ra xử lại. Trong lúc đợi xửlần thứ ba, ông Lander lại bị truy tố về tội man khai khi tuyên thệ nói sự thực, bị đưa ra xử ởmột phiên tòa khác, và được tha bổng. Trong phiên tòa xử lại, ông thành công trong việc yêucầu thay thế vị quan tòa cũ rồi được xử tha bổng. Năm 1936, ông ra ứng cử và tái đắc cử Châu nhắc tôi,“Chống có nhớ Emma nói cổ từng là hàng xóm của mình không? Em về nhà cha mẹ lànơi mình ở hơn sáu tháng lúc mới tới, và cùng Bình đi xem các nhà chung quanh. Ngôi nhà thậtlớn sơn màu xanh lá cây ở góc đường đã dùng làm tư dinh của 20 vị thống đốc đầu tiên, kể cảông Lander, từ năm 1893 đến năm 1960 thì đóng cửa. Năm đó, tiểu bang xây xong tư dinh mớigần capitol cho thống đốc ở.”“Anh nghe nói người ta đang phục hồi ngôi nhà đó giống như hồi xưa để làm di tích lịchsử cho công chúng xem. Nhưng vợ nói vậy nghĩa là sao?”“Nhà bỏ trống, không ai ở từ năm 1960 mà đến 15 năm sau mình mới tới đây. Cổ làhàng xóm của mình thì là . . . ma vất vưởng trong dinh thống đốc cũ chớ không phải là người!”“Làm sao em biết cô hay bà Emma đã chết thành ma?” tôi gặng hỏi.“Với ôông dôông này phải nói có sách, mách có chứng Em nhờ bà quản thủ thư việntrường BJC tra cứu thì được biết Emma Lander bị bệnh mất vào năm 1935, thời gian cha cô gặpkhó khăn nhất. Lúc đó, cô mười chín tuổi và còn độc thân.”Lúc sinh tiền, Emma chưa được thấy tòa capitol mới hoàn thành và chính thức hoạt động. Ngàynay, hồn ma của cô trở về chốn cũ ăn mừng lễ Độc lập với đồng bào. Ước gì tôi được gặp cô Ngọc HoaNgày 14 tháng Tư, 2021Ai Làm Nên Nỗi?Đối với một người Mỹ đi làm việc trung bình, hai hay ba tuần nghỉ phép hàng năm đưa gia đìnhđi chơi xa về mùa hè là quyền lợi nhân viên quan trọng. Trong thời gian ấy, vợ chồng con cáicùng nhau đi du lịch, thăm viếng thắng cảnh hay địa điểm nổi tiếng, đi ngoại quốc cho biết đóbiết đây, và nếu con vào lứa tuổi thiếu niên, đến các khu giải trí được ngưỡng mộ nhưDisneyland ở nam California hay Disney World ở Florida. Các khu giải trí này có nhiều trò chơivà ride các loại máy móc có ghế ngồi và chuyển động để tạo cảm giác hồi hộp mạnh mẽ chongười “đi” [hay “ride”], mua vé vào chơi cả tuần lễ cũng chưa làm việc chưa đầy năm nên chưa có phép thường niên. Một số bạn người Việt của tôi có cơhội đi nghỉ hè, nhưng họ không đi viếng cảnh hay du lịch mà đi thăm bạn bè thân nhân. Cả giađình hay một nhóm bạn chất hết lên một chiếc xe hơi và thay nhau lái không nghỉ, chỉ ngừng lạiđổ xăng và làm công tác vệ sinh. Đến nơi, gia chủ bày sẵn tiệc tiếp đón, khách ngồi vào chénmày chén tao đến khi say túy lúy và đi ngủ. Hôm sau, tiệc rượu lại tiếp diễn. Vài ngày sau,khách lên đường về nhà và lái một mạch như khi đi, mệt nhoài và buồn rầu ủ ê vì vừa chia tayvới bạn Phức, Phiến, và thằng Sang em tôi vừa trở về sau một chuyến nghỉ hè như thế. Anh Phứcđi sang đây một mình, vợ con còn ở Việt nam, và làm việc trong xưởng dây chuyền lắp ráp củahãng chế tạo máy cày. Phiến độc thân thực sự và làm trong hãng chế tạo trailer nhà di động.Thằng Sang vẫn đi làm trạm xăng và đã dọn ra ở chung với Phiến vì hết chịu đựng nổi bản tínhnghiệt ngã của cha. Phiến trạc tuổi thằng Sang, người mập mạp và tốt bụng, nhưng phải tội ănnói bừa bãi và khoái chê bai anh Phức. Anh quê ở làng Mỹ Lợi cách Huế chừng 30 cây số vềphía đông nam, làng duy nhất nằm trong tỉnh Thừa Thiên mà dân chúng lại nói giọng QuảngNam. Phiến giễu cợt cách phát âm của anh qua mẩu chuyện khôi hài,Hỏi Tại sao người làng anh Phức không biết ngồi xe lam hay đi xe đạp?Đáp Vì họ chỉ ngồi xe lôm và đi xe lam là loại xe thùng nhỏ có ba bánh dùng làm phương tiện chuyên chở công cộng của giớibình dân. Anh Phức làm ca đêm, ban ngày lái xe lòng vòng thăm các bà độc thân có con màkhông chồng, nhưng mật ít ruồi nhiều, không dễ dầu gì lọt vào mắt xanh của họ. Phiến chọcghẹo anh bằng câu ca dao,Em như cục cứt trôi sông,Anh như con chó chạy rông trên Phức tức giận la lên,“Trâu buộc ghét trâu ăn! Cái thằng Phiến này, mi ganh tị vì thấy tao đẹp trai nói chuyệncó duyên được các em’ mê tít thò lò.”“Anh có số đào hoa mà sao suốt ngày vác bộ đồ nghề’ chạy rông, chẳng nên cơm cháogì?” Phiến cười cười.“Mi cũng xách củ cải’ chạy rông như tao chớ giỏi giang chi?”“Sức mấy! Tui là trai tơ, súng ống chưa sử dụng, chưa nếm mùi đời, chay tịnh khôngsao. Còn ai đó’ từng trải chuyện đời mới ăn quen nhịn không quen,” Phiến phản nghỉ hè của ba người thực hiện được nhờ xưởng dây chuyền lắp ráp của anh Phức chonhân công nghỉ một tuần để bảo trì máy móc. Anh rủ Phiến và thằng Sang đi thăm gia đìnhngười anh vợ anh ở ngoại ô Chicago thuộc tiểu bang Illinois. Lần đầu tiên có dịp đi xa nên tuyphải xin nghỉ làm không ăn lương, Phiến và thằng Sang sốt sắng nhận lời, nhất là khi nghe nóigia đình đó có hai cô em gái trẻ tuổi độc thân – biết đâu đấy!Người đi xa về có thật nhiều chuyện để kể cho mấy tay nhà quê chưa có dịp ra khỏi NorthDakota như tôi. Chicago có nhiều người Việt định cư, họ liên lạc được với thân nhân trên khắpthế giới và có đầy đủ tin tức Việt nam mà nhiều tháng nay báo chí Hoa kỳ hầu như quên vậy, tôi biết được những thủ đoạn cướp bóc trắng trợn và trả thù độc ác của chính quyềnmới. Như “tiếp quản” các xí nghiệp tư và các trường đại học và trung học tư, bắt dân chúng đổitiền nhưng chỉ cho đổi rất giới hạn – số tiền mồ hôi nước mắt còn lại bị mất toi, “đánh tư sảnmại bản,” đày đọa “ngụy quân ngụy quyền” đi “học tập cải tạo,” và “tịch biên” nhà cửa và tàisản của gia đình họ, Đám dân thường sống khật khừ người không ra người bên ngoài nhàtù thìLao động là vinh quang,Lang thang là chết đói,Hay nói thì ở tù,Lù khù thì đi kinh tế khi anh Phức và Phiến ba hoa về đời sống thành phố lớn trong bữa nhậu cuối tuần, thằngSang đi làm bù cho những ngày nghỉ. Hơn một tuần sau ngày đi Chicago về, chiều thứ Sáu nógọi điện thoại vào sở cho tôi,“Hôm nay anh cúp cua về sớm một bữa đi. Ra ba bar gần trạm xăng uống bia, tui cho lắm, tắm cũng ở truồng!”Hai anh em tôi uống bia chay không đồ nhắm như người Mỹ. Khi uống đủ đô dose, thằngSang mở lời,“Anh còn nhớ thằng Khắc bạn học của tui ở Tuy Hòa không?”“Thằng Khắc hiền hiền ngu ngu, sau khi thi đậu Tú tài II, đi sĩ quan Hải quân, và về TuyHòa phục vụ trong đội Hải Thuyền đóng gần bãi biển Đông Tác; anh biết nó mà,” tôi gật đầu.“Lúc tụi tui vừa tới nơi, ông anh vợ anh Phức bày sẵn tiệc tẩy trần, và một lô bạn Hảiquân ở quanh vùng ngồi chờ. Thằng Khắc là một trong mấy thằng Hai quần đó.”“Mừng mày gặp lại bạn cũ,” nhưng tôi chờ nó đi vào chuyện chính.“Nó dȁn theo con bồ sắp cưới, tui thấy là muốn nhảy dựng lên. Anh tin được không, bồnó là con Hạnh Thúy Phan Thiết?”Mùa hè năm 1971, thằng Sang bị gọi nhập ngũ vào trường Bộ binh Thủ Đức, ra trường đượcchọn đi Pháo binh và gửi đi học ở trung tâm Huấn luyện Pháo binh ở Dục Mỹ, và được bổ vềtiểu khu Bình Thuận ở Phan Thiết làm sĩ quan tiền sát gọi là đi đề-lô. Ở thành phố duyên hảiduyên dáng hiền hòa này, nó làm quen với Hạnh Thúy, cô nữ sinh lớp 12 trường trung học PhanBội Châu, và dần dần tình yêu hai người lớn mạnh. Cha mẹ nàng là thương gia giàu có, khôngphản đối, và cho phép nàng dự liên hoan của sĩ quan tiểu khu với em tôi vào các dịp lễ lạt được thăng chức thiếu úy, thằng Sang hớn hở đến nhà Hạnh Thúy dự định ngỏ chuyệnhôn nhân thì bị nói thẳng vào mặt là cha mẹ nàng đã quyết định gả con gái cho Trung úy Tạo, ysĩ trưởng Trung đoàn XX đóng ở Sông Mao. Mang mặc cảm thua kém tình địch, thằng Sang đaulòng ôm mối hận tình xin ra cầm trung đội Pháo binh đặt ngoài Phan Thiết và không lai vãng vềthành phố. Ít lâu sau, dư luận tỉnh nhỏ đồn Bác sĩ Tạo bỏ rơi Hạnh Thúy để cưới cô con gáimười sáu tuổi của vị tướng tư lệnh sư đoàn và đổi về Sài gòn làm việc. Người ta cũng vô tuyếntruyền miệng Hạnh Thúy và đứa em trai “lên Đà Lạt học,” nghĩa là nàng mang bụng bầu lên đósinh nói của thằng Sang mang một chút tiếc nuối,“Phải công nhận gái một con trông mòn con mắt, con Thúy càng ngày càng đẹp. Nhưngcặp với thằng Khắc cù lần lửa thì đúng là bánh bột lọc cho ngâu vọc.”“Sao mày không nhào dzô lại? Thời buổi người khôn của khó dễ gì mà kiếm được ngườinhư Thúy?” tôi gợi ý.“Làm sao tui quên được nỗi nhục nhã đắng cay khi bị em’ đá ra rìa? Đứa con thằng Tạotặng’ cho em’ trước khi quất ngựa truy phong còn đó; con Thị Mầu sao nỡ biểu Thị Kính nàynuôi?”“Có bao giờ nói mày chuyện với Thúy về đứa bé, trai hay gái và tên gì không?”“Tui đâu có dư thì giờ mà hỏi thăm con hoang của thằng Sở Khanh đó,” nó nói chắc Sang không ngờ rằng cô bé tên là Thúy Sang, do “Hạnh Thúy” và “Sang” ghép lại, và thựcra là con của nó. Đầu tháng Tư năm ngoái 1975, khi Đà Lạt thất thủ, nàng ôm con cùng thằngem trai chạy về Sài gòn ở đỡ nhà người bà con trong Chợ Lớn. Nàng vào trường Phú Thọ gặptôi trước rồi mới đến nhà tìm thằng Sang. Khi nói chuyện riêng với tôi, nàng tiết lộ nhưng bắttôi phải cam đoan giữ kín,“Cuối năm 1973, anh Sang đưa em đi dự tiệc tất niên Quý Sửu của sĩ quan tiểu khu, bịbạn bè chuốc rượu say nhừ, và đưa em về nhà. Hai đứa không kềm chế được lòng mình vàdâng hiến cho nhau. Hôm sau tỉnh rượu, ảnh không nhớ cuộc ái ân đêm qua. Khổ nỗi em ngutận mạng, không hay mình dính bầu do cái lần đầu tiên và độc nhất đó, cho đến sau ngày ba mánhận lời cầu hôn của gia đình anh Tạo và ép em lấy ảnh. Ảnh khám phá ra bụng bầu của em vàtừ hôn.”Khi Hạnh Thúy đến nhà thăm và gặp mẹ, thằng Sang đưa nàng về và đi chơi qua đêm. Trái vớisự mong ước thiết tha của tôi, hai kẻ yêu nhau một lần nữa quay lưng lại với nhau.* * *Khoảng một tháng sau khi nói chuyện với thằng Sang, tôi được công ty gửi đi Chicago dự hộinghị về phương pháp khảo sát hệ thống điện, chuyến đi công tác xa đầu tiên của tôi. Hội nghịtừ thứ Tư đến thứ Sáu, tôi ở lại cuối tuần, lục niên giám điện thoại và hỏi tổng đài tìm số điệnthoại của Hạnh Thúy, và gọi hẹn gặp nàng đi ăn tối ở phố Tàu. Thấy tôi, nàng vui mừng chạy lạiôm khóc rưng rức; tôi hỏi,“Nhỏ Thúy Sang khỏe không, bây giờ biết làm gì rồi?”“Dạ, cháu mới biết đi lȁm đȁm và nói bập bẹ vài tiếng. Cháu ở nhà với ông bà ngoại vìem đi làm và đi học suốt ngày,” nàng lấy khăn chặm nước mắt.“Thực không ngờ em và gia đình đi được sang đây. Hồi đó, anh tưởng em sẽ đưa cháuvề Phan Thiết.”“Ban đầu em tính vậy. Nhưng khi về nhà người bà con thì được tin đường sá ở PhanThiết tràn ngập xe cộ của đoàn di tản từ các tỉnh phía bắc chạy vào, chợ Phan Thiết bị cháy rụi,và tỉnh nhà trở thành tuyến địa đầu chống lại quân Cộng sản. May quá, ba má kịp thời bỏ nhàbỏ cửa kéo mấy đứa em chạy thoát thân vào Sài gòn. Cả nhà tụ lại một chỗ và sau đó theo tàuHải quân di tản sang đây.”Hạnh Thúy kể chuyện vừa qua,“Trong trại tỵ nạn Đồn Chaffee em gặp lại anh Tạo. Ảnh đi một mình vì cô vợ trẻ ở nhàcha mẹ cổ và ông tướng anh hùng nhất định không rời khỏi nước và cũng không cho phép giađình ra đi.”“Và anh ta ngỏ ý muốn chắp nối với em, phải không?” tôi hỏi đùa.“Sao anh biết hay quá vậy?” nàng tưởng tôi nói thực, “Ảnh đề nghị hai đứa xáp lại sốngchung, khai là vợ chồng và bé Sang là con ảnh, và làm lại từ đầu.”“Sao em không nhận lời?”“Ảnh tưởng nhỏ Thúy ít học ngu si này ham lấy bác sĩ lắm nên đui mắt, không thấy cáidây thòng lọng thắt cổ. Em hỏi ảnh, Chừng mai mốt vợ anh lù lù qua đây thì tính làm sao?’Ảnh tịt ngòi luôn.”Hạnh Thúy nói về cuộc sống hiện tại,“Ba má đã có tuổi, ở nhà ăn trợ cấp chính phủ và giữ cháu. Ban ngày em làm bồi bàntiệm Tàu, buổi tối đi học Anh văn và học thi lấy bằng GED.” GED general equivalency diplomalà bằng tương đương với chứng chỉ tốt nghiệp trung học.“Nhất em rồi! Không phải ai cũng chịu khó và có tinh thần cầu tiến như em; thằng Sangtối ngày chỉ lo ăn nhậu,” tôi thành thật khen nàng, “Nhưng sao anh nghe nói em sắp lập gia đìnhvới Khắc bạn nó?”“Không có đâu anh. Bữa đó em tới giúp làm tiệc vì em là bạn thân của em gái chủ biểu hai cô ấy nói vậy để chọc cho ảnh tức chơi. Em sợ đàn ông lắm rồi anh ơi!”Trên chuyến bay từ phi trường O’Hare Chicago về Bismarck chiều Chủ Nhật, tôi lẩn thẩn tự hỏitại sao bé Thúy Sang lớn lên không có cha. Lỗi tại ai? Do cha mẹ Hạnh Thúy gây ra thảm kịchnày? Hay vì thằng Sang đã tạo ra bé mà không hay biết bé hiện hữu? Hay tại Hạnh Thúy câunệ, tự ái không thèm nói bé là con của nó? Và Bác sĩ Tạo có góp phần khiến nàng “sợ đàn ônglắm rồi” không? Chung quy, chỉ có ông Trời là dễ đổ lỗi,Cho hay duyên số bởi trời,Dầu ai thêu dệt vẽ vời mặc ai.Ca daoNguyễn Ngọc HoaNgày 28 tháng Tư, 2021Nhiều Nỗi Truân ChuyênTháng Bảy và tháng Tám là hai tháng nóng nhất trong năm ở Bắc bán cầu. Mặc dù NorthDakota nằm phía cực bắc Hoa kỳ, giáp giới với Gia Nã Đại, mùa hè cũng nóng nực như nơi chiều nhiệt độ có khi lên đến trên 100° Fahrenheit khoảng 38° Celsius, nhưng không khíkhô, và ban đêm trời mát xuống nhanh và trở nên dễ chịu. Với thời tiết khá lý tưởng này, vàocuối tuần, đám dân tỵ nạn quen sống vùng nhiệt đới quanh năm nóng và ẩm tha hồ vui hưởngcác sinh hoạt tập thể như đi cắm trại, ăn uống và ngủ đêm ngoài trời, đi câu cá, và viếng thămnông trại để làm gà làm heo và làm bò nướng bê thui. Nhóm bạn tôi gồm một số cựu quânnhân Hải quân như anh Dần và anh Phức và thanh niên độc thân như Phiến, ai nấy đều tháo vátvà có nhiều sáng ấy, chúng tôi ra thăm nông trại của vợ chồng Phượng và Dean. Thay vì bắt gà “đi bộ” làmthịt như thường lệ, anh Dần bỗng thèm ăn thịt heo tươi, “Ăn thịt heo đông lạnh bán ngoài siêuthị hoài ngán quá,” và nhờ Dean đưa sang trại nuôi heo gần đó mua heo con giết thịt. Anh Dầnlà kẻ đầu nêu, việc gì anh cũng làm được dễ dàng. Thấy tôi đứng xớ rớ gần con heo vừa bị bắnchết và tỏ bộ muốn phụ giúp, Phiến gạt tôi sang một bên,“Anh Ba Hoa làm thợ vịn chỉ vướng tay vướng chân người khác. Xê ra cho tui nhờ!”Được lời như cởi tấc lòng, tôi lấy thuốc lá ra hút phì phèo,“Xê ra thì xê, sợ gì?”“Coi kìa, ông kỹ sư chừ đứng làm giám thị chỉ huy tụi mình,” anh Dần cười khà khà.“Giám thị gì anh Ba Hoa, giám thị . . . ăn thì có!” đến lượt Phiến mỉa hay nói xóc óc, nhưng trúng phóc ở điểm tôi vụng về không làm gì ra hồn ngoài việc . . .ăn. Chẳng hạn như khi biết tôi không biết câu cá, anh Dần đưa tôi đi mua cần câu và các dụngcụ cần thiết và chỉ dẫn cách móc mồi, ném dây câu, Tôi ra hồ câu với anh hai lần, lần nàocũng ngồi cả buổi mà không có con cá nào chịu cắn câu. Anh nói tôi không có số “sát cá,” “Thôianh cứ ngồi chỗ cắm trại đọc sách hay theo đuôi mụ vợ nghe lóm chuyện tò le ngồi lê đôimách, chờ tui đem cá về.” Từ đó, tôi giữ nhiệm vụ nhóm lửa trong lò đốt bằng than để các bànướng cá câu được và thịt ướp sẵn ở nhà mang nay có anh Phức là người khắc khẩu với Phiến, tôi không thể bỏ qua dịp tốt để xúi haingười cãi nhau cho có chuyện cười. Tôi quay sang anh Phức phân trần,“Lưỡi không xương nhiều đường lắt léo. Mấy người này . . . mệt quá; tôi muốn phụ mộttay thì không cho, mà đứng ngoài ngó cũng không để cho yên thân.”“Thằng Phiến biết khỉ khô gì mà anh thốc mốc thắc mắc lồm làm chi cho mệt người?”với giọng Quảng Nam, anh nói với tôi nhưng cốt để Phiến nghe.“Tui nghe rồi đó. Anh Phức bữa nay bị mấy mệnh phụ phu nhân’ cho ra rìa, hết chỗchầu chực, và phải đi chơi với tụi tui sao?” Phiến hỏi móc, ám chỉ anh Phức đi làm ca đêm vàban ngày rảnh rỗi lái xe loanh quanh “thăm” các bà độc thân có con mà không chồng, và khôngai đáp lại . . . thịnh tình của anh.“Cái thằng Phiến ni, mi ăn nói ba láp ba xàm nữa thì tao kêu con Thúy Hạc tới chưởi mimột trận cho tởn thói cà chớn,” anh Phức dọa nhưng hiển nhiên đã xuống Hạc và chồng là Ralph ở thành phố Dickinson có chừng 15,000 dân nằm cách Bismarck 100dặm Anh về phía tây. Chúng tôi gặp cặp vợ chồng này khi họ đến dự tiệc ăn mừng năm mới1976 được tổ chức để cám ơn ân nhân bảo trợ và bạn mới trong thành phố. Họ đến trễ, tôi rađón, và tôi ngẩn ngơ vì trông Thúy Hạc rất quen nhưng không nhớ đã gặp ở đâu. Nàng cũngthȁn thờ, có lẽ cũng vì vậy. Tôi bận rộn lăng xăng nên đưa hai người đến bàn Phiến ngồi và nhờPhiến tiếp phục vụ ở Việt nam, Ralph là đại úy tâm lý chiến, hai người cùng nhau về Mỹ năm 1973, vàRalph làm cán sự xã hội trong dưỡng trí viện Dickinson. Hai người có hai cậu con trai đứa lớnbảy tuổi có khuôn mặt rặt Việt nam và được hai người gọi bằng cái tên nghe từa tựa như “Tuan” mà chúng tôi thầm đoán là “Tuấn,” và đứa nhỏ ba tuổi rõ ràng là con lai. Sau này, dù chơithân với Thúy Hạc, tôi vȁn không biết gì về thân thế nàng. Nàng thủ khẩu như bình, nói lảngsang chuyện khác khi bị hỏi về đời tư ở bên cả bọn đi chơi chung, Thúy Hạc bày tỏ cảm tình đặc biệt đối với tôi và đôi khi âu yếm cóchiều lả lơi, nhưng nói bằng tiếng Anh nên không ai để ý. Tôi nhận thấy Phiến si mê nàngnhưng không dám bộc lộ mà thỉnh thoảng đùa cợt chớt nhả khiến nàng nổi giận mắng nhiếcthậm tệ. Tuy thích cãi vã, Phiến bị mắng mà vȁn nín khe, không một lời biện bạch. Đó là lý doanh Cấp đem Thúy Hạc ra dọa nghe nói cuối tuần Phiến hay lái xe lên Dickinson, chạy quanh quẩn vài vòng trong thànhphố nhỏ, và ngồi hàng giờ ở ghế đá trong công viên trước nhà Thúy Hạc. Một thiếu phụ thôngminh, xinh đẹp, và cởi mở như nàng, nếu nhằm lúc, đàn ông ai mà không yêu? Ngay cả tôi, dùcó nàng tiên Quỳnh Châu bên cạnh, thỉnh thoảng ngủ mơ thấy mình sánh vai gần gũi Thúy tỉnh giấc, tôi cho giấc mơ ấy, theo thuyết phân tâm học của Sigmund Freud 1856 – 1939,phát sinh do ham muốn tình dục bị dồn nén vào tiềm thức.* * *Mùa thu năm 1978, Quỳnh Châu cùng bé Mạc đi Âu châu thăm gia đình nàng, tôi ở nhà đi làm,và một biến cố dị thường xảy đến. Hôm đó là sáng thứ Bảy, tôi lái xe lên Dickinson rồi tiện dịpghé thăm Thúy Hạc trong khi Ralph chồng nàng đưa hai đứa con về tiểu bang Indiana thăm bànội. Vào trong nhà, tôi choáng váng trước cảnh mộng huyễn hay thấy trong giấc mơ Thúy Hạcnằm nghiêng trên giường trong bộ áo quần ngủ lụa hồng, tựa đầu lên chiếc gối thêu hoa, vàmắt khép mơ màng. Mê mẩn bước lại gần và trước khi cúi xuống hôn lên đôi môi mời mọc nhưtrải qua trong mộng, tôi giật mình thức tỉnh, nhắm nghiền mắt lại để xóa tan mộng cảnh, vàbước ra ngoài. Ba ngày sau, tôi nhận được thư của nàng xác nhận điều tôi âm ỷ nghi ngờ nhưnggạt đi, cho là thậm vô lý,Từ ngày gặp anh lần đầu, em luôn ngủ mơ thấy trong một kiếp xa xưa nào đó của em –và của anh, mình là đôi vợ chồng hạnh phúc bên tôi được tin vợ chồng Thúy Hạc dựng bảng bán nhà dọn đi nơi khác và không để lại địa một tuần sau, Phiến đến thăm tôi với vẻ mặt buồn thiu. Tôi lấy bia, loại bia Budweiserthường uống, ra mời, nhưng Phiến lắc đầu và chạy ra xe lấy vào hai xâu 12 lon bia OldMilwaukee. Miệng méo xẹo nhưng Phiến rán ghẹo tôi,“Anh là ông kỹ sư mới uống Budweiser lon trắng, làm bằng gạo, nặng độ rượu hơn, vàmắt tiền hơn; tui là dân lao động vinh quang chỉ dám chơi Old Milwaukee vừa nhẹ vừa rẻ.”“Không phải vậy. Tôi uống Budweiser vì ngày sinh viên túi không tiền được mấy ông chúcho uống bia Budweiser chùa. Rồi thành quen thói,” tôi phân trần rồi hỏi, “Hôm nay có chuyệnchi mà tôm quá bộ đến nhà rồng?”“Anh biết chị Hạc dọn nhà đi chỗ khác rồi không?” Phiến không dấu vẻ bực bội.“Bây giờ tôi biết rồi. Nhưng mà sao?”Tôi trả lời lửng lơ vì chưa biết chủ ý của Phiến. Dù sao đi nữa, tôi không thể tiết lộ mối liên hệhuyền ảo giữa mình và Thúy Hạc. May thay, dường như muốn chia xẻ niềm tâm sự, Phiến lúngtúng mở đầu,“Anh biết tui là người Việt gốc Hoa và hồi trước học trường trung học Mạc Đĩnh Chikhông?”“Tôi không biết Phiến là dân ngộ ái nị’ tôi yêu cô/anh, nhưng ngôi trường mang tên vịLưỡng quốc Trạng nguyên đó thì tôi biết.”Mạc Đĩnh Chi là trường trung học công lập hỗn hợp nam nữ học chung duy nhất ở Sài gòn vàđược thành lập năm 1957 dưới thời Đệ nhất Cộng hòa, sau khi chính phủ ban hành Dụ hay Sắclệnh số 53 cấm Hoa kiều làm 13 nghề họ đang nắm độc quyền thao túng thị trường. Nếu muốngiữ nghề cũ, họ phải nhập Việt tịch và hưởng quyền lợi và thi hành bổn phận như những ngườiViệt khác. Trường được lập ra nhằm đáp ứng nhu cầu của học sinh người Việt gốc Hoa chuyểnsang học chương trình Việt. Họ được vào học vô điều kiện trong vài niên khóa đầu, dần dầnphải thi tuyển với ưu tiên có thêm điểm, và sau đó Việt hóa hoàn Trung Hoa có rất ít đại danh từ để xưng hô, không như tiếng Việt có vô số đại danh từkhác biệt nhau một cách tinh tế. Ngôi thứ nhất tiếng Trung Hoa chỉ có chữ ngã người QuảngĐông phát âm là ngộ, là “tôi” và ngôi thứ hai chỉ có vài ba chữ như nhĩ và nãi cả hai, ngườiQuảng Đông phát âm là nị, là “anh” và “cô”. Do đó, ở Mạc Đĩnh Chi, thầy cô đôi khi nghe họcsinh phát biểu những câu tréo cẳng ngỗng như,Thưa thầy, nó đánh cô, mầy hỏi cái gì tao không hiểu?Qua bước đầu, không còn ngượng miệng, Phiến nói về Thúy Hạc,“Chỉ là một hoa khôi của Mạc Đĩnh Chi và trên tui hai lớp. Đứa vô danh tiểu tốt như tuilại cả gan chơi trèo, âm thầm hâm mộ chỉ từ hồi đó.”“Vậy Hạc là người Việt gốc Hoa mà tôi không hay, sao Phiến không nhìn bà con?”“Từ phút đầu tiên, khi anh đưa chỉ lại giới thiệu và nhờ tiếp giùm, tui nhận ra chỉ mấy năm nay không dám hé môi nói cho ai biết.”“Tại sao lạ vậy?”“Vì cảnh ngộ, chỉ thay tên đổi họ để trốn lánh mọi người quen cũ,” Phiến trầm ngâmnhớ lại chuyện người đàn bà bí tên thật là Nhan Thủy Thúy, con một của một gia đình thương gia giàu có ở trên đườngLục Tỉnh Chợ Lớn. Mùa thu 1967, sau khi đậu Tú tài II hạng Bình, nàng ghi danh học “chứng chỉ”Lý Hóa Nhiên tức là SPCN Science, Physique, Chimie, et Naturelle ở Đại học Khoa học Sài gòntrong khi làm thủ tục giấy tờ đi Hoa kỳ du học học ngành quản trị xí nghiệp để sau này coi sóccơ nghiệp gia đình. Người yêu của nàng cũng là cựu học sinh Mạc Đĩnh Chi và đang theo họcngành kiến trúc ở trường Cao đẳng Kiến trúc nằm trên đường Mậu Thân 1968, Việt Cộng tấn công vào các thành phố, đột nhập vào Chợ Lớn, và trốntrong nhà dân chúng để bắn ra. Chiếm giữ nhà Thủy Thúy là thằng Việt Cộng cầm đầu “Thànhđoàn,” tên gọi tắt của “đoàn Thanh niên Lao động Việt nam,” chuyên giật dây, phá rối, và khủngbố trong hàng ngũ thanh niên, sinh viên, và học sinh ở “nội thành” Sài gòn - Gia Định. Thằng nàytrước kia giả dạng người Việt gốc Hoa trà trộn vào Mạc Đĩnh Chi, trên nàng ba lớp, và mê nàngnhư điếu đổ nhưng bị thẳng tay cự tuyệt. Thừa cơ hội đột nhập này, nó dùng võ lực cưỡng bứcnàng. Trước khi cùng đồng bọn trốn chạy, nó hứa giữ kín chuyện này nếu hàng tháng cha mẹnàng nộp một số tiền lớn để “ủng hộ nhân dân miền Nam anh hùng đánh lại đế quốc Mỹ.” Nếukhông, nó sẽ công bố chuyện nàng không còn trinh trắng và cho đặc công phá vỡ cơ sở kinhdoanh và hạ sát cả gia đến đây, Phiến nén tiếng thở dài thương cảm,“Họa vô đơn chí, chỉ khám phá ra mình mang thai, mộng ước du học trở thành mây khói,và người yêu không còn lai vãng thăm viếng và nghe đâu đã cặp bồ với cô khác.”“Tại thằng Việt Cộng khốn nạn mà ra cả,” tôi tức giận la lớn.“Dù ở trong hoàn cảnh nghiệt ngã, chỉ đáng mặt là bậc anh thư cho tui tôn thờ. Ngườita đồn chỉ bí mật tiếp xúc với cơ quan an ninh và hợp tác để giúp họ tìm cách hốt trọn ổ bọnViệt Cộng nằm vùng. Kế hoạch thành công, mạng lưới đặc công vùng Chợ Lớn bị phá vỡ, vàthằng hèn hạ đào tẩu không kịp bị bắn chết. Sau đó, chỉ biến mất; không ai biết chỉ đi đâu vàlàm gì. Cha mẹ chỉ cũng vậy; nhà cửa và doanh nghiệp đã chuyển nhượng cho người khác.”Điều này giải thích tại sao Thúy Hạc không bao giờ đề cập tới quãng đời ngày trước; cậu bé “Tuan” có lẽ là đứa con oan trái đó. Cuộc đời nàng như được diễn tả bằng lời mở đầu Chinh phụNgâm khúc,Thuở trời đất nổi cơn gió bụi,Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên.Đặng Trần Côn – Đoàn thị ĐiểmNguyễn Ngọc HoaNgày 9 tháng Sáu, 2021Máy Điện Toán và TôiTôi làm việc ở nha Điều hành Hệ thống Điện của Công ty Tiện ích Montana-Dakota đã được nămtháng. Ông sếp già Howard để cho tôi tự do chọn làm các dự án thấy hợp với kiến thức lýthuyết của mình. Tôi miệt mài học hỏi phương cách điều hành hệ thống điện và cố gắng thíchnghi với vai trò kỹ sư kế hoạch điện lực. Trong môi trường mới, việc tính toán liên quan đến hệthống điện đòi hỏi hàng ngàn, có khi hàng vạn, con tính nhỏ và không thể làm bằng tay mà phảidùng máy điện toán. Tôi thấy mình thua kém các kỹ sư trẻ của công ty ở chỗ họ đều họcFORTRAN và dùng máy điện toán khi còn học trong trường đại học. FORTRAN do “FormulaTranslation” là phiên dịch công thức là ngôn ngữ thảo chương dùng để tính toán trong các ápdụng khoa học và kỹ Việt nam, tôi đã tự học lý thuyết máy điện toán, và Ngành Điện của Đại học Kỹ thuật thuộcViện Đại học Bách khoa Thủ Đức có một chiếc máy Nova 800 do hãng Data General chế tạo. Tôicũng đã dự một khóa hội thảo dành cho giảng viên trường Đại học Kỹ thuật dạy thảo chươngngôn ngữ BASIC. BASIC do “Beginner's All-purpose Symbolic Instruction Code” nghĩa là mệnhlệnh dùng ký hiệu đa dụng dành cho người mới học được Đại học Dartmouth thiết kế và phổbiến năm 1964. Nhưng tôi chỉ đứng xa nhìn chứ chưa hề rớ tới chiếc máy Nova, và tầm hiểubiết về máy điện toán và BASIC chỉ là lý thuyết điện toán chính duy nhất của công ty là hệ thống Honeywell 2000 với ký ức có khả năngchứa 32 KB kilobyte, tức một ngàn “byte”. Điện thoại di động ngày nay với ký ức 16, 32, hay64 GB Gigabyte, tức một tỉ “byte” có khả năng bằng 500 ngàn, một triệu, hay hai triệu lầnchiếc máy Honeywell tối tân năm 1976. Máy điện toán này và dụng cụ ngoại biên được đặttrong phòng máy điện toán là một căn phòng lớn ở lầu ba có gắn máy lạnh để làm mát; mạchđiện tử khi hoạt động sẽ tỏa nhiệt và nếu nóng lên sẽ bị hư hỏng. Hệ thống được các điều hànhviên điện toán trực tiếp điều khiển bằng cách đánh mệnh lệnh vào bàn chữ đặt trên mặtconsole là bộ phận điều khiển trông giống như cái tủ nhỏ kiểu có chân biết mình không thể không biết thảo chương programming FORTRAN và bắt đầu chươngtrình học ngôn ngữ này bằng cách hỏi anh bạn đồng sự Dennis ngồi kế bên, “Anh còn giữ cuốnsách FORTRAN nào không?” Hình như đã chờ đợi câu hỏi này từ lâu, Dennis lấy từ kệ sáchtrước mặt đưa cho tôi cuốn sách giáo khoa anh dùng ở đại học và tập tài liệu bìa rời do hãngHoneywell cung cấp. Anh là chuyên viên phụ trách thiết trí và điều hành các chương trìnhFORTRAN giải toán về hệ thống điện. Tôi để ra ba ngày làm việc ở sở và nguyên cuối tuần ở nhànghiền ngȁm hai tập sách rồi đến sáng thứ Hai báo cho anh biết tôi đã sẵn sàng, anh cần giúptôi khởi trình điện toán đầu tiên của tôi sẽ tính đặc tính về điện của các đường dây truyền điệncao thế có cấu trúc, dây dȁn điện, chiều dài, khác nhau của công ty. Tôi có sẵn dữ kiện thô,đã thực hiện phép tính bằng tay, và có đầy đủ kết quả nên chỉ cần chú trọng về mặt thảochương. Trước hết, Dennis hướng dȁn tôi viết mệnh lệnh vào mȁu thảo chương mà mỗi dòngcó 80 ô, mỗi ô dành cho một ký tự character. Ký tự có thể là một chữ như A, B, C, một sốnhư 1, 2, 3, hay một ký hiệu toán học như +, -, *, /.Sau khi viết xong mȁu thảo chương, tôi gửi xuống ban Xuyên Phiếu ở lầu ba yêu cầu “đục lỗ vàsoát lại.” Ban này có hơn một chục nhân viên, toàn là phụ nữ. Họ dùng máy xuyên phiếu trôngtựa như một chiếc máy chữ lớn để đục lỗ tín hiệu key punch vào các tấm thẻ, và để soát lại,dùng máy kiểm phiếu có hình thể tương tự. Mỗi tấm thẻ là một dòng mệnh lệnh và có 80 cộttương ứng với 80 ô trên mȁu thảo chương. Mỗi cột trên thẻ gồm 12 “ô” hay khoảng trốngnhỏ, mỗi “ô” có thể được đục lỗ hay không để tương ứng với 1 hay zero trong hệ thống nhịphân, và mỗi chuỗi số gồm 1 hay zero kế tiếp nhau đó biểu diễn một ký tự riêng biệt. Thí dụ Alà giới hạn sáu ký tự là dài nhất, tôi đặt tên chương trình là LINCAL viết tắt của LineCalculations. LINCAL gồm khoảng 2,000 dòng, số thẻ đã đục lỗ đựng vừa vặn chiếc hộp chữnhật hãng sản xuất dùng chứa thẻ mới gửi tới cho khách hàng. Tôi gửi submit hộp thẻ vàophòng máy điện toán để in ra thành chữ để soát lại và sửa lại công trình của mình một lần đấy chỉ là bước đầu tiên – rất nhỏ – của chặng đường gian nan trước mặt giai đoạnbiên dịch compile chuyển mệnh lệnh nguồn thành chương trình thừa hành executable chứatrong máy điện toán mà sau này người sử dụng có thể gọi ra, cung cấp dữ kiện cần thiết, và saikhiến tính toán và in ra kết lần làm biên dịch, nếu chương trình nguồn không bị máy điện toán “chê” vì lỗi cú phápkhông đúng quy luật FORTRAN thì chương trình thừa hành mới được tạo ra và thay thếchương trình cũ, và tôi dùng dữ kiện mȁu chạy thử. Trong năm, sáu lần chạy thử đầu tiên,LINCAL không những không cho kết quả mong muốn mà còn gây ra chuyện khác thường. Thídụ, chương trình đi vào một “vòng vô tận” khiến máy điện toán chạy hoài không ngừng, và điềuhành viên gọi điện thoại cho tôi than phiền trước khi “giết” chấm dứt ngang chương trình. Cólần chương trình in ra một đống giấy cao cả thước mà trang nào trang nấy y hệt nhau, tôi lại bịmột phen mắng lần chương trình chạy sai là một dịp học hỏi Tôi tham khảo ý kiến Dennis, tra cứu sách vở,và tìm cách viết mệnh lệnh hiệu quả hơn. Rồi mang hộp thẻ vào phòng xuyên phiếu, kiếm mộtchiếc máy đục lỗ không ai dùng, và mò mȁm đánh lại thẻ. Từ nhỏ đến lớn, tôi chưa bao giờdùng máy chữ nên khi muốn đánh một ký tự, phải lần mò tìm ký tự ấy trên bàn chữ rồi dùngngón tay trỏ bàn tay phải mổ cò một phát. Nếu đánh sai một ký tự thì phải bỏ nguyên tấm thẻđang đục lỗ và làm lại từ ba tuần lễ đầu tiên tập tễnh làm thảo chương viên, tôi ăn dầm nằm dề ở phòng xuyênphiếu trước cặp mắt lạnh lùng khó chịu của chị trưởng ban trạc tứ tuần mà chưa có chồng. Mộthôm, đến cuối ngày mà vȁn chưa hoàn tất các sửa đổi cần thiết, tôi để hộp thẻ ở phòng xuyênphiếu và ngȁu nhiên ra về một lượt với chị ta. Trong thang máy, chị trêu tôi, nhưng nghiêm mặtkhông cười,“Hình như anh thích làm công việc xuyên phiếu? Anh cứ nộp đơn, chúng tôi đang cầnngười.”Tôi bối rối đỏ mặt tía tai, đau như hoạn, nhưng đành cắn răng cười trừ. Hôm sau, tôi mượncuốn sách chỉ dȁn cách dùng máy xuyên phiếu, để ra một buổi đọc từ đầu đến cuối, và ghi ranhững điều cần nhớ trước khi tiếp tục sửa thẻ. Nhờ vậy, tôi biết rõ cách dùng máy, và ngón taymổ cò tuy vȁn chậm rì nhưng không còn đánh sai tùm lum như tháng trôi qua và sau khoảng hai chục lần biên dịch và chạy thử, chương trình LINCAL củatôi hoạt động đúng như tôi và Dennis đã hoạch định. Chúng tôi mang bản in vào văn phòng ôngHoward trình bày kết quả dự án. Ông sếp là kỹ sư thuộc thế hệ cũ và không biết nhiều về thảochương hay máy điện toán. Ông chăm chú nghe tôi trình bày phương pháp tính toán, gật gùđồng ý với tôi về dự định in kết quả thành một tập tài liệu để phổ biến đến các kỹ sư trong côngty, và cuối cùng hỏi một câu tưởng chừng như không ăn nhập gì tới vấn đề đang thảo luận,“Vậy chớ ngày tháng chạy máy ở đâu mà không thấy?”“Tại sao cần đến ngày tháng?” cả tôi và Dennis cùng kêu lên.“Các bạn trẻ ơi,” ông Howard mỉm cười sờ râu mép và chậm rãi giải thích, “Giả sử trongtương lai, hàng năm các anh cập nhật hóa dữ kiện về các đường dây truyền điện và chạy lạichương trình, nếu không in ngày tháng trên bản in, làm sao biết được bản nào lỗi thời cần liệngbỏ và bản nào hiện hành cần giữ lại?”“Hôm nay ông làm chúng tôi thành hai thằng trán trẹt!” Dennis thẹn thùng chấp nhậnlời khuyên giản dị mà thực tiễn của ông có óc hoạt kê khá đặc biệt, danh từ “thằng trán trẹt” bắt nguồn từ câu chuyện khôi hàianh hay kể,Một anh kỹ sư tự cho mình thông thái và biết nhiều và mỗi lần nghe ai nói điều gì màanh không biết, xòe tay vỗ mạnh vào trán, “Ừ, dễ quá; có thế mà không nghĩ ra!” Thánglại ngày qua, trán anh bị vỗ dài dài và trẹt hẳn ra, và anh ta có tên “thằng trán trẹt.”* * *Trong khi tôi và Dennis thảo chương và sử dụng máy điện toán vì nhu cầu tính toán kỹ thuật, sởKhai thác Dữ kiện Data Processing có nhiệm vụ trông nom và điều hành máy điện toán và phụtrách các công việc tính toán và kiểm kê “quan trọng hơn,” liên quan trực tiếp đến tiền bạc nhưhồ sơ tài chánh và kế toán, hóa đơn tính tiền khách hàng, lương bổng nhân viên, hàng hóa tồnkho, Nhân viên khai thác dữ kiện chuyên môn có ba bậc Thấp nhất là điều hành viên, kếđến là thảo chương viên, và sau cùng là phân tích viên. Hai nhóm sau dùng COBOL từ"COmmon Business-Oriented Language" nghĩa là ngôn ngữ thông dụng chuyên dùng cho ngànhkinh doanh để thảo nhà điện toán chuyên nghiệp đó xem tôi là “người ngoài” được đặc ân dùng máy ké. Khitiếp nhận yêu cầu chạy máy của tôi, các điều hành viên tỏ tuồng mặt khinh khỉnh như chĩnhmắm thối. Để chạy một chương trình FORTRAN bình thường, điều hành viên chỉ cần nạp thẻvào máy đọc thẻ và đánh mệnh lệnh vào bàn chữ trên console,READ Đọc.Sau khi máy đọc thẻ đọc xong, chương trình sẽ điều khiển máy điện toán làm việc và in ranhững điều họ cần làm trên console – không cần suy nghĩ gì cả. Dennis hay nói đùa với tôi,“Bọn điều hành viên ngồi không trong phòng máy lạnh và không vận dụng trí não nên bộóc dần dần teo lại bằng hạt cát. Thật tội nghiệp!”Một hôm tôi mang thẻ vào phòng máy điện toán và chờ mãi không thấy bóng dáng điều hànhviên nào. Nóng lòng chạy chương trình để có kết quả sớm, tôi nhìn quanh nhìn quất không thấyai bèn hối hả nạp thẻ vào máy đọc và bước tới console đánh vào mệnh lệnh READ. Sau đó, tôilẳng lặng mang thẻ về bàn giấy mình và để chương trình chạy trong máy như thường hôm sau, tôi và Dennis bị ông Wally phó tổng giám đốc gọi lên văn phòng. Trên tay cầmmột xấp hồ sơ, ông rầy tôi,“Tôi vừa nhận được đơn kiện của IBEW Nghiệp đoàn Công nhân Ngành Điện Quốc tế.Họ phàn nàn ngày hôm kia anh đã vi phạm khế ước giữa nghiệp đoàn và công ty vì đã tự tiệndùng console trong phòng máy điện toán. Chỉ điều hành viên thuộc nghiệp đoàn mới có quyềnđụng tới nó, anh biết chưa?” và ông quay sang trách Dennis, “Ba Hoa chưa quen làm việc vớibọn Khai thác Dữ kiện, tại sao anh không chỉ cho anh ta biết?”“Thưa bác, việc đó do lỗi cháu¸ không dính dáng đến Dennis. Cháu đợi lâu quá mà điềuhành viên biến đâu mất hết nên đã tự ý sai khiến máy đọc thẻ đọc vào máy điện toán,” tôi nhậnlỗi và thuật lại sự việc.“Tôi bỏ qua cho anh lần này, nhưng luật lệ là luật lệ, khiếu nại của nghiệp đoàn sẽ ghivào hồ sơ cá nhân của anh.”Về lại bàn giấy của mình, tôi hỏi Dennis,“Anh nghĩ tôi còn gặp rắc rối nữa không?”“Hiện tại, ngoài việc bị mấy tên điều hành viên cotton-picking nghênh nghênh nhìn, anhsẽ không bị phiền phức gì cả. Vì sếp Howard không ưa bọn nghiệp đoàn,” Dennis lắc đầu;“cotton-picking” là từ ngữ chung dùng để chỉ trích với ý không bằng lòng, trong trường hợp nàycó thể hiểu là “ba láp” hay “cà chớn.”“Nhưng sau này thì sao?” tôi chưa yên lòng.“Anh có tên trong sổ đen’ của nghiệp đoàn; vài chục năm nữa, cơ hội trở thành tổnggiám đốc công ty của kỹ sư Ba Hoa’ sẽ kém đi một phần nào vì khi tuyển chọn, hội đồng quảntrị có thể xét tới vụ này. Nhưng anh đừng lo; chúng mình không phải là dân đếm hạt đậu kếtoán viên và cũng không là luật sư ăn gian nói dối, làm sao lên được danh sách ứng viên đó?”Ước gì từ phòng xuyên phiếu đến phòng máy điện toán, tôi chỉ đối phó với máy móc vô tri vôgiác mà thôi. Con người sao lắt léo quá!Nguyễn Ngọc HoaNgày 19 tháng Năm, 2021Giả Ngu Tìm BọLễ Lao động, ngày thứ Hai đầu tiên của tháng Chín, được gọi là "ngày kết thúc không chính thứccủa mùa hè"; đó là lúc các sinh hoạt mùa hè chấm dứt. Ở Công ty Tiện ích Montana-DakotaMDU, cũng như các hãng xưởng khác, nhiều nhân viên đưa gia đình đi nghỉ hè trong hai tuầntrước cuối tuần dài lễ Lao động, vì sau đó học trò đi học lại và từ đây cho đến cuối năm khó tìmđược thời gian cả gia đình thong thả để cùng đi chơi xa. Đó cũng là lúc các môn thể thao mùathu bắt sở, anh bạn Charlie cầm tập giấy đi quanh “tuyển mộ” cầu thủ lập đội bóng chuyền; MDUsẽ bảo trợ đội bóng, nghĩa là trả các món lệ phí và tiền mua áo may-ô cầu thủ. Đội bóng chơivào tối thứ Tư trong 14 tuần lễ ở sân vận động trong nhà của thành phố. Sự khuyến dụ củaCharlie khiến tôi xiêu lòng xăm mình ghi danh vào đội, mặc dù trước đây chưa từng chơi mônthể thao này. Tối đầu tiên là buổi tập thử, huấn luyện viên kiêm trọng tài chỉ dȁn luật chơi và kỹthuật giao banh, đỡ banh, nâng banh, đập banh, Mười hai tuần lễ kế tiếp là các buổi đấuthử giữa các đội cùng một league một hạng; đội MDU xếp vào hạng C là hạng thấp nhất. Haingày cuối tuần của tuần lễ cuối thì đấu tranh giải giành cúp vô địch có khắc tên cầu thủ MDU thường đấu thua, người đóng góp nhiều nhất vào cuộc thất bại là tôi. Mặc dù các bạnđồng đội có tinh thần cạnh tranh muốn thắng, không ai trách cứ hay than phiền khi tôi đỡ banhtrượt hay đánh banh văng ra ngoài lằn vạch trắng quanh sân. Ngược lại, khi tôi đánh mộtđường banh tạm được, họ la lên khen, “Good job!” Đánh giỏi!. Khi đội nhà đánh thắng mộtđường banh, cả bọn xúm lại đưa tay lên cao đánh vào nhau để tự tán bạn Dennis cũng chơi trong đội bóng chuyền MDU. Nếu xếp hạng, tôi đánh dở nhất thì anhđứng thứ nhì. Trong lúc tôi thấp và tay ngắn thường hứng hay đỡ banh hụt thì anh hay bị trọngtài bắt lỗi vì “bưng và ném,” nghĩa là thay vì hứng hay đỡ, anh xòe cả hai bàn tay đón bắt trướckhi thảy banh sang phía đối phương. Óc hoạt kê đặc biệt của anh lại được dịp làm việc, anh bàochữa, “Tôi giữ banh trên tay hơi lâu vì tôi là kỹ sư chính hiệu,” và đưa ra câu chuyện khôi hài,Một nhà toán học, một nhà vật lý, và một kỹ sư được giao nhiệm vụ tìm thể tích một quảbóng. Nhà toán học lấy quả bóng đo đường kính rồi tính thể tích. Nhà vật lý nhúng quảbóng vào nước và đo lượng nước bị choán chỗ. Anh kỹ sư cầm trái bóng quay qua trởlại rất lâu. Để tìm số kiểu hàng!Số kiểu hàng kiểu xe, kiểu máy, là số hay ký hiệu đặc thù của một sản phẩm mà nhà sảnxuất đặt ra để phân biệt với những sản phẩm khác. Ta có thể dùng số kiểu hàng để lục tìm tínhchất của sản phẩm trong mục lục hàng hóa. Sau khi đánh banh, cả hai đội – đội nhà MDU và độivừa giao đấu luân phiên hàng tuần – kéo nhau sang ba bar phía bên kia đường uống bia, goDutch chơi theo lối Hòa Lan phần ai nấy trả. Khác với người Việt là tôi khi uống bia thì uốnglấy uống để, uống cho nhiều, và nốc một hơi cho mau say, người Mỹ là bạn tôi gọi bia uốngthong thả, ngồi ở bàn mình hay đi quanh gặp người quen nói chuyện rỉ rả, và cả buổi tối chỉuống một hay hai lon bia. Họ nói chuyện nhỏ nhẹ, không rượu vào lời ra la lối om sòm. Khôngai ép bạn mình uống theo kiểu “rượu bất khả ép, ép bất khả từ.” Khi một người cần đi về, anhđứng dậy bye-bye; không ai nài nỉ bắt nán kể cho các bạn nghe cuộc di tản đổi đời ra khỏi Sài gòn và nói lên tội ác của Việt Cộng vàcuộc sống khốn khổ thê lương của đồng bào ở bên nhà. Dennis hãnh diện chỉ tay vào người tôivà đùa bỡn như thường lệ,“Vi Xi VC không hề biết họ đã mất đi một kho tàng vô giá. Ba Hoa ra đi, chỉ số IQ trungbình của các đại học ở Sài gòn giảm xuống còn 50 phần trăm.”IQ intelligence quotient là chỉ số thông minh của mỗi cá nhân và đo bằng phương pháp trắcnghiệm. IQ từ 85 đến 115 là mức thông minh trung bình, 130 trở lên là rất thông minh, và trên145 thuộc hạng thiên tài. Dennis đang hướng dȁn tôi thảo chương FORTRAN, và tôi được ôngsếp để cho tự do làm dự án mình thích nên quyết tâm vừa làm việc vừa học ngành khoa họcđiện toán tới nơi tới chốn. Dennis có bằng cao học về ngành học mới mẻ này; anh còn giữ sáchgiáo khoa và cả sách bài giải dành cho giảng viên vì ngày học cao học anh làm phụ giảng chogiáo mượn sách của Dennis, ra công học hỏi, và nhờ anh giảng giải khi có điều gì không hiểu cần sách điện toán áp dụng mà anh không có, tôi xuất quỹ MDU đặt mua, và sách là tài sảncủa công ty, trên nguyên tắc nhân viên ai cũng có thể lấy dùng. Cần sách nghiên cứu thì tôi rathư viện thành phố hay lên thư viện trường đại học cộng đồng hỏi mượn. Hai thư viện này nằmtrong Hệ thống Liên-Thư viện nên nếu không có sách, họ mượn thư viện khác trong vùng và chophép tôi giữ 30 ngày và có thể gia hạn. Khi mượn được cuốn sách hay, ngoài giờ làm việc tôivào sở photocopy và đóng lại thành tập để lưu giữ. Xem ra MDU cung cấp đầy đủ phương tiệncho tôi học hỏi, không học thật . . . phí của nói chuyện với nhau, tôi và Dennis hay dùng thuật ngữ điện toán và danh từ kỹ thuật đặcbiệt ít người hiểu. Giờ nghỉ giải lao hai đứa xuống câu lạc bộ cùng với nhau. Một hôm, một anhkỹ sư cơ khí thuộc nha Sản xuất xuống trễ, các bàn kia hết chỗ nên đến ngồi chung bàn vớichúng tôi. Mười phút sau, anh ta cầm ly cà-phê đứng dậy,“Nghe các anh nói thứ tiếng gì quái dị, tôi trở lại bàn giấy ngồi uống cà-phê một mình dễchịu hơn.”Đến mùa xuân 1977, tôi nghĩ mình đã hấp thu hết kiến thức điện toán của Dennis và có thể trộihơn vì tôi giỏi toán hơn, có căn bản khoa học vững chắc hơn, và do tính cầu toàn, chịu khó họchỏi tường tận hơn anh. Lúc này kỹ thuật thảo chương của tôi đã vững vàng và được Dennis vàông sếp tin tưởng và giao phó nhiệm vụ nghiên cứu và viết các chương trình FORTRAN mới chonha Điều hành Hệ thống Điện. Công tác bao gồm việc thiết lập phương pháp khảo sát, thu thậpdữ kiện chạy máy, viết cẩm nang cho người sử dụng, và phổ biến đến các nhân viên kỹ thuậttrong công thu năm ấy, công ty mua chiếc máy điện toán Prime 400 dành riêng cho Tổng nha Kỹ thuậtĐiện và đặt dưới quyền điều hành của Dennis và tôi. Prime là một loại máy điện toán thu nhỏcó khả năng tính toán cao và cho phép nhiều người sử dụng cùng một lúc. Người sử dụng điềukhiển trực tiếp máy Prime bằng cách đánh mệnh lệnh vào bàn chữ của trạm điện toáncomputer terminal. Trạm này là một dụng cụ điện tử dùng ống tia âm cực cathode ray tubechiếu mệnh lệnh của người sử dụng lên màn hình và nối liền với máy Prime bằng dây cáp chạyngầm trên trần hay dưới sàn thống Prime hoạt động được phần lớn là nhờ sự phát minh ra những chương trình điện toángọi là “text editor.” Chương trình này cho phép người sử dụng tạo ra và sửa đổi các văn bảnchứa ký tự và mệnh lệnh điện toán. Mỗi hàng trong văn bản tương ứng với một thẻ điện toántrước đây dùng cho những máy điện toán lớn như hệ thống Honeywell của MDU. Text editorkhiến cho thẻ điện toán, máy xuyên phiếu, và xuyên phiếu viên trở thành chuyện quá khứ vàđang chìm vào quên phận dĩa dùng để lưu trữ dữ kiện của máy Prime chiếm nguyên một chiếc tủ thấp nhưng chỉcó khả năng chứa 80 MB megabyte, tức là một triệu byte. Một flash drive USB bằng ngón taycái hiện nay có thể chứa 32, 64, hay 128 GB gigabyte, tức là một tỉ byte, tức là 400, 800, hay1,600 lần bộ phận dĩa tân kỳ năm tùy nghi sử dụng máy Prime, tôi không mơ ước gì hơn. Tôi có quyền chạy máy bất cứ lúcnào, áp dụng vào dự án tùy ý chọn làm, và học hỏi những điều mình thích. Nhớ nghề dạy họccũ, mỗi chiều thứ Năm tôi mở lớp dạy các bạn kỹ sư thảo chương FORTRAN và luyện thi kỹ sưchuyên nghiệp Professional Engineer để đăng bộ hành nghề ở tiểu bang. Tôi say mê làm việcvà học hỏi bất kể giờ giấc. Tôi mà vào sở ban đêm hay cuối tuần, dù chỉ định bụng ghé một látrồi về nhà, nhưng lúc nào cũng mải mê làm việc quên giờ về, Quỳnh Châu phải điện thoại vàogọi về đi ngủ hay ăn cơm. Đôi khi nàng nhắc khéo,“Chông mê làm việc quá, cu Mạc quên mặt ba rán chịu đó.”Dần dần tôi nổi tiếng về khả năng kỹ thuật và thảo chương trong Tổ hợp Điện lực Vùng Điện lựcTrung-Lục địa gọi tắt là MAPP mà MDU là hội viên. Tổ hợp này gồm cơ quan trong bảy tiểubang Hoa kỳ và hai tỉnh Gia Nã Đại hợp thành với mục đích giúp hội viên mua bán điện với nhauvà giúp đỡ lȁn nhau. Các công ty hội viên đều có máy Prime và chia xẻ chương trình FORTRANvà dữ kiện để khảo sát hệ thống điện của toàn tổ kỹ thuật của MAPP kháo nhau tôi có biệt tài debug có một không hai. Trong ngôn ngữ điệntoán, “debug” là tìm chỗ sai trong một chương trình điện toán, do chữ “bug” là con bọ, là chỗsai. Thảo chương là một nghệ thuật theo đó thảo chương viên theo quy tắc định sẵn ghép cácmệnh lệnh với nhau theo ý mình để hoàn tất một mục đích tính toán nào đó. Khi chương trìnhhoàn thành và chạy không đúng, giai đoạn debug gian nan bắt đầu. Thảo chương viên vò đầubứt tai, đọc đi đọc lại từng dòng mệnh lệnh, và thử lui thử tới với các cách sửa đổi khác lớn các cuộc debug mất nhiều thì giờ nhưng rồi cũng thành công, và chương trình đượcsửa đổi thích ứng để sử dụng; nhưng có một số chương trình không bao giờ “chạy.”Là người chịu trách nhiệm về sự hoạt động của máy Prime, tôi và Dennis thường phải nghe cácbạn đồng sự than phiền khi chương trình “cứng đầu” không chịu chạy cho đúng theo ý họ. Họcả quyết “đáng lẽ nó phải làm . . .” nhưng máy điện toán không làm thế hay “chuyện . . . khôngthể xảy ra” nhưng thực sự chuyện đó đã xảy ra. Đôi khi họ quy lỗi cho máy điện toán như “kýức có đốm hư” hay “chương trình biên dịch chạy sai.” Chương trình biên dịch compilerchuyển mệnh lệnh FORTRAN nguồn thành ra chương trình thừa hành mà người sử dụng có thểgọi ra và sai khiến làm giúp bạn debug một chương trình, tôi bỏ ngoài tai lời bàn Mao Tôn Cương của tác giả, lầntheo từng dòng mệnh lệnh một, kiên nhȁn kiểm chứng lại nhiệm vụ của mỗi mệnh lệnh, và nhấtlà không “giả sử” nó “phải” làm như thế này, hay như thế kia. Vì tuy với cùng một mệnh lệnhFORTRAN, máy của International Business Machines IBM, Honeywell, và Prime có cơ cấu khácnhau có thể đưa tới kết quả khác thời, tôi quên đi định kiến của tác giả. Anh bạn thuộc nằm lòng phương pháp tính toán lýthuyết, trong đầu đã nhất định cho rằng máy điện toán chạy sai, và không hình dung ra rằngmáy điện toán chỉ là vật vô tri vô giác không hiểu lý luận hợp lý của anh mà chỉ thi hành lệnhanh phán dạy. Do đó, cách debug của tôi là play dumb giả ngu như máy điện toán. Tưởngtượng mình là người máy, thiên lôi chỉ đâu đánh đó, và để cho mệnh lệnh của chương trình đưađẩy từng bước một tới chỗ sai. Cái “bug” tìm thấy thường là một lỗi lầm đơn giản, ai cũng cóthể thấy nhưng không ai ngờ lần debug thành công, tôi về nhà hãnh diện khoe phép thuật “giả ngu tìm bọ” của mình vớiQuỳnh Châu. Nàng cười lắc đầu, không đồng ý,“Cách debug của anh dùng hai đức tính cần thiết. Một là kiên nhȁn, bền chí nhưThomas Alva Edison. Hai là tưởng tượng, một khí giới tối quan trọng của nhà khoa học; AlbertEinstein nói, Tưởng tượng quan trọng hơn kiến thức.’ Chồng em là một khoa học gia đích thực,quên rồi sao?”Được vợ khen, tôi thích chí nhưng ngoài mặt vờ khiêm nhường giễu cợt, “Em dạy quá nhời lờilàm chồng hỉnh mũi to bành sư đây nè.” Và tôi yêu nàng vô Ngọc HoaNgày 7 tháng Bảy, 2021Vẫn Chiến Đấu Âm ThầmĐêm thứ Tư là đêm đánh bóng chuyền của tôi và sáu, bảy anh bạn cùng sở. Sau khi đánh banh,chúng tôi và đội vừa giao đấu kéo nhau sang ba bar The Covered Wagon bên kia đường uốngbia. “Covered wagon” là chiếc xe ngựa bốn bánh có mái che kín, và “The Covered Wagon” làtên cuốn phim cao bồi câm phát hành năm 1923 thuật lại cuộc hành trình qua vùng Miền TâyXưa từ Kansas đến Oregon của một nhóm người đi khai hoang. Họ đi qua sa mạc nóng bỏng vànúi tuyết lạnh lẽo, chịu đói khát, và thường xuyên lo sợ thổ dân Da đỏ tấn The Covered Wagon, tôi kể cho bạn nghe cuộc di tản ra khỏi Sài gòn và giải bày tại sao tôi bỏxứ ra đi. Tôi sinh ra ở Quảng Bình nằm phía bắc vĩ tuyến 17. Sau khi Hiệp định Genève chia đôiđất nước được ký kết vào tháng Bảy năm 1954, tôi theo mẹ di cư vào Nam; chúng tôi “bỏ phiếubằng chân” để tránh nạn Cộng sản. Ông tôi ở lại với quê hương và bị chính quyền phát độngphong trào “cải cách ruộng đất” đấu tố, giết chết, và cướp đoạt tài sản. Số nạn nhân như ôngtôi lên tới hơn nửa triệu người; họ mất mạng mất của vì bị gán cho tội “địa chủ,” tức là sở hữuchủ một đám ruộng hay một mảnh thời, với khẩu hiệu “Trí, phú, địa, hào, đào tận gốc, trốc tận rễ,” Việt Cộng quyết tâm triệthạ ra khỏi xã hội bốn “giai cấp” chúng liệt vào hạng kẻ thù trí thức, buôn bán “phú thương”hay “con buôn”, địa chủ, và nhà giàu “cường hào”. “Giai cấp công nông” nghèo khó vô họccòn lại cũng không may mắn gì hơn. Họ không có một mảy may tự do làm người nào cả, ngoàibổn phận tuân theo chỉ thị của “đảng,” tức là một thiểu số lãnh tụ ngu dốt và tàn khi chiếm được miền Nam năm ngoái 1975, Việt Cộng lại dở trò “đánh tư sản mại bản”công khai tra khảo, hành hạ, và cướp bóc những thương gia và gia đình chúng quy tội giàu ra lệnh nhân dân miền Nam đổi tiền, đem tiền cũ Việt nam Cộng hòa “VNCH” đổi lấytiền Việt Cộng; mỗi gia đình chỉ được đổi một món tiền nhỏ, còn lại bao nhiêu kể như mất một ngày, người dân bị cướp hầu hết tiền bạc mồ hôi nước mắt dành dụm cả một bắt “ngụy quân ngụy quyền” là quân nhân và công chức VNCH đi “học tập cải tạo,” tức làđi lao động khổ sai. Họ ở tù không tội trạng, không tuyên án, và không biết ngày được bạn Mỹ của tôi kinh ngạc,“Sao trên thế giới ngày nay lại có một chính thể gian xảo ác độc đến thế? Làm sao dânchúng sống nổi?”“Không nổi cũng phải sống thôi. Ở Sài gòn, mỗi khu phố được đặt dưới quyền một têncông an khu vực. Nó có quyền xông vào nhà anh bất cứ lúc nào, khám xét bất cứ xó xỉnh nàotrong nhà, và tra hỏi anh về bất cứ điều gì. Nó công khai kiểm duyệt thư từ anh gửi đi, mở vàđọc trước thư đến, và ra lệnh cho anh viết thư trả lời cho đúng đường lối của đảng.’ Nó cóquyền sinh sát tuyệt đối với anh và gia đình.”“Nếu không tuân lệnh hay làm điều gì anh ta không vừa lòng thì sao?”“Nhẹ thì bắt đi học tập,’ tức là đi ở tù không biết ngày về để thuấn nhuần chính sáchcủa đảng.’ Nặng thì đêm khuya công an đến nhà gõ cửa và bắt đem đi; không ai biết đi đâu,sống hay chết.”Charlie và vợ là Judy là đôi bạn đầu tiên và thân nhất của tôi ở Bismarck. Judy dạy Anh văn ởtrường trung học Bismarck, trường hai em Lâm và Trọng đang học. Một hôm, sau trận bóngchuyền, anh hỏi tôi,“Anh nghĩ thế nào về Hồ Chí Minh?”“Bọn Việt Cộng thổi phồng ông là bác Hồ vĩ đại’ đáng tôn sùng hơn thần thánh. Nhưngvới tôi và phần lớn các người Việt khác, ông là kẻ phạm tội, là kẻ đại gian đại ác lớn nhất tronglịch sử Việt nam,” tôi trả lời ngay.“Nếu có cơ hội vạch mặt ông Hồ, anh dám làm không?” Charlie cười cười.“Bất cứ lúc nào. Nhưng làm sao?”“Judy dạy các lớp 12 và muốn mở rộng tầm kiến thức của học sinh nên định mời anh nóichuyện về ông Hồ để cho học sinh mở mắt ra. Học sinh sinh viên ngày nay mù tịt về tình hìnhthế giới và ít khi đọc báo hay xem tin tức trên ti-vi – ngoại trừ theo dõi tin tức thể thao. Anhthấy sao?”Tôi hăng hái nhận lời và ra công soạn một bài thuyết trình khá công phu. Tôi tưởng chỉ nóichuyện với lớp Anh văn của Judy, nhưng khi đến trường mới biết cử tọa gồm tất cả các lớp tụ tập trong phòng tập thể dục và khi hết chỗ trên băng ghế dài, ngồi bệt trên sàn khi tôi trình bày tường tận tội ác của Việt Cộng, các học sinh 18, 19 tuổi thay nhau đặt câuhỏi và cho thấy họ không “mù tịt về tình hình thế giới” như Charlie nói. Họ chỉ ngây thơ và xemtự do họ đang thụ hưởng là lẽ dĩ nhiên. Họ tin lời tôi, nhưng “huyền thoại Hồ Chí Minh” do bộmáy tuyên truyền Cộng sản tạo ra không dễ dầu gì mà xua Hồ theo Cộng sản không phải vì lý tưởng cách mạng mà vì miếng cơm manh áo. Ngày cònnhỏ, ông theo học trường Quốc Học Huế, ngôi trường trung học tôi học sáu mươi năm sau. Sauhai năm học lớp 6 và lớp 7, ông bị đuổi học; Việt Cộng khoe ông bị đuổi vì tham gia vào cuộcbiểu tình chống sưu thuế ở Huế, nhưng thực ra cuộc biểu tình ấy xảy ra trước ngày ông đượcnhận vào trường đến bốn tháng. Thử làm nghề dạy học tư một thời gian mà không đi tới đâu,ông làm đơn gửi vị toàn quyền người Pháp kể lể công lao của cha ông đối với triều đình Huế vàcầu xin đặc ân cho vào học trường Hậu bổ Hà nội là trường đào tạo công chức người Việt chobộ máy hành chánh thuộc địa. Đơn không được cứu xét vì ông chỉ học chưa hết lớp 7 mà điềukiện nhập học đòi hỏi diplôme tức là bằng Thành chung Trung học đệ nhất cấp thi sau khihoàn tất chương trình lớp vọng, thất nghiệp, và đói rách, ông Hồ tìm đường sang Pháp tha phương cầu thực bằngcách xin làm việc vặt trên một chiếc thương thuyền để được ăn uống và đi tàu miễn phí. Ôngxuống bến tàu Marseille – không tiền, không người quen, và đói lạnh. Thuở ấy, và cho đến ngàynay, đảng Cộng sản Pháp dụ dỗ cảm tình viên bằng cách đón các kẻ lang thang cầu bơ cầu bất ởbến tàu hay ga xe lửa, mang về cho ăn ở, và rủ rê gia nhập đảng. Dĩ nhiên, ông sướng điên lênvà chớp ngay lấy cơ hội này. Nhờ bản tính lưu manh nham hiểm và giỏi biến trá, ông được tincậy và thăng tiến nhanh, đưa sang Nga huấn luyện, và chuyển sang Tàu hoạt động. Phần lịch sửcòn lại do Cộng sản viết, không biết chứa bao nhiêu phần trăm sự nữ sinh đưa tay chất vấn,“Ông có thể cho thí dụ về sự tàn ác của ông Hồ không?”“Ông Hồ là thủ phạm gây ra những khổ đau dân tộc Việt nam đang gánh chịu. Trên hết,chính ông đã chủ trương và gây ra cuộc chiến Bắc - Nam tương tàn khiến ba triệu rưỡi thườngdân và quân nhân hai bên bị hy sinh oan uổng. Kế đó, trong phong trào cải cách ruộng đất,’ cóđến nửa triệu người, trong số đó có ông nội tôi, bị thảm sát. Khi quân đội miền Bắc sắp nổi loạnvì vụ này, ông lên đài phát thanh vờ nhỏ vài giọt nước mắt cá sấu và nói mấy câu xin lỗi; thế là .. . huề tiền!”“Sao tôi nghe nói ông Hồ suốt đời sống độc thân hiến mình cho quốc gia dân tộc?” mộtnam sinh đứng lên hỏi.“Bịp bợm láo khoét là nghề của Cộng sản. Ông Hồ lấy vợ có hôn thú tại Mạc Tư Khoa ởNga sô, bà này là người Việt và cũng là đảng viên Cộng sản. Ông cũng chính thức có vợ ngườiTàu khi hoạt động bên Tàu. Trong nước, ông giấu giếm một lô tình nhân và con tư sinh. Làngười dâm dục, ông thường ôm hôn hít các cháu gái nhi đồng’ trước công chúng và bí mậttuyển lựa những cháu gái’ trẻ tuổi vừa mắt để phục dịch bác’ – dĩ nhiên phục dịch cả nhu cầutình dục!”Một buổi tối khác, tôi ngồi uống bia và chuyện trò sau trận bóng chuyền thì một thanh niên trạcba mươi tuổi, hình dạng cao lớn, và có bộ râu quai nón từ bàn bên cạnh bước sang bắt tay tôivà tự giới thiệu là Doug tên tắt của Douglas,“Tôi nghe lóm chuyện của anh và thấy thích thú nên mạo muội sang làm quen.”“Nếu tôi không lầm thì anh là cựu chiến binh Việt nam?” tôi đoán chừng.“Đúng vậy,” Doug buồn bã nói, “Vào thời chiến tranh, hàng ngày giới truyền thông thiêntả thân Cộng ở Hoa kỳ nhét vào đầu dân chúng những hình ảnh chết chóc khủng khiếp và quylỗi hoàn toàn cho quân đội Mỹ. Ngay cả chiến binh Mỹ cũng mù mờ không hiểu rõ mục tiêu củacuộc chiến. Năm 1973, họ trở về nước thì bị nhiều kẻ quá khích phỉ nhổ và mắng nhiếc là kẻ sátnhân giết đàn bà và trẻ em. Tôi muốn biết ý kiến của anh về sự tham chiến của Hoa kỳ ở Việtnam.”Doug cho biết anh sang Việt nam năm 1964, phục vụ trong một đơn vị bộ binh đóng ở An Lỗnằm giữa Huế và Quảng Trị. Cuộc tấn công Tết Mậu Thân 1968 của Việt Cộng xảy ra vào cuốinhiệm kỳ thứ hai của anh, anh chiến đấu sát cánh một đơn vị Thủy quân Lục chiến VNCH để táichiếm Thành Nội Huế. Cuối năm 1968, anh về Mỹ, giải ngũ, đi học ngành kỹ sư kỹ nghệ, và hiệnlàm việc cho một công ty chế biến thực phẩm. Tôi nhìn thẳng vào mắt anh,“Ba chục triệu dân miền Nam đã chịu ơn các anh sâu nặng. Gần 60 ngàn chiến binh đãnằm xuống; các anh đã đổ máu cho chúng tôi và cho chúng tôi sống trong tự do và no ấm thêm20 năm. Nghĩa cử và hy sinh của các anh cao đẹp biết bao!”“Tôi tưởng người Việt oán hận chúng tôi về những tàn phá, đổ nát, và chết chóc chứ,”mắt anh sáng lên.“Ai cũng biết ông Hồ và Cộng sản miền Bắc hung ác hiếu chiến xua quân vào để chiếmtrọn miền Nam. Người Mỹ giúp chúng tôi vì chúng tôi không đủ sức chống lại, và sau một thờihạn nào đó vì quyền lợi của nước Mỹ, các anh phải rút lui thôi. Dĩ nhiên cũng có một số ngườiViệt kiếm cách đổ lỗi và oán hận Hoa kỳ đã bỏ rơi bạn đồng minh,’ trong khi chính họ là nhữngkẻ trốn chạy trước tiên.”“Vậy mà bao năm nay tôi trăn trở dằn vặt vì đã tham dự vào cuộc chiến đȁm máu ấy,”anh khẩn khoản, “Mời anh đến giải thích với bạn tôi. Bọn tôi ai nấy đều mắc phải PTSD vàmong là khi nhận ra sự thực, sẽ gột rửa bớt ám ảnh và mặc cảm dồn nén trong lòng mà trở lạibình thường.”PTSD viết tắt của Post-Traumatic Stress Disorder là hội chứng tâm thần xảy ra cho người đãtrải qua hay chứng kiến các biến cố quá khổ đau. Anh Doug giới thiệu tôi với sáu, bảy cựu chiếnbinh ăn mặc lôi thôi lếch thếch, râu tóc bờm xờm, và chúng tôi vừa thảo luận vừa uống bia ănthịt nướng ở sân sau nhà anh. Ban đầu họ thắc mắc nghi ngờ và gay gắt chất vấn, nhưng tôi cứtheo sự thực mà giải thích và trả lời. Khi chia tay, từng người đến bắt tay tôi,“Cám ơn anh. Bây giờ, tôi bắt đầu thấy hãnh diện là cựu chiến binh Việt nam.”“Không, chính tôi mới là người thọ ân các anh,” tôi nghiêm mặt chiến đấu chống Cộng âm thầm của tôi tiếp tục với những lần nói chuyện với các trườngtrung học và nhóm cựu chiến binh khác. Tiếng lành đồn xa, tôi được mời thuyết trình ở trườngđại học cộng đồng, trường đại học điều dưỡng, bệnh viện Cựu Chiến binh tại North Dakota, vàcác buổi lễ nhà thờ sáng Chủ Nhật. Cuối tháng Giêng 1976, chi hội North Dakota của Veteransof Foreign Wars VFW nhóm họp đại hội thường niên tại Bismarck và mời tôi dự dạ tiệc kếtthúc đại hội với tư cách diễn giả chính. VFW là hội những cựu chiến binh phục vụ trong cáccuộc chiến tranh, hành quân, và viễn chinh trên lãnh thổ, hải phận, hay không phận ngoại tọa gồm trên 300 người. Họ đứng dậy vỗ tay hoan hô khi tôi kết thúc bài diễn văn,Cám ơn VFW cho tôi cơ hội phơi bày cho thế giới biết những khổ đau và áp bức trên quêhương Việt nam yêu dấu và tỏ lòng biết ơn sâu xa đối với những cựu chiến binh hôm đó, tôi ngủ mơ thấy mình biến thành Superman bay về Việt nam giúp khôi phục đấtnước. Sáng ra tỉnh dậy thấy mặt mình ướt sũng nước Ngọc HoaNgày 23 tháng Sáu, 2021Lý Lẽ của Trái TimTrong bữa cơm chiều, tôi cười nửa miệng thuật lại mẩu chuyện mới nghe kể trên sở về một tìnhhuống oái oăm,Một thiếu phụ trung niên buồn rầu than thở, “Chồng tôi bước vào cuộc khủng hoảngtuổi trung niên. Anh bỏ tôi và các con để đi theo một người đàn ông.”Không chú ý đến khía cạnh hài hước của chuyện “bỏ vợ theo trai,” Quỳnh Châu chăm chăm nhìnnghiêng vào mặt tôi rồi reo lên,“Ha ha, chồng để tóc dài làm hippie và thò cái đuôi chuột sau ót kìa. Mẹ nói người cóđuôi chuột có đông em, kết giao rộng rãi, và rất bướng bỉnh. Đúng y chang!”“Má cu Mạc hôm nay bị hồn ma bóng quế nào nhập vào người hay sao mà trổ nghề làmthầy bói sáng,” tôi trêu nàng.“Có gì đâu, em thấy tóc anh dài cần hớt tóc cho thợ có việc làm,” nàng cười hóm tiếp tục đùa với Quỳnh Châu,“Anh cần lấy hẹn với cô thợ hớt tóc. Không biết lúc nào cô ấy mới rảnh?”“Chồng có thời khóa biểu của cổ mà,” nàng cười khúc khích vì “cô ấy” chính là nàng,“Còn có một cô thợ hớt tóc nhà nghề, đẹp tuyệt vời, khéo tay hay miệng, và sẵn sàng o bế máitóc còn . . . xanh của chồng. Có cần em hẹn giùm không?”“Em muốn nói chị Mỹ?” tôi bỗng chột dạ hỏi lại.“Dạ phải, chỉ lo cho anh còn hơn lo cho anh Mỹ, tội ghê! Chỉ cho em bộ kéo cắt và xéntóc chuyên nghiệp và dạy em cắt tóc cho anh đó,” nàng vô tình không thấy vẻ mặt nao nao chồng ông Mỹ đến định cư ở Bismarck trước chúng tôi và là hai người Việt đầu tiên tôi gặp ởthành phố này. Họ tình cờ gặp Quỳnh Châu ở Đại học Cộng đồng Bismarck khi đưa cậu con trailớn đi ghi danh học chương trình tiền y khoa. Ông chồng trạc tứ tuần dáng béo tốt cục mịch,nói giọng Nam rổn rảng, và làm ca đêm cho xưởng dây chuyền lắp ráp của hãng chế tạo máycày. Ông phách lối hỗn xược khiến cho những người Việt khác ở đây hầu như ai cũng đã đòiđánh ông một vài vợ – chị Mỹ – trông trẻ trung hơn chồng, khuôn mặt phúc hậu, và dáng người thon thon. Chịthân thiết với Quỳnh Châu và đối xử với nàng như chị với em. Chị chỉ dạy nàng từng li từng tí từcách nấu ăn, đến nuôi con, may vá, mua sắm, Chị làm thợ uốn tóc, trong tuần nghỉ ngàythứ Năm, lại nhà tôi chơi cả ngày, và cùng Quỳnh Châu nấu đồ ăn cho tôi đi làm về ăn. Chị căndặn Quỳnh Châu,“Em rán nấu thật ngon cho ảnh ăn. Hồi đi học, ảnh ăn uống thất thường bữa có bữakhông, tội lắm.”Bốn năm sau, cậu con trai lớn tốt nghiệp Cử nhân Sinh học và gửi đơn xin học nhiều trường ykhoa, nhưng không được trường nào nhận. Sau đó, ông bà Mỹ rời Bismarck lúc nào không hè năm 1985, tôi có dịp viếng thăm nam California, vào một siêu thị Á đông, và bỗng ngheai gọi tên sau lưng. Tôi luống cuống thấy chị Mỹ đi một mình và thấy chị xinh đẹp hơn bao giờhết. Chị đưa mắt hỏi,“Ủa, Châu đâu mà không thấy?”“Châu ở nhà, tôi đi công tác ở bắc California rồi ghé xuống đây,” tôi bối rối trả lời.“Anh lúng túng như thợ vụng mất kim, ngó y hịch như hai lần đầu tiên gặp tui – lầntrước ở nhà Yên Đổ, và lần sau ở Bismarck,” chị cười chúm chím.“Ông Mỹ khỏe không?” tôi dớn dác nhìn quanh.“Tui không biết. Tụi tui đã chia tay, anh đi đường anh, tôi đường tôi,” chị thân mật nắmtay tôi, “Anh Mỹ ra đi và Châu không có đây, hai đứa mình không còn lý do gì để tiếp tục đóngvai người dưng kẻ lạ. Ba Hoa nhớ nhỏ này là Nguyệt Thu nghen.”Phải, “chị Mỹ” tên là Nguyệt Thu và quen thân với tôi từ mùa thu 1966, thời gian khó khăn nhấtđời tôi, một sinh viên chưa tròn 18 tuổi. Tôi mất học bổng du học Gia Nã Đại vì ngày học trunghọc nghịch ngợm phá phách khiến ông hiệu trưởng đem lòng thù vặt và báo cáo dối là học bạgiả. Vào kỳ thi cuối khóa đệ nhất niên kỹ sư điện, tôi lại bị giáo sư trù, cho điểm zero khiến phảiở lại lớp. Cha nổi giận cấm tôi về nhà và không cho mẹ vào Sài gòn thăm. Suốt mùa hè, tôi sốngmột mình trên căn gác trọ nóng hâm hấp, tâm hồn bị đầu độc bởi triết lý “cuộc đời phi lý vàbuồn nôn” trong tiểu thuyết hiện sinh bọn sinh viên chúng tôi ngưỡng mộ một cách mù quáng,và hàng đêm tôi ray rứt tự hỏi nên tình nguyện đi lính hay kết liễu đời mùa thu, tôi lạc lõng bước vào lớp học, bạn cũ đã lên lớp trên, và bạn mới nhìn tôi với đôimắt khinh bỉ, không muốn dính dáng với đứa học đúp do tiếng Pháp “double”. Rồi tôi vớđược thằng Thu; nó mới vào học lớp Công chánh, và chúng tôi học chung các môn khoa học cơbản. Năm kia nó học đệ nhất lớp 12 ở Ban Mê Thuột cùng với tôi và học rất kém, vậy mà naytrúng tuyển vào trường Công chánh! Sau giờ Hỏi bài giờ học hàng tuần giáo sư ra tay sát hạchkhả năng của sinh viên đầu tiên, các bạn Công chánh cầm chắc thằng Thu đậu vào là nhờ tiềnbạc đút lót hay thần thế “con ông cháu cha” nên không làm bạn với nó. Tôi và nó, hai thằngbạn cũ trước không chơi thân bây giờ đi đâu cũng có hôm thằng Thu kêu tôi đến nhà nó chơi; đó là một biệt thự lớn trên đường Yên Đổ xe chạymột chiều. Tôi bấm chuông gọi cổng không thấy ai ra nên đứng gọi tên Thu ơi ới. Một thiếuphụ độ hai mươi bảy, hai mươi tám tuổi, tóc xõa ngang vai, và dáng dấp thanh nhã ra mở đâm ra lúng túng,“Dạ Thu có nhà không ạ?”“Thu đứng trước mắt Ba Hoa, không thấy sao?” nàng vừa nói vừa cười, trong khi tôi ngơngác nhìn quanh không thấy ai khác.“Nếu Thu bận việc hay đi vắng, hôm khác tôi trở lại vậy,” tôi nói lúng búng.“Thu ra mở cửa là Nguyệt Thu, con gái. Cậu em Xuân Thu có chút việc ra ngoài, nhờmình đón và mời Ba Hoa vào nhà,” nàng cười giải đầu tiên chuyện trò tay đôi với một người đàn bà lịch thiệp và sang trọng, tôi khớp quá nênngồi trong phòng khách mà thần trí lãng đãng tận đâu đâu. Nguyệt Thu khôn khéo và thânthiện gợi chuyện cho tôi nói, và khi Thu bạn tôi về tới nhà, tôi đã thấy thoải mái và thích thúmời nàng ngồi nán đó, tôi thường kiếm cớ đến nhà thằng Thu và lại mong nó không có nhà để gặp riêngNguyệt Thu. Ngôi biệt thự của cha mẹ nàng, nhưng tôi chưa bao giờ gặp ông bà. Nàng ở đó vớihai cậu con trai, đứa lớn chín tuổi và đứa nhỏ sáu tuổi. Nàng là người đầu tiên và duy nhất màtôi không ngại ngùng trút hết nỗi niềm tâm sự. Nàng an ủy khuyên lơn và dẫn dắt tôi vượt quanhững khó khăn và bế tắc trong tâm tư. Khoan dung và khuyến lệ như một người mẹ, và âuyếm và ngọt ngào như một người Nguyệt Thu, tôi dần dần phục hồi niềm vui ham sống, thiết tha hơn với bài vở, và đến kỳthi cuối khóa, đậu hạng nhì lên đệ nhị niên. Ai cũng đoán trước được kết quả thi cử của thằngThu Không những nó hỏng không được lên lớp, mà còn không đủ điểm để được học lại nên bịxoọc-ti lát “sortie laterale” tiếng Pháp là ra trường ngang, tức là bị đuổi tối ngày có kết quả thi, tôi và thằng Thu đưa nhau ra bến xe đường Phan văn Hùm ở NgãSáu Sài gòn, ngồi ghế thấp quán nhậu vỉa hè, và gọi khô mực uống bia Larue chai lớn. Lần đầutiên tôi uống bia thả cửa, ly mày ly tao và cụng ly như người lớn, và cũng là lần đầu tiên tôi sayrượu. Hai thằng lảo đảo dìu nhau về nhà nó, ngủ chung giường trong phòng nó. Nửa đêm, tôithức dậy đi tiểu rồi an nhiên về phòng ngủ tiếp. Chìm đắm trong hơi men, tôi chập chờn mơthấy mình ôm hôn say đắm cô học trò dạy kèm thương yêu mà không dám ngỏ lời và được đápứng tận tình. Khoảng năm giờ sáng, tôi trở mình thức giấc và ngạc nhiên cùng tột thấy NguyệtThu nằm trong vòng tay mình. Nàng ngước mắt nhìn và dịu dàng mỉm cười,“Nằm đây với Thu mà suốt buổi gọi mãi cô Châu, Ba Hoa thật chung tình.”Tôi sợ hãi nhổm dậy nhìn quanh; thì ra hồi khuya tôi trở về nhầm phòng. Tôi nhảy xuốnggiường và trên đường về phòng thằng Thu, nhận ra mình đã phạm một tội tày trời khác Cănphòng tôi tưởng là nhà vệ sinh thật ra là phòng chứa đồ cổ quý giá của cha thằng Thu. Tôi mặcvội quần áo và tất tả chạy bay ra đường; hết giờ giới nghiêm, xe cộ bắt đầu nhộn nhịp. Khôngdè hơn tám năm sau, tôi gặp lại Nguyệt Thu trên đất Mỹ – với ông Mỹ chồng nàng.* * *Tôi và Nguyệt Thu sang tiệm phở gần siêu thị để trò chuyện và ăn trưa. Nàng lấy giấy lau đũamuỗng cho tôi, gọi thức ăn cho cả hai đứa, và săn sóc tôi như vợ lo cho chồng. Nàng đang làmchủ một tiệm uốn tóc lớn có sáu, bảy người thợ và sống một mình trong ngôi biệt thự nhỏ gầnbãi biển ở Santa Monica. Nói về chồng cũ, nàng không tỏ một thoáng oán hờn,“Anh Mỹ là con một trong một gia đình giàu có bậc nhất Sài gòn, cha ảnh và ông già Thulà đôi bạn thân. Lúc tụi Thu còn nhỏ, hai ông già uống rượu với nhau và hứa chuyện lứa đôi củahai đứa. Năm ảnh vừa được mười tám tuổi, ông già ảnh giục làm đám cưới gấp, nói cưới vợphải cưới liền tay, chớ để lâu ngày lắm kẻ dèm pha. Thu cũng tin vậy, nhưng sau này mới biếtmình lầm.”“Ông Mỹ có tật bệnh bẩm sinh nào đó hay sao?” tôi chồm tới hỏi.“Từ hồi nhỏ ảnh đã tỏ ra là tình dục đồng giới, ông già biết vậy nên bắt ảnh lấy vợ sớm,hy vọng nhờ lập gia đình sinh con đẻ cái, ảnh sẽ thành bình thường như người khác. Nhưng chỉqua được mấy năm đầu, thời gian mà Thu sinh ra hai thằng con lớn, rồi thôi. Sau ngày cha mẹảnh mất, ảnh gặp Quân Bảo là một ca sĩ trẻ tuổi đẹp trai mới vào nghề, bị tiếng sét ái tình,’ vàbỏ Thu và con đi theo chàng ta. Thu hết nước nói, đem hai con về sống với ba má.”Nhớ lại ngày cũ, tôi thấy ân hận,“Ngày đó Thu khổ sở như vậy mà tôi ích kỷ, chỉ lo than thở chuyện mình, và vô tìnhchồng chất thêm gánh nặng vào lòng Thu. Chắc Thu rầu lắm?”“Không đâu. Nhờ Ba Hoa tâm sự mà Thu thấy nỗi khổ của mình dịu bớt, và những lờikhuyên nhủ Ba Hoa, Thu đem áp dụng lại cho chính mình để chống chõi với những đêm dài trằntrọc; càng ngày càng thấy bớt buồn phiền. Rồi mối tình cảm sâu đậm đối với Ba Hoa đến vớiThu lúc nào không hay,” nàng long lanh nước mắt.“Sao hai người tái hợp, gương vỡ lại lành lần đầu?” tôi hỏi để tránh né điều khó nghĩ.“Khi tiền bạc của cha mẹ để lại cạn kiệt, ảnh bị Quân Bảo bỏ rơi vì không cung ứng nổinếp sống xa hoa của chàng ta. Ảnh trở về với Thu, khóc lóc xin được tha thứ, và thề bán mạngsẽ sửa đổi tính tình.’ Không đành để ảnh nghèo khổ và vì không muốn con mình thiếu tìnhthương của cha, Thu chấp nhận cho ảnh một cơ hội thứ hai. Kết quả là thằng út ra đời và giađình tương đối yên ổn một thời gian, như Ba Hoa thấy ở Bismarck.”Tôi còn thắc mắc cuối cùng,“Thu dọn khỏi North Dakota lúc nào mà không ai hay? Sao hai người xa nhau lần nữa?”“Đầu năm 1980, ảnh đột nhiên nghỉ việc và năn nỉ Thu dọn về nam California nắng ấmcó đông người Việt sinh sống. Về đây, sau khi nhà cửa và công ăn việc làm ổn định, ảnh rút hếttiền trong trương mục ngân hàng và dọn ra sống với Quân Bảo. Bấy giờ Thu mới biết chàng casĩ từ Việt nam vượt biên sang tới California cả năm trước.”“Thằng cha Mỹ này thật không khá nổi!”“Dầu sao, Thu không giận ảnh. Ảnh phụ rảy Thu để theo đuổi tình yêu, người kia là đànông hay đàn bà không thành vấn đề. Khi yêu, người ta đặt người mình yêu lên trên hết. Ba Hoanhớ không, ngày xưa hai đứa mình hay chia xẻ với nhau câu nói của Blaise Pascal 1623 – 1662,Trái tim có những lý lẽ mà lý trí không biết gì cả.’ Riêng Thu, gần hai mươi năm qua ấp ủ mộtmối tình nồng thắm và cố hết sức mình để người Thu yêu được sung sướng và hạnh phúc.”Chúng tôi chia tay nhau với nụ hôn phớt nhẹ. Nụ hôn thực sự đầu tiên và cũng là cuối cùng củamột cuộc tình không thành sự Ngọc HoaNgày 14 tháng Bảy, 2021Thà Chịu Tiếng Lầm ĐườngTôi viết thư hàng tuần cho thằng Công; vợ chồng bạn tôi và hai cô con gái nhỏ sống ở Dallasthuộc tiểu bang Texas. Mỗi tối Chủ Nhật nó gọi điện thoại cho tôi cà kê dê ngỗng đủ thứchuyện, từ chuyện cũ ở Việt nam đến việc đi học, đi làm, và sống trên đất Mỹ. Chúng tôi liênlạc thường xuyên và thân thiết đến nỗi thỉnh thoảng Quỳnh Châu gí tay vào trán tôi nói đùa,“Đàn ông con trai gì mà viết thư cho nhau cứ như là đôi tình nhân . . . đực rựa. May màem biết rành chồng và anh Công, nếu không con mụ sư tử Hà Đông này sẽ nổi ghen lên choôông dôông méo mặt luôn.”Mười bốn năm trước, tôi và thằng Công ngồi cạnh nhau ở dãy bàn đầu lớp đệ tam lớp 10 B3trường Quốc Học Huế. Hai thằng đều học giỏi, nhất là giỏi toán, và giờ ra chơi nắm tay nhau đidưới hàng cây cao trong sân trường luận anh hùng Mấy thằng có tiếng học giỏi khác, cao taylắm là cao thủ hạng ba. Không có hạng nhất hay hạng nhì vì, mặc dù hai đứa chúng tôi ngấmngầm thi đua học gạo, không thể nói mèo nào cắn mỉu nào! Buổi chiều sau giờ học, tôi theo nólên chùa học đạo với thầy; nó say mê học hỏi Phật pháp, tôi ưa chất vấn thầy làm sao đạo Phậtáp dụng vào hè năm 1963, gia đình tôi dọn vào Ban Mê Thuột ở với cha. Tôi và thằng Công viết thư chonhau hàng tuần. Mở đầu thư bằng tiếng gọi trìu mến, “Công thương,” tôi tường thuật sinhhoạt thường ngày ở thành phố Buồn Muôn Thuở Bụi Mù Trời và trong lớp nam nữ học chung,điều mà Huế không có. Nó kể lại những lần về làng đưa con bồ ra đụn cát ngồi bên nhau tròchuyện và lên chùa xin thầy cho thế phát quy y nhưng thầy không cho, biểu phải sống ngoài đờiphục vụ thế gian. Tuy nhiên, phần chính của bức thư dày cộm là đề toán đưa ra để đố bạn vàbài giải cho các bài toán đố trước, chẳng khác gì các nhà toán học Âu châu đầu thế kỷ thứ 18trao đổi thư từ thách thức nhau giải khi đậu Tú tài II, chúng tôi thi vào trường Cao đẳng Điện học vì theo lời thằng Công, “trongcác ngành học, kỹ sư điện là ngành dùng toán cao nhất,” và hai thằng đều trúng tuyển. Ngaytrong buổi học đầu tiên là giờ Giải tích, môn toán chính với thầy Thế, thằng Công đứng lêntranh luận với thầy về ý niệm căn bản trong chương đầu tiên của tập cua thầy cho, và tôi làm tàihay đứng ra bênh vực nó khiến thầy nổi giận. Suốt mấy năm học với thầy, tôi học ngày họcđêm học chết bỏ vì giờ Hỏi bài sát hạch hàng tuần nào cũng bị thầy chiếu cố tận tình với nhữngbài toán khó nhất, trong lúc thằng Công tiếp tục lý luận tay đôi với thầy và được thầy nể đã biên soạn và ấn hành cuốn Giải tích Đệ nhị Niên, cuốn sách Việt ngữ đầu tiên và duynhất về toán áp dụng cao cấp và là niềm hãnh diện sâu xa của tác giả. Cuối năm học thứ hai,thầy gặp riêng nó,“Tôi định tái bản cuốn Giải tích nếu hè này anh giúp tôi hiệu đính; chúng mình sẽ đứngtên chung.”“Cám ơn thầy mời con cộng tác, nhưng con mắc diễn dịch kinh Pháp Hoa nên không thểnhận lời,” thằng Công trả lời không do lúc thằng Công nghiên cứu đạo Phật, tôi và một thằng bạn thân khác là thằng Songnghiền ngȁm các tác phẩm triết lý và say sưa đọc tiểu thuyết hiện sinh. Trong những buổi tốinhâm nhi cà-phê bít tất tiệm Tàu gần nhà trọ tôi, ba ông cụ non gân cổ cãi nhau về chân lý cuộcđời như ba nhà triết gia thực Công dạy kèm ăn ở luôn trong nhà Bách Hoa, con đầu lòng của một gia đình giàu có và cóthế lực. Mẹ nàng đã phỏng vấn nhiều sinh viên mới kén được thằng Công; nó được cơm bưngnước rót, cho ở riêng trong căn phòng khang trang, và được đối xử như con rể tương lai. ThằngSong nói nó tự nguyện đút đầu vào vòng dây thòng lọng nhung của bà mẹ và tham phú phụ bầnbỏ rơi con bồ cũ ngoài Huế. Bách Hoa có thể yêu nó, nhưng nàng lãng mạn mộng mơ, hay ghentuông vô cớ, và thích ra oai chỉ huy sai khiến nó. Mỗi lần nghe nó phàn nàn, thằng Song chỉ cáicột nhà lớn giữa tiệm cười khà khà,“Tối ngày mày ăn xong rờ l… con Bách Hoa, rồi con c… mày to bằng cái cột nhà, làm saomày mặc quần?”Sau khi thằng Công tốt nghiệp, đám cưới linh đình cử hành trước khi nó lên đường đi du học,học cao học điện toán ở trường Đại học Missouri-Rolla ở Rolla thuộc tiểu bang Missouri. Vàitháng sau, bà mẹ vợ gửi Bách Hoa sang sống với nó, và cô con gái đầu lòng sinh ra trước khi nótốt nghiệp cao học. Sau đó, vợ chồng nó dọn về Dallas. Nó làm việc cho nha Nghiên cứu vàPhát triển của công ty Texas Instruments, một hãng điện tử lớn vào bậc nhất thế giới, nhưngphần lớn thì giờ xách cặp đi học tiến sĩ ở Southern Methodist University là một đại học tư, nổitiếng của Texas, và học phí rất cao.* * *Quỳnh Châu thường nhắc chuyện năm ngoái 1975 Hai tuần sau khi chúng tôi từ đảo Guamđến trại tỵ nạn Trại Pendleton, tôi nhận được bức thư dài của thằng Công kèm theo tờ giấy bạcmột trăm đô la. Cầm trên tay món tiền đầu tiên có được trên đất Mỹ, tôi cảm động khôn xiết vìkhông những một miếng khi đói bằng một gói khi no, mà một trăm đô la là món tiền lớn đối vớimột sinh viên mới ra trường, vừa đi học vừa đi làm nuôi vợ con như bạn tôi. Phương chi nó cònphải lo cho gia đình người anh lớn và gia đình bà mẹ vợ đang ở trong trại tỵ nạn Đồn Chaffeechờ ngày ra Dallas định các cuộc điện đàm, không phải lúc nào tôi cũng đồng ý với thằng Công. Thí dụ, lần nó kểkế hoạch xây chùa ở Dallas,“Tau vay tiền nhà băng để mua nhà làm chùa. Sau này, Phật tử sẽ đóng góp để sửa sangthành nơi thờ phụng.”“Sao mày phải đứng mũi chịu sào để vay tiền?”“Phật tử ai cũng đã mua nhà và có mortgage phải trả góp hàng tháng. Tau chưa có nhànên lãnh chuyện nớ,” nó thản nhiên trả lời; “mortgage” là văn tự vay tiền để mua nhà, bao giờtrả góp hết nợ thì nhà mới về tay mình.“Sao lạ vậy kìa? Chưa có nhà thì lo mua nhà cho mình trước, lẽ nào nai lưng vác ngà voi,lãnh nợ cho thiên hạ?”“Nếu ai cũng ích kỷ như mi thì khi mô mới có chùa để thờ Phật?”Cuối tháng Mười, trước khi cúp điện thoại, thằng Công vờ như chợt nhớ ra,“Tau mới thuê nhà khác. Từ ni, mi gửi thư cho tau về địa chỉ mới nghen.”“Sao không mua nhà quách, làm dân ABC đi ở thuê hoài, khi nào mới có nhà mình?”“Tau ra ở riêng một mình, Bách Hoa đã dọn đi Los Angeles bên California rồi,” giọng nóbuồn tênh.“Sao đến nỗi phải tới nước đó?” ước gì tôi biết nói điều gì để an ủy bạn, “Năm tới cóngày nghỉ phép, tao sẽ xuống thăm mày.”Cuối tháng Năm năm sau, tôi lái xe đưa Quỳnh Châu và Mạc đi Texas nghỉ hè và ở lại nhà thằngCông. Hai cô con gái của nó, cô lớn bảy tuổi và cô nhỏ năm tuổi, đang ở thăm viếng visitationnó một tháng. Cứ cách một ngày, nó đưa hai cô bé sang thăm bà ngoại nhà gần đó, và hàngđêm gọi điện thoại viễn liên cho Bách Hoa để nàng nói chuyện với con. Nghe thằng Công “anhanh em em” ngọt xớt, khó ai có thể nghĩ rằng hai người đã xa nhau. Một buổi sáng, tôi nghethằng Công và cô con gái nhỏ nói chuyện; đêm qua cô bé bị bệnh và sáng dậy rát cuống họng,“Ba ơi, con đau quá.”“Con đau ở đâu?” thằng Công âu yếm hỏi.“Con đau nơi cổ, đau lắm ba ơi,” cô bé tiếp tục khóc.“Nghe ba nói đây. Cổ con đau, chớ không không phải con đau. Con mà nhớ điều nớ thìcon không còn đau nữa.”Thằng Công đem triết lý vô ngã không kể mình của nhà Phật để thuyết phục cô bé năm tuổi côkhông hề đau! Đọc tạp chí kỹ thuật về điện toán, tôi biết bạn tôi đang hoàn thiện một loại máyđiện toán đặt tên là Dataflow “Dòng dữ kiện” và giới chuyên gia gọi là “Công’s Computer”Máy Điện toán Công. Trên nguyên tắc, ta có thể ghép hàng ngàn hay hàng triệu centralprocessing unit CPU, là bộ phận hành sử trung ương để làm tính, trao đổi dữ kiện, và điềukhiển các bộ phận khác của máy điện toán với nhau để tạo thành một máy siêu điện chiếc máy siêu điện toán ấy sẽ không khác gì máy thường chỉ gồm một CPU nếu khôngcó phát minh của thằng Công. Thí dụ, khi thực hiện phép tính đơn giảnX = A + B + C,CPU trước hết phải cộng A và B, lấy kết quả tìm thấy cộng với C, và rồi đem kết quả cuối cùnggán cho X. CPU mỗi lúc chỉ có thể làm một việc; ba công việc nhỏ ấy phải làm tuần tự, việctrước xong mới đến việc sau. Dataflow là phương pháp tạo ra một chương trình điện toán đểphân chia mỗi phép tính thành một số công việc nhỏ mà nhiều CPU khác nhau của máy siêuđiện toán có thể thực hiện cùng một hè 1978 kế tiếp, tôi lại xuống thăm thằng Công. Một tối tôi vừa nói chuyện vừa giúp nóduyệt lãm bài thuyết trình về Dataflow hôm sau nó trình bày với hội đồng quản trị TexasInstruments. Trong một công ty tư, hội đồng quản trị là ủy ban tối cao có quyền bổ nhiệm tổnggiám đốc và có nhiệm vụ hoạch định đường lối điều hành và chính sách dài hạn của công ty. Tốihôm sau, không nghe nó đề cập tới cuộc họp ban ngày, tôi dọ hỏi,“Hôm nay thuyết trình ra sao? Sao mày là kỹ sư nghiên cứu mà lại được vinh dự mời rahội đồng quản trị?”“Tàm tạm được,” nó uể oải trả lời, “Bọn hắn trả tiền cho tau đi học PhD tiến sĩ cốt đểdùng luận án Dataflow của tau. Chừ bọn hắn cần biết chắc chắn dự án có khả thi hay khôngtrước khi chấp thuận ngân sách để chế tạo và tung ra thị trường.”“Rồi mày nói sao?”“Dĩ nhiên là thực hiện được, nhưng tau đang bận chuyện riêng nên không có thì giờphát triển hay đóng góp thêm. Bọn hắn làm chi thì làm, tau không hứa hẹn chi hết.”“Sao mày bỏ qua cơ hội bằng vàng như vậy?” tôi trợn mắt nhìn nó.“Tau đang viết sách chứng tỏ Phật giáo không những là tôn giáo dân chủ hoàn hảo màcòn là triết lý vô cùng khoa học. Thì giờ mô mà lo chuyện bao đồng?”Tôi lặng người nhưng cố vớt vát,“Hay mày để ra vài ba ngày viết các chi tiết kỹ thuật về Dataflow ra cho tao?”“Để làm chi?”“Tao đi thuê luật sư lấy bằng sáng chế. Cầm bằng sáng chế trong tay là mình giàu to,thằng IBM không mua thì thằng Hewlett-Packard hay thằng khác cũng giành mua. Nó khôngchế để bán thì cũng mua cất giữ cho thằng khác khỏi chế. Sau đó, mày khỏi cần đi làm, tao cóđủ tiền cho mày tu học.”“Đừng xúi tau vướng vào Tam Chướng – Tham Sân Si, ba điều trở ngại cho việc cởi bỏoan nghiệt.”“Chính mày mới là Sân Si – giận và ngu tối. Riêng về Tham thì đây không phải là thamlam lấy của người, kéo nhà người khác về làm chuồng heo như người Việt, mà tối đa hóa lợinhuận’ theo thuyết kinh tế của Adam Smith,” tôi nói lớn Smith 1723 – 1790 là nhà kinh tế và triết gia người Tô Cách Lan được xem là cha đẻ củakinh tế học và chủ nghĩa tư bản. Thằng Công cười mỉa.“Kinh tế tư bản khiến người giàu càng giàu hơn, kẻ nghèo càng nghèo thêm?”“Mày lầm rồi! Khi mọi người được hưởng lợi nhuận do công sức mình làm ra, cái Thamấy là động lực khiến họ làm việc hăng say, cố gắng phát minh sản phẩm tân kỳ và hữu ích, vàkhông ngừng cải tiến phương cách làm việc để có hiệu quả hơn và sản phẩm tốt và rẻ hơn. Nhờđó, người nghèo cũng được hưởng lợi ích và mức sống họ cao hơn.”Trở về đề nghị của mình, tôi cố gắng một lần cuối,“Bỏ qua chuyện lợi danh, hoàn tất công trình nghiên cứu là đóng góp kiến thức mới chonhân loại và giúp cải thiện đời sống của mọi người, giàu cũng như nghèo.”“Tau không màng thế sự; mi là Phật tử lầm đường, đừng ép tau tơ vương vào cõi trầntục,” thằng Công nói chắc như đinh đóng cảm phục thằng Công ở chỗ nó hết lòng tôn sùng đạo Phật, say mê Phật pháp, và khôngmàng lợi danh. Nhưng tôi thà chịu tiếng Phật tử lầm đường còn hơn lẩn tránh trách nhiệmđóng góp cho đời, cho Chúng sinh của nhà khoa Ngọc HoaNgày 28 tháng Bảy, 2021Còn Đáng Mặt Đàn ÔngMỗi tối thứ Sáu tôi và Quỳnh Châu dành trọn thì giờ cho nhau và cho Mạc sau cả tuần lễ đầu tắtmặt tối chạy đua với đồng hồ. Buổi chiều tôi đi làm chuồn về sớm và giúp nàng tắm rửa, mangquần áo đẹp, và sửa soạn cho Mạc đi chơi. Bắt đầu buổi tối “ra phố,” chúng tôi đi kéo ghế, tứclà đi ăn tiệm. Vào tiệm ăn, rổ trẻ con của Mạc đặt nằm trên ghế và chiếm một chỗ như ngườilớn; tôi vừa ăn vừa đút thức ăn trẻ con mang từ nhà theo cho bé. Ăn xong, chúng tôi vàothương xá và đặt Mạc vào xe đẩy trẻ con đẩy đi loanh quanh xem hàng hóa bày bán đến khi bébuồn ngủ bắt đầu nay bữa ăn chiều có thêm thằng Sang em kế tôi. Nó đã dọn nhà ra ở riêng, và thỉnhthoảng bị cha gọi điện thoại sai làm những việc mấy đứa nhỏ ở nhà không làm được đúng hơnlà thoái thác được. Có thêm thằng Sang, không khí trở nên náo hoạt hẳn lên. Nó kêu bia uốngtì tì và gọi món ăn mắt tiền nhất trong thực đơn vì, “Lâu lâu mới được ăn chùa của anh Ba Hoa,phải ăn cho đáng đồng tiền bát gạo,” và huyên thiên kể chuyện khôi hài để chọc cười. Nó hỏitôi,“Anh còn nhớ thằng Xương thời mình đi giang hồ và ở lậu trong Đại học xá Minh Mạngkhông?”“Cái anh chàng Xương chuyên chơi trò ở trần mặc quần xà lỏn đứng trước cửa đại họcxá ngắm nữ sinh trường Fraternité trường Bác Ái đi học về ấy à? Bây giờ nó ở đâu?”“Nó ở vùng nam California, mới liên lạc với tui hơn một tuần nay,” nó quay sang QuỳnhChâu, “Hồi đó tui chơi thân với hắn và nói mãi hắn chẳng thèm nghe nên một hôm tui tìm thêmhai đứa bạn khác, nhất định cho hắn một vố nhớ đời. Tụi tui đợi đến giờ . . . cao điểm, nghĩa làlúc các cô đi qua đông nhất, mới ra tay cưỡng bách hắn thoát y, nói nôm na là tuột quần hắn!”Quỳnh Châu cười khúc khích,“Làm gì mà phải cần đến ba tay vai u thịt bắp?”“Lưng quần xà lỏn luồn dây thun nên kéo tuột xuống dễ ợt. Tuy nhiên, tụi tui tínhchuyện chắc ăn Hai đứa đứng hai bên cùng kéo xuống một lúc. Đánh mau, đánh mạnh, hắnkhông kịp trở tay,” thằng Sang rán nín cười.“Còn người thứ ba?”“Thằng đó rình sau lưng, thủ sẵn que củi, và đợi quần tụt xuống thì đút ngay que củi vàokhoảng trống chính giữa. Thằng Xương lẹ tay cách mấy cũng không sao kéo quần lên kịp, đànhphô trương của quý’ cho các cô Fraternité chiêm ngưỡng.”Tôi chợt nhớ ra và hỏi thằng Sang,“Thằng Xương chơi với mày từ thuở nhà mình ở Tuy Hòa, nó là cháu gọi bác Hoàngchánh án bằng cậu em mẹ, phải không?”“Đúng vậy,” nó giải thích với Quỳnh Châu, “Ông chánh án thân với ông già mình, và anhSơn con đầu của ông ta là kỹ sư công chánh học cùng với anh Ba Hoa.”“Mày đến không hẳn để thăm tụi tao mà còn thừa lệnh ông già?” tôi nghi ngờ hỏi nó.“Anh đoán trúng chóc, tui tới để truyền thánh chỉ’! Thằng Xương di tản sang đây với giađình ông Hoàng, và nhờ hắn liên lạc được với tui mà ông chánh án biết số điện thoại của ta gọi năn nỉ ỉ ôi lạy lục cha nhờ anh tìm địa chỉ của anh Sơn bên Pháp. Cha đồng ý và ralệnh cho anh làm việc đó. Đó, nhiệm vụ của tui tới đây là hết,” thằng Sang cười khì và bác Hoàng cùng trang lứa và làm bạn với nhau từ ngày còn bé ngoài quê Quảng lên, cha vào quân đội, bác làm công chức. Bác có nhiều hoài bão và lần hồi tiến thân bằngđường học hành. Ban ngày đi làm, ban đêm cắm cúi học, bác đậu tú tài, sau đó ghi tên học luật,nhờ người lấy cua về nhà học, và cuối cùng đậu bằng cử nhân luật và được bổ nhiệm làm chánhán tỉnh Phú Yên vài năm trước khi cha về cầm đầu đệ nhất niên kỹ sư điện, tôi học chung các môn khoa học cơ bản với thằng Sơn. Tuy mangtiếng “quê nhà” ở Tuy Hòa Phú Yên, mãi đến mùa hè hai năm sau tôi mới về thành phố duyênhải nhỏ bé hiền hòa ấy, không như thằng Sơn đã từng học trung học và quen biết nhiều nữ sinhở đó. Nó đứng đắn đàng hoàng, ăn nói nhỏ nhẹ, cử chỉ dịu dàng như con gái, và mặt mày trắngtrẻo đẹp trai; đúng là mȁu người lý tưởng của các thiếu nữ đương thì. Ngược lại, tôi lấc ca lấccấc, đi đứng hành động ào ào, và nói năng bất cần đời, mở miệng sặc mùi triết lý hiện sinh“cuộc đời phi lý và buồn nôn” và “con người trong xã hội cần nổi loạn.”Thằng Sơn thường được cha dùng làm mực thước để la mắng tôi. Mùa nghỉ hè đến, tôi nấn náở lại Sài gòn chơi với bạn rồi đi xe đò lên Đà Lạt, xuống Nha Trang, và ngao du sơn thủy mộtvòng rồi mới về nhà. Thằng Sơn thì sau ngày bãi trường vội vàng bay về Tuy Hòa và được bácHoàng xin cho một chân thông dịch viên làm hè trong căn cứ Không quân Hoa kỳ bên phitrường Đông Tác, căn cứ không quân lớn thứ nhì ở miền Trung, chỉ sau Đà Nẵng. Bác khoe nógiỏi Anh văn và chăm chỉ làm việc phụ giúp lợi tức gia đình. Thế là tôi bị cha hành tội,“Con người ta giỏi giắn, nghỉ hè lo về đi làm kiếm tiền đưa cho cha. Còn con tau đemđồng tiền xương máu của tau đi chơi, chẳng thèm đoái hoài đoái quở tới cha mẹ em út.”Cha hạch tội tôi chỉ đúng một nửa – tội đi chơi. Nhưng “đồng tiền xương máu” thì hoàn toànsai, vì khoản tiền cha cho phép mẹ gửi vào cho tôi hàng tháng chỉ vừa đủ để trả tiền ăn ở nhàtrọ. Mọi chi phí khác như tiền sách vở, cà-phê thuốc lá, xi-nê giải trí, đều do tôi dạy kèm tưgia và dạy trung học tư kiếm được. Tôi tức mình nhưng không dám cãi cha bèn qua phi trườngĐông Tác xin làm thông dịch viên. Anh sĩ quan Mỹ phỏng vấn cảm phục khả năng nói tiếng Anhlưu loát và kiến thức rộng rãi của tôi bèn đề nghị tôi làm thông dịch viên cho các sĩ quan cao cấpcủa bộ chỉ huy căn cứ khi họ chính thức tiếp xúc với giới chức cao cấp phía Việt nam – tức là chavà các viên chức trực thuộc. Trước khi tôi được chấp thuận cho nhận việc, hồ sơ điều tra anninh đi qua tay cha, và tôi bị cha chửi bới,“Thằng con bất hiếu bất mục không biết bảo vệ danh dự gia đình, coi tên tuổi cha hắnnhư cục cứt. Tau làm đến chức cầm đầu một tỉnh như ri mà hắn cả gan gia tiếng ác nói cha hắnbắt đi làm sở Mỹ lấy tiền.”Một lần khác, bác Hoàng hãnh diện kể rằng ở Sài gòn thằng Sơn cặp bồ với con gái một vị tướnglãnh trong quân đội. Thế là vô cớ tôi bị cha buộc tội vu vơ,“Con người ta đàng hoàng, trai gái với con ôông nọ ôông tê làm cho cha mẹ nở mặt nởmày. Còn con tau đi theo mấy thứ mèo đàng chó điếm, không xứng đáng với địa vị của tau.”Ít lâu sau, ông tướng thông gia tương lai của bác Hoàng bị giáng chức và buộc phải giải ngũ saubiến động chính trị ở miền Trung giữa thập niên 1960, và sau khi tốt nghiệp kỹ sư công chánh,thằng Sơn được học bổng đi Ý học cao học. Ba năm sau, tôi có dịp gặp và kết thân với ôngtướng hồi hưu và nhờ đó quen với Thanh Hiền bồ cũ của thằng Sơn. Trong mấy năm qua,nàng vò võ đợi trông người yêu học thành tài trở về, nhưng chàng bỏ trốn qua Pháp, xoay xở ởlại để khỏi về nước bị đi lính, và chấm dứt mọi thư từ liên lạc. Sau một thời gian, nàng nguôingoai, tôi giới thiệu nàng với thằng Hữu bạn cùng lớp với tôi. Thằng này và Thanh Hiền thành ýhợp tâm đầu rồi lấy nhau, và dĩ nhiên tôi làm phù rể cho bạn.* * *Tối Chủ Nhật, tôi điện thoại cho bác Hoàng hỏi cho rõ việc bác nhờ,“Thưa bác, lần cuối bác liên lạc với thằng Sơn lúc nào?”“Mùa hè sau Hiệp định Paris 1973. Lúc đó, hắn mới từ bên Ý qua Paris, viết thư nói đờisống bên Pháp rất khó khăn vì nạn thất nghiệp trầm trọng, kịch liệt đả kích chính phủ Việt namCộng hòa, và nói sẽ theo phe bên tê.’ Bác giận run viết thư mắng hắn là đồ ăn cơm Quốc giathờ ma Cộng sản, lần đầu tiên bác nặng lời với hắn. Sau đó, bác gái nhiều lần viết thư khuyêngiải vỗ về, nhưng hắn biệt tăm biệt tích. Bác đã coi hắn và công lao mấy mươi năm dưỡng dụcnhư bỏ xó.”“Sao bây giờ bác muốn tìm nó?”“Năm ngoái 1975 qua tới Mỹ, nơi đất khách quê người, bác gái đâm ra nhớ thằng conđầu lòng yêu thương nhất nhà và buồn rầu sinh bệnh rề rề hoài. Bác gửi thư về địa chỉ trướccủa thằng Sơn thì thư trả lại vì không có người nhận. Với lòng thương con bao la của người mẹ,bác gái chỉ cần biết chắc hắn còn sống và mạnh khỏe; còn nếu hắn cương quyết từ cha từ mẹđể theo Cộng sản, bác gái cũng chẳng màng.”Tôi viết thư nhờ một người bạn học cũ là Tuệ hỏi tin tức thằng Sơn. Tuệ lúc trước học chươngtrình trung học Pháp ở Jean-Jacques Rousseau, thi vào trường Điện cùng năm với tôi và đậu đầutôi đậu thứ ba, học chung với thằng Sơn hai năm đầu tiên, ra trường kỹ sư điện đậu thủ khoa,và được học bổng của chính phủ Pháp sang Paris học tiến sĩ. Khoảng hai tuần sau, tôi nhậnđược thư trả lời của Tuệ, thư chứa một số chi tiết khiến tôi bàng thằng Sơn đi xe lửa sang Paris, xuống Ga Lyon ở Quận 12 – không tiền, không người hầu như không tin sự may mắn của mình khi thấy một thiếu phụ Pháp tóc vàng xinh đẹp tênNadine chờ đón ở sân ga. Bọn Việt Cộng ở Pháp và Cộng sản Pháp thường cho người chờ đónmấy kẻ lang thang cù bơ cù bất đói lạnh ở bến tàu và ga xe lửa, mang về cho ăn ở, và khuyến dụtheo chúng. Trước khi trở thành cán bộ Cộng sản, Nadine có một thời đứng đường bán thânnuôi miệng ở khu Pigalle nằm ở ranh giới Quận 9 và Quận 18 và được biết dưới tên Nadine “letrompette” người thổi kèn vì ngón làm tình bằng miệng điệu nghệ của nàng. Nàng đem lòngyêu thương chàng thanh niên da vàng đẹp trai và thông thái, và hai người sống chung trong cănapartment ở khu ngoại ô trung lưu Clichy-sous-Bois. Địa chỉ số 44 đại lộ Madrid ở khu ngoại ôgiàu có Neuilly-sur-Seine nó dùng để gửi thư cho bác Hoàng lúc trước là của trụ sở Phái bộNgoại giao Việt vài lần viết thư cho thằng Sơn về địa chỉ mới ở Clichy-sous-Bois mà không thấy trả lời, bácHoàng quyết định bay sang Paris tìm nó hỏi cho ra lẽ. Bác đến căn apartment bấm chuông,Nadine ra mở cửa. Thằng Sơn ngồi trong phòng khách, không đứng dậy chào, và cũng chẳngnói chẳng rằng. Bác hỏi bằng tiếng Việt, nó trơ mặt không thèm trả lời. Bác la lớn bằng tiếngPháp thì Nadine can thiệp,“Ông và Sơn hai người hai bên chiến tuyến, không thể thỏa hiệp và không còn gì để ông không lập tức ra khỏi đây, tôi sẽ gọi cảnh sát.”Bác Hoàng tức giận đắng cay và trước khi bỏ đi, muốn chửi thằng Sơn một câu cho đã không biết chửi làm sao. Chửi tổ tiên nó là tự chửi ông bà mình. Chửi nó “mất dạy bấthiếu” là tự mắng mình không biết dạy con. Rốt cuộc bác nhìn thằng Sơn, chỉ tay vào mặtNadine, và phun ra câu chửi tục rất . . . Quảng Bình,“Con đầm ni, hắn bú c… mi cho mi sướng điên lên rồi quên cả cha mẹ ông bà.”Sau ngày bác Hoàng đi Pháp về, biết thằng Sơn sống yên ổn, bác gái bớt phiền muộn và dần dầnphục hồi sức khỏe. Khoảng ba tháng sau tôi nhận được thư Tuệ, trong đó “moi” đọc là “moa”và “toi” đọc là “toa” tiếng Pháp nghĩa là “tao/tôi” và “mày/anh,”Báo tin cho toi biết là Sơn đã qua đời. Moi đi dự đám tang và có dịp nói chuyện khá lâuvới Nadine. Năm 1973, lần đầu tiên Sơn thử lửa đi Marseille công tác cho Việt Cộng vớiNadine thì bị tai nạn xe hơi. Nadine không hề hấn gì, nhưng Sơn bị thương rất nặngphải nằm nhà thương khá lâu. Từ đó, Sơn bị bán thân bất toại, không thể tự di chuyểnhay săn sóc mình, và mất trên 80 phần trăm khả năng nói. Sơn đã dặn Nadine giữ kínđiều này cho đến khi Sơn hèn nhát và phản bội, thằng Sơn cũng còn đáng mặt đàn ông Thà mang tiếng bất hiếu bấtnghĩa và chịu đau đớn, còn hơn để cha mẹ phải ưu phiền khổ đau vì mình mà chả đi đến đến nỗi quá tệ!Nguyễn Ngọc HoaNgày 11 tháng Tám, 2021Người Mẹ Đi Ăn MàyBuổi chiều đi làm về mở cửa bước vào nhà, tôi rất đỗi ngạc nhiên khi thấy mẹ ngồi trên chiếcghế xa-lông dài đút thức ăn cho Mạc, bé ngồi dựa ngửa trong rổ trẻ con đặt cạnh mẹ. Mẹ vừađút vừa ờ à “nói chuyện” với Mạc, bé thích chí cười toe toét. Tôi rưng rưng nước mắt chào mẹ,mẹ cũng xúc động không kém và ra hiệu cho tôi lại gần,“Mi làm chi mà mặt mày hốc hác như thằng cha chết đói lâu ngày rứa?”“Con cũng vậy vậy thôi, có ốm đi chút nào đâu,” tôi lúng túng cãi.“Nếu ảnh có ốm dzô là vì lo học cho theo kịp bạn trên sở, chớ ở nhà ảnh ăn uống đànghoàng lắm,” Quỳnh Châu từ trong phòng bước ra đỡ lời mẹ và cười chúm chím, “Mặc dù connấu nướng có hơi vụng về.”Mẹ đã cãi lệnh cha đến thăm tôi. Tôi nằm trong “sổ đen” của cha; khi cha ghét ai thì ghét cayghét đắng và bắt mọi người trong nhà phải ghét theo, nếu không sẽ khó lòng yên thân với Châu giải thích cho tôi giùm mẹ,“Mẹ đến xem apartment hai phòng ngủ mới của mình. Cuối tuần tới dì Xuân từ Houstonthuộc tiểu bang Texas lên thăm mẹ và sẽ ngủ đây với tụi mình.”“Dì Xuân hả? Thật không mẹ?” tôi muốn nhảy cȁng lên, “Mười mấy năm nay chưa gặpdì, con ngỡ dì kẹt ở Huế. Ngờ đâu dì đi được.”“Sức mấy mà dì Xuân mi ở lại với Việt Cộng. Dì và dượng Nguyên qua đây năm ngoái1975, ông già mi bắt liên lạc với dượng nửa năm rồi mà ghét mặt dì nên không thèm nói vớitau. Hai tuần trước dì kêu điện thoại và nhất định lên đây thăm tau.”“Con nhớ rồi. Cha ghét dì thậm tệ từ hồi nhà mình ở cửa Nhà Đồ Huế. Tại dì cầm đầuđội quân đánh ghen khi các ông bạn cha lén lút thuê nhà sống với vợ hầu trẻ đẹp và giỏi chiềuchuộng hơn vợ nhà.”Ngày đó mẹ kể dì là bạn đi buôn thời mẹ chưa lấy chồng; dì đẹp nhất đám, dạn dĩ, bạo miệng,và hay nói hoang, tức là nói tục về liên hệ gái trai. Tôi nhớ lần nghe dì kể vụ đánh ghen cho bácCẩn gái. Bác trai đóng đồn ở Quảng Trị, không mấy khi về nhà, và bác gái đã dọ hỏi đích xác chỗở và giờ giấc sinh hoạt của kẻ cướp chồng. Dì Xuân ra quân thành hai tốp tốp đầu gồm vaichính là bác Cẩn cùng với hai bà có thân hình bồ lương tấn gió to lớn mạnh mẽ, và tốp tiếpứng gồm hai bà khác cũng mạnh mẽ không kém. Trong khi hai tay bồ lương giữ tay chân “conđĩ ngựa” cho bác Cẩn đánh đập vào mặt và lấy kéo xởn đầu “để hắn dị dạng không còn rùquyến chồng mình”, dùng guốc cao gót nện vào chỗ kín “để hắn hết trổ vành trong tám nghềlàm chồng mình mê mẩn đời”, và lột quần xé toang ra “cho hắn ở lổ, phơi bộ sậu ra cho bàngquan thiên hạ ngó thấy”.Hôm ấy, tốp tiếp ứng có dịp ra tay. Một anh hạ sĩ quan làm việc dưới quyền bác Cẩn trai tình cờđi qua động lòng trắc ẩn bèn xông vào khuyên can và tách rời các bà đánh ghen ra. Hai bà đứngngoài liền nhào tới tấn công con kỳ đà cản mũi và nhắm mục tiêu là . . . chỗ ấy của anh ta. DìXuân cười khà khà,“Hai mụ đè hắn ra, nhằm chỗ nớ mà xỉa vô, dài thì lôi nắm kéo ra, tròn thì bóp. Đauquá, hắn lạy lục xin tha.”Bốn đứa con dì là thằng Biên lớn hơn tôi hai tuổi, thằng Sơn thua tôi một tuổi, con Hà kế nó, vànhỏ nhất là bé Minh mới đi lȁm đȁm. Tôi chơi thân với thằng Biên và thằng Sơn và hay vấn kếdì khi bị mấy thằng lớn trong xóm bắt nạt. Lớn thêm vài tuổi, tôi thấy đằng sau khuôn mặt vuitươi và giọng nói cười cợt, dì mang ý chí mạnh mẽ không chịu khuất phục ai.* * *Trong hơn một tuần lễ tái ngộ, mẹ và dì Xuân quý trọng thời gian bên nhau như thể mai đâykhông còn gặp lại. Quỳnh Châu giữ nhiệm vụ đưa đón, buổi sáng đưa dì tới nhà mẹ, và buổi tốiđón dì về apartment ngủ. Tôi có dịp nói chuyện với dì và ngạc nhiên khi biết quê dì là một lànggần Vinh, tỉnh lỵ của tỉnh Nghệ An,“Mẹ và dì, hai người ở cách nhau hơn hai trăm cây số mà lại thân nhau như chị em, lạthiệt!”“Dì sinh ra trong một gia đình điền chủ tương đối khá giả và chỉ có một người anh là ôngChung. Ngày dì còn nhỏ, thầy tướng số đoán dì sẽ chịu gian nan khổ sở, phải đi ăn mày màsống. Bọ cha dì gạn hỏi thêm thì thầy lắc đầu, Thiên cơ bất khả lậu máy trời không thể tiết lộra được. Chỉ có cách cho hắn đi buôn.’ Tin lời thầy, khi dì lớn lên, bọ và vú mẹ bắt dì đi đó, dì gặp mẹ mi trên tàu lửa chạy ra vô Vinh và Đồng Hới Quảng Bình và kết bạn với chị.”“Anh em bạn cũ Lưu tồn; củ khoai chia bốn, cái . . . hồn chia hai,” tôi cười hì hì nhắc lạicâu ví tục của dì ngày trước về bạn bè.“Thằng Bé quỷ yêu ni ăn nói tầm bậy tầm bạ, mẹ mi nghe được vả cho bể miệng,” dìcũng cười nhưng chỉ một thoáng sau, đổi sang nét mặt buồn rầu, “Sau đó, bất hạnh theo nhauđến với gia đình dì,” dì nhắm mắt nhớ lại những tai ách của một thời quá khứ. “Thằng Bé” làtên gọi ở nhà của tôi thuở 1940, Đệ nhị Thế chiến xảy ra, quân đội Nhật tiến vào Việt nam và chiếm đóng ĐôngDương bên cạnh chính quyền đô hộ của người Pháp. Sáng ngày 9 tháng Ba năm 1945, Nhậtđánh úp Pháp, bộ máy cai trị của chế độ cũ sụp đổ, và quân phiệt Nhật đưa ra chủ nghĩa ĐạiĐông Á, “Châu Á của người Á,” để che dấu dã tâm tàn bạo của họ. Trong một chuyến chở khoailang đi bán ở Hà Tĩnh cách xa Vinh chừng 50 cây số về phía nam, bọ dì Xuân bị lính Nhật chận lạikhám xét. Xe khoai bị phá hủy, viên sĩ quan Nhật tuốt kiếm vung lên chém đầu bọ vì “toan tiếptế lương thực cho Việt Minh”; đầu bọ rời khỏi cổ nằm lăn lóc giữa chiếm đóng của quân Nhật khiến dân chúng vô cùng đau khổ vì phải nộp thóc cho Nhật dùngvà cho Pháp dự trữ chờ quân Đồng minh đổ bộ. Ruộng đất bị trưng dụng để trồng thầu dầu,đay, và gai cung ứng cho kỹ nghệ chiến tranh Nhật. Do đó, nạn đói năm Ất Dậu 1945 diễn ra,một nạn đói khốc liệt không tiền khoáng hậu Hơn hai triệu người chết nằm la liệt khắp bờbiển, ven đường, và xó chợ từ miền Trung ra tới miền Bắc. Quá đói và gầy yếu, chị dâu dì Xuânlà vợ ông Chung qua đời lúc sinh con. Khi cả gia đình không còn gì để ăn, dì đi với vú vào rừngtìm lá hay rễ cây cho gia đình ăn đỡ đói, nhưng mọi thứ đều đã bị người ta vét sạch. Hai mẹcon đi lạc vào một vườn bắp, chưa kịp hái trộm thì bị chủ vườn là một tên ác côn làm mật thámcho Pháp bắt được vung roi da đánh không nương tay. Dì nhanh chân chạy thoát, nhưng vúquá yếu nằm chịu trận và bị đánh đi, Pháp trở lại, rồi Việt Minh tức là Cộng sản lên cầm quyền. Trong thời gian tranh tốitranh sáng, dì và ông Chung gầy dựng lại cơ nghiệp của cha mẹ và làm ăn khá phát đạt với sựtrợ giúp của hai gia nhân trung tín bà vú tên Viễn đã từng nuôi anh em dì nay trông nom mấyđứa con dì, và ông Quá giúp coi sóc ruộng nương và mùa màng. Dượng Nguyên đã gia nhậpquân đội và theo đơn vị đóng đâu đó trong họa đến khi bé Minh được ba tháng. Một buổi sáng đầu năm 1954, dì đang cho con ăn sángthì trong sân có tiếng hô vang rân, “Đả đảo địa chủ cường hào!” Một đám người làng cầm gạchđá, dao rựa, và gậy gộc giận dữ xông vào nhà kéo ông Minh ra trói ké ra sau lưng. Rồi đến lượtdì bị trói ké, đoàn người căm hờn hô to, “Tiêu diệt địa chủ gian ác!” Hai anh em dì bị điệu rađình làng, trói vào hai chiếc cọc đóng ở giữa sân, và bắt quỳ gối đối diện với bảy, tám người dânlàng nghèo khó vô học ngồi ngơ ngáo sau chiếc bàn gỗ dài. Dưới sự chỉ huy của hai cán bộ lạmặt, đám đông đứng quanh sân hô khẩu hiệu và la hét lời nhục mạ được “học tập” từ này dì biết đó là “tòa án nhân dân” của phong trào Cải cách Ruộng đất phát động để tiêudiệt “cường hào ác bá.” Ngày đầu tiên của “phiên tòa” không mấy thành công vì tuy cán bộ“động viên” đám đông hô khẩu hiệu và vài người đứng ra chửi bới tận mặt anh em dì, nhưngkhông ai trưng ra tội trạng gì. Đến lượt bị chỉ định lên “đấu tố,” bà Viễn và ông Quá liều lĩnhbào chữa cho anh em dì, nói họ là người tốt, giúp đỡ mọi người trong làng, và nhất là đã hếtlòng ủng hộ và che chở “kháng chiến.” Cuối ngày, hai anh cán bộ tiu nghỉu, tuyên bố tạm ngưng“xử,” điệu ông Minh đi nơi khác, và lôi dì sền sệt về nhà trói vào chuồng trâu ở góc khuya, ông Quá lặng lẽ bò tới chuồng trâu mở trói cho dì. Ông cho biết ông Công đã bịđâm chết và bà Viễn đang đưa mấy đứa con dì ra cây đa đầu làng. Dì phải tức thì ra đó gặp vàđưa con đi trốn, trốn càng xa càng tốt. Dì ẵm thằng út Minh, thằng Biên lớn nhất nắm tay conHà, thằng Sơn đi một mình, và năm mẹ con chạy một mạch đến gần sáng. Theo bản năng, dìchạy theo hướng nam về phía Quảng Bình; bên ngoài làng quê Nghệ An, trên đời này dì chỉquen biết mỗi một mình đoán của ông thầy bói đã ứng nghiệm. Ban ngày dì dȁn bốn đứa con vào chợ trong cáclàng dọc theo Quốc lộ 1 xin ăn, ban đêm ngủ bờ ngủ bụi phía ngoài làng. Qua đến ngày thứnăm, dì tới một quán bán cháo lòng xin ăn. Mụ chủ quán không cho nhưng nhìn chằm chặpđứa lớn nhất là thằng Biên, “Nếu mi cho thằng nhỏ ở đây làm việc cho tau thì hắn sẽ có cơm ănvà đêm cho ngủ lại coi quán.” Thằng Biên năn nỉ dì bằng lòng và cuối ngày mang ra ngoài làngcho dì hai tô cháo lòng còn lại trong nồi không bán hết rồi trở lại quán. Nửa đêm, nằm sau bụicây rậm, dì thức giấc vì ánh đuốc sáng rực và tiếng người ồn ào, “Con địa chủ không thể trốn đixa, phải tìm cho ra hắn để xử tội.” Trời vừa sáng là dì đánh thức ba đứa con dậy và vội vã lênđường, không dám nán lại chờ thằng Biên. Dầu sao nó cũng đã có chỗ ăn chỗ ngủ đàng tuần lễ thứ hai, đứa con gái là con Hà bị kiết lỵ và phát sốt run bần bật. Dì rất đỗi lo lắng,không có cách gì hơn là liều bị nhận ra và bắt lại, và hỏi thăm đường tới ngôi chùa gần nhất đểnhờ các vị sư chữa trị cho con. Ni cô trụ trì nhận ra dì và nhận giữ con Hà lại chữa bệnh, nhưngsợ bị liên lụy nên hối thúc dì rời chùa ngay lập lại thằng Minh ẵm trên tay và thằng Sơn, thằng này mới sáu tuổi nhưng khôn ngoan nhưngười lớn. Khoảng một tháng sau khi rời làng, một hôm dì vào nhà một gia đình nông dân xinchút cơm thừa cá cặn; vợ chồng chủ nhà không có con, thấy thằng Sơn mũm mĩm và ăn nóirành rọt, và ngỏ ý xin nó làm con nuôi. Nó không muốn xa mẹ, nhưng tự biết là gánh nặng chodì nên giục dì nhận lời. Dì miễn cưỡng đồng ý với lời hứa “trong vòng một năm sẽ trở lại đóncon.”Dì ôm con đi ăn mày thêm hơn một tháng nữa mới tới được cổng nhà mẹ, thân tàn ma dại runlẩy bẩy. Mẹ đón dì với vòng tay mở rộng và nụ cười đȁm nước mắt. Hôm sau, để dì ở nhà ănuống tắm gội và nghỉ ngơi, mẹ tất tả vào phố thuê xe có tài xế và cậy người em họ của cha đivới dì đón ba đứa con lớn về. Lần này mọi việc suôn sẻ và mẹ con dì đoàn tụ, như thể được trờiche đất chở. Trong chuyến đi này, dì hay tin bà Viễn đã thắt cổ tự tử trên cây đa đầu làng vàông Quá đã nhảy xuống sông Lam tự trầm. Họ để lại thư tuyệt mạng “hối lỗi đã phạm tội phảnđộng, giúp đỡ tên địa chủ mang nợ máu nhân dân trốn thoát.” Nhưng dì biết bà Viễn khôngbiết trèo cây, ông Quá bơi lội rất giỏi, và cả hai người đều không biết dì Xuân kể chuyện năm xưa, tôi ghê mình mọc ốc, nước mắt trào ra trên má. Sao dì tôikhổ sở đến vậy hỡi Trời?Nguyễn Ngọc HoaNgày 25 tháng Tám, 2021Thảm Kịch Gia ĐìnhTối thứ Sáu là “đêm gia đình” của chúng tôi. Buổi chiều, khi sửa soạn cho Mạc đi ra ngoài, tôivà Quỳnh Châu thường phân vân không biết chọn đi ăn tối ở đâu; tiệm ăn hợp khẩu vị và vừatúi tiền thì nhiều và sàn sàn như nhau, không dễ gì lựa. Hai vợ chồng thường “đưa banh” qualại, tôi hỏi câu đầu tiên,“Hôm nay em muốn ăn gì, ở đâu?”“Tùy chồng, anh cho đi đâu thì em đi đó,” Quỳnh Châu nhân nhượng.“Thật không? Anh chọn chỗ không vừa ý thì không được than phiền đâu nhé,” tôi“dọa.”“Ôông dôông nói lạ chưa? Hồi giờ vợ này than phiền hồi nào mà bị chồng la’?”Hôm ấy, đầu tháng Giêng năm 1977, trước khi tôi tung ra “quả banh” thường lệ, Quỳnh Châumỉm cười chận đầu,“Bữa nay em tránh cho chồng một quyết định nhớn lớn vì đã biết mình đi ăn đâu rồi.”“Thật vậy sao, mụ vợ ngon lành’ của nòng lòng anh?” tôi cười nụ.“Vợ anh ’ngon lành’ cũng không thể bằng miếng bít-tết của steak house Long Horn ngonsố một Bismarck. Còn ngon’ hơn nữa là hồi chiều bác Kiệt gọi điện thoại mời mình đi ăn cơmtối. Biết tẩy ý muốn thầm kín em, bác mời đi ăn Long Horn.”“Steak house” là tiệm ăn mà món đặc biệt là thịt bít-tết, Quỳnh Châu thích ăn bít-tết nướng“rare,” bên ngoài hơi chín nhưng bên trong còn sống đỏ, và tôi chỉ dám chơi “medium-rare” làtái vừa vừa như ăn phở tái. Bác Kiệt là người Việt tỵ nạn giữ chức vụ cao nhất trong chínhquyền tiểu bang. Năm 1958, bác sang North Dakota học ngành sư phạm rồi về nước dạy học vàmở trường dạy Anh văn độc nhất ở Nha Trang. Tháng Tư năm 1975, bác và gia đình di tản vàđịnh cư tại San Jose ở bắc California. Một người bạn học cũ của bác làm tổng quản đốc nhaGiáo dục Quần chúng North Dakota mời bác lên làm phụ tá tổng quản đốc đặc trách giáo huấnhọc sinh tỵ xa gia đình, bác Kiệt xem vợ chồng tôi và Mạc như người thân. Bác ăn nói khéo léo nhưmột nhà ngoại giao, dịu dàng và niềm nở với mọi người, và nói tiếng Anh giỏi và hay hơn ngườiMỹ. Các thầy giáo trung tiểu học kính nể bác là bậc thầy và hay nhắc tới thành ngữ “water off aduck’s back” mà trong một bài thuyết giảng về giáo dục, bác dịch từ “nước đổ đầu vịt” để gọiđùa việc hoài công dạy dỗ các học sinh cứng đầu khó dạy, rầy la thế nào cũng không đến cuối bữa cơm thịnh soạn, bác Kiệt mới tung ra “quả bom” bất ngờ,“Hôm nay là bữa cuối, chắc còn lâu bác mới gặp lại anh chị.”“Bác về California với bác gái, sao giờ mới cho tụi cháu biết?” tôi giật mình ngạc nhiên.“Không phải thế. Mới đầu tuần này, mấy người bạn cũ gọi mời bác lên Hoa Thịnh Đốnlàm việc cho một dự án rất quan trọng liên quan tới cộng đồng người Việt. Bác phải nhận lời,dù phải bỏ ngang công việc đang làm. Ngoài anh chị, chỉ có ông sếp hiện tại của bác biết bác rađi, anh chị giữ kín chuyện này giùm bác,” bác căn hè năm sau 1978, bác Kiệt bất chợt trở lại thăm vợ chồng tôi và cũng mời đi ăn tiệm LongHorn. Mạc đã hơn hai tuổi và biết ngồi một mình trên high chair là ghế cao cho trẻ con ngồi bữa ăn, bác về apartment của chúng tôi uống cà-phê và tiếp tục hàn huyên. Bác nói lý do rađi năm trước,“Chắc anh chị đọc báo và nghe tin tức tòa án liên bang ở Hoa Thịnh Đốn xử cựu sinhviên Việt du học tại Hoa kỳ tên Dũng và nhân viên cao cấp bộ Ngoại giao tên Richard về tội ăncắp và chuyển tài liệu mật của chính phủ Hoa kỳ cho Việt Cộng VC’, và đại sứ Việt Cộng tạiLiên hiệp quốc LHQ’ tên Thơ bị trục xuất về nước?”“Nhân chứng then chốt là một phụ nữ người Việt tên Ái Mỹ, phải không bác?” QuỳnhChâu reo lên.“Cô ấy có lẽ lớn hơn anh một, hai tuổi,” bác nhìn tôi, “Do liên hệ gia đình và hoàn cảnhéo le, cô trở thành điệp viên cho sở Trung ương Tình báo CIA và cục Điều tra Liên bang FBI. Báctrông coi toán ngữ học dịch tài liệu Việt ngữ mà mấy tay gián điệp chuyền tay nhau,” bác Kiệtnhớ lại chi tiết vụ án và kể lại.* * *Ái Mỹ quê ở vùng Cần Thơ - Chương Thiện là con thứ tư trong một gia đình bảy người con Anhlớn tên Ngô, hai chị song sinh kế tiếp rồi đến nàng, cậu em tên Thủy, và hai cô em gái nhỏ. Chacô là ông Sáng hồi trẻ làm giáo viên tiểu học, tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp của ViệtMinh, và từng bị Pháp bắt giam tù. Bà Sáng rất yêu chồng, nhưng chống đối đường lối chính trịcủa ông khi thấy Việt Minh trở thành Cộng sản “CS” xảo trá và gian ác. Sau Hiệp định Genève1954, ông chia tay vợ và sáu đứa con đưa Ngô ra bắc tập kết; lúc ấy Ái Mỹ lên chín. Tuy nhiên,ông trở lại miền Nam lẩn lút hoạt động trong tổ chức gọi là Mặt trận Dân tộc Giải phóng MiềnNam “MTDTGPMN” rồi được cử làm đại sứ MTDTGPMN tại Nga Sô tới năm 1975. Ngô đượcgửi sang Nga Sô du học và trở thành chuyên viên hỏa tiễn điều khiển trong quân đội Cộng sảnBắc Việt “CSBV”.Một thân một mình với sáu đứa con dại, mẹ Ái Mỹ mở tiệm và trường dạy may để nuôi vụ VC tấn công Tết Mậu Thân 1968, Thủy tình nguyện gia nhập Không quân Việt nam Cộnghòa, được gửi sang Hoa kỳ học lái phi cơ trực thăng, và bị tử nạn khi bay tập. Một chị song sinhlấy chồng Mỹ rồi theo chồng về nước, và chị song sinh kia cũng sang Hoa kỳ sống. Ở Sài gòn, ÁiMỹ làm việc tại câu lạc bộ Sĩ quan Độc thân Rex của quân đội Hoa kỳ, gặp gỡ và yêu thươngJayden là sĩ quan Hải quân, và sang Hoa kỳ thành hôn với anh. Đầu năm 1975, hai vợ chồng vàcậu con trai sống ở Hạ Uy Di là nơi Jayden phục vụ. Còn lại bà mẹ và hai cô út ở Sài Ba năm 1975, khi tình hình trở nên tồi tệ và báo chí Hoa kỳ tiên đoán miền Nam sẽ rơivào tay CS, Jayden xin nghỉ phép 30 ngày lén về Sài gòn tìm cách đưa mẹ và em vợ ra khỏi Việtnam, mặc dù quân nhân Mỹ không được phép vào Việt nam nếu không có sự vụ lệnh. Trong lúcở Sài gòn Jayden loay hoay không có lối thoát, ở Hạ Uy Di Ái Mỹ đánh liều gọi điện thoại cho vịtướng tư lệnh Hạm đội Hoa kỳ tại Thái bình dương, nêu rõ chức vụ của cha trong MTDTGPMN,trình bày nguy cơ chồng và mẹ và hai em đang gặp, và xin cứu giúp. Để đền đáp, nàng hứa sẽcộng tác với chính phủ Hoa kỳ nếu và khi cần đến. Nhờ vậy, Jayden được tòa Đại sứ Hoa kỳ ởSài gòn cung cấp phương tiện trở về, và cuối tháng Tư bà mẹ và hai cô em được di tản bằngmáy bay ra khỏi nước. Và Ái Mỹ trở thành điệp viên hai tháng sau, nhân đọc bản tin trên tờ Japan Times cho biết đầu tháng Tám ông Sáng đạidiện chính phủ MTDTGPMN tham dự hội nghị quốc tế chống bom nguyên tử và khinh khí tạiĐông Kinh, Ái Mỹ cùng đứa con trai năm tuổi bay sang Nhật gặp cha. Sau 21 năm xa cách, haicha con vȁn thương yêu nhau, nhưng nàng không che dấu lòng thù ghét VC tàn bạo dã man vàông nhất quyết cho rằng Mỹ đã giết Thủy để trả thù ông. Ông buồn rầu,"Ba không thích cãi vã và không hề muốn thay đổi ý kiến của con.”Ông Sáng nhờ Ái Mỹ đưa mẹ sang Pháp để ông gặp và rước về Việt nam sống quãng đời còn lạibên ông. Nàng vâng lời chạy giấy tờ đưa mẹ sang Ba Lê gặp cha. Trong hơn một tuần bênnhau, ông bà Sáng cùng nhau nhắc lại những kỷ niệm êm đẹp ngày xưa. Khi nói chuyện theochàng về dinh, bà cười cười hỏi,“Tui về Sài gòn mấy thằng cán ngố nó làm gì tui, anh biết không?”“Sao em dùng danh từ không đẹp đẽ gì cả vậy?” ông chau mày nhưng gượng trả lời, “Emvề thì mấy ảnh sẽ mời em lên nói chuyện, chắc là biểu đi học tập ít ngày.”“Trong Nam tui chỉ có danh từ đó để kêu họ. Tui khôn hơn tụi cán ngố, không làm gì ácđộc như anh Ba Duȁn của anh, và thương nước thương nòi hơn bác Hồ của anh, tui có tội gì vàai có quyền dạy tui học với tập?” bà nhìn thẳng vào mắt ông; “anh Ba Duẩn” là Lê Duȁn tổng bíthư của đảng CS quyền hành cao nhất nước.“Em bỏ nước ra đi khi toàn dân chào mừng cách mạng, em lại cho con lấy chồng Mỹ,”ông hạch tội là ước mơ đoàn tụ của ông bà thành mây khói. Trong chuyến đi Ba Lê đó, Ái Mỹ có cơ hộigặp gỡ và thân cận với Phái bộ Ngoại giao MTDTGPMN và tòa Đại sứ CSBV. Họ chiêu mộ nànglàm việc cho Hà nội bằng cách về Mỹ vận động dư luận quần chúng đòi chính phủ Hoa kỳ bồithường chiến tranh và mong muốn Jayden “tiếp tay nhạc gia” bằng cách đánh cắp tài liệu chiếnlược của Hải quân Hoa kỳ. Theo chỉ thị của CIA, Ái Mỹ và Jayden dọn nhà sang Hoa Thịnh Đốn,và nàng giữ vai trò điệp viên nhị trùng. Nàng cũng lên Nữu Ước thăm viếng ông Thơ ở LHQ làbạn cha một công ty xuất nhập cảng đồ sứ làm bình phong, Ái Mỹ bay sang Ba Lê thường xuyên vàđược các viên chức VC đưa đi tham dự hoạt động của hội Người Việt Đoàn kết và những nhómthân Cộng khác tại Pháp. Họ trao tài liệu cho nàng phổ biến ở Hoa kỳ và ra lệnh cho nàng tiếpxúc với các nhóm thân Cộng và điệp viên thuộc mạng lưới tình báo VC khắp Hoa đây vai trò điệp viên của Ái Mỹ trở nên phức tạp. Theo luật pháp Hoa kỳ, CIA chỉ hoạt độngở ngoại quốc, nhiệm vụ phản gián ở quốc nội do FBI đảm trách, và hai cơ quan hoàn toàn độclập với nhau. Nhất định hoàn thành sứ mạng chống Cộng, nàng cứng rắn yêu cầu giám đốc CIAvà FBI đặc cách cho phép nàng làm việc cho cả hai cơ quan. Được chấp thuận, nàng trở thànhkẻ đưa tin và chuyển tài liệu “đắc lực” cho VC, ở Hoa kỳ và từ Hoa kỳ sang Âu châu. Trước khichuyển tài liệu tới người nhận, Ái Mỹ giao cho CIA và FBI chụp hình; toán thông dịch của bácKiệt cấp tốc dịch văn bản Việt ngữ ra Anh ngữ để ứng phó với việc bất sinh viên du học Dũng có tên Mỹ Daniel là nhân viên tình báo VC quan trọng ở Hoa ThịnhĐốn. Cha anh từng là luật sư nổi tiếng ở Việt nam và thời Đệ nhị Cộng hòa ra ứng cử tổngthống. Nhờ Ái Mỹ chỉ lối, FBI bố trí bắt quả tang nhân viên cao cấp bộ Ngoại giao Richard trộmtài liệu mật giao tận tay Daniel. Đường dây nhận tài liệu gồm cả Đại sứ Thơ ở Sáu năm 1977, Jayden thuyên chuyển sang bộ Tư lệnh Hải quân Hoa kỳ ở Âu châu, và vợchồng Ái Mỹ dọn nhà sang Luân Đôn. Đồng thời, FBI định truy tố Daniel và Richard ra tòa về tộivi phạm an ninh quốc gia và cần nàng làm nhân chứng then chốt để buộc tội. Mặc dù CIA khôngđồng ý vì như thế nàng sẽ phải xuất đầu lộ diện và họ sẽ mất đi một asset điệp viên quý báu,nàng quyết định làm nhân chứng với điều kiện FBI và CIA cho nàng cơ hội cuối cùng giúp anhthoát khỏi Việt nam và thuyết phục cha từ nhiệm ra ngoại quốc sống với gia đình. CIA tặng10,000 đô la cho Ngô tìm đường vượt vai trò điệp viên, Ái Mỹ quen thân với ông Thơ và đại sứ VC tại Pháp. Lấy lý do mẹ đangđau nặng, nàng khẩn cầu hai người này can thiệp và đồng thời viết thư thỉnh nguyện lên LêDuȁn và bộ trưởng ngoại giao VC xin cho ông Sáng được phép xuất ngoại gặp vợ ở Luân tuần trước lễ Giáng sinh, ông Sáng bay sang Luân đôn. Ông gượng vui với vợ và con cháu,nhưng rất dè dặt và sợ bị bắt cóc khi nàng khuyên ông hồi hưu sống với bà. Nỗ lực khuyên chavề với mẹ thất bại, khi chia tay nàng rụt rè hỏi cha,“Nếu con công khai chống chính phủ Cộng sản, họ sẽ làm gì ba?”“Con là con, ba là ba; ba không chịu trách nhiệm về hành động của con,” ông lạnh lùngtrả kịch gia đình này là cuộc xung đột giữa ý thức hệ và tình thương. Nhưng lối thương yêucủa người chồng và cha không thể ngửi được. Ai đời bỏ luống vợ con sống chết mặc bay suốt21 năm trời, khi gặp lại muốn đón vợ về chung sống thì lại đòi bà phải “đi học tập,” tức là ở tùđể . . . hối tội. Mẹ, Việt Cộng có khác!Nguyễn Ngọc HoaNgày 15 tháng Chín, 2021Tấm Gương Hiếu ThảoCuối tuần, tôi và Quỳnh Châu ẵm Mạc đi thăm và chào từ biệt bác Hòa vì gia đình bác sắp “xuôivề Nam” dọn xuống Houston thuộc tiểu bang Texas. Trước là đệ nhất tham vụ tòa Đại sứ Việtnam Cộng hòa “VNCH” tại Trung hoa Dân quốc Đài Loan, bác làm việc cho nha Chức nghiệpNorth Dakota giúp dân tỵ nạn tìm việc làm hơn hai năm qua và được cộng đồng tỵ nạn nhỏ béBismarck - Mandan kính nể và thường đến hỏi ý kiến. Bác hay than người Việt mình quá ư . . .hồn nhiên, gặp ai cũng hăm hở hỏi cho kỳ được, “Làm một giờ mấy đồng?” hay “Một tháng lãnhbao nhiêu tiền?” không cần biết đó là điều cấm kỵ đối với người Mỹ. Nay khế ước làm việc hếthạn, bác tìm được cơ hội mới ở xứ cao bồi dựng biển “Don’t mess with Texas” Đừng giỡn mặtvới Texas/Đừng làm bẩn Texas trên xa lộ để nhắc nhở du khách đừng xả chúng tôi đến, bác Hòa đang có khách ở xa đến thăm. Người đàn ông ngồi trong phòngkhách trạc ngũ tuần, vẻ mặt nghiêm trang, và được bác kính cẩn nghe chuyện. Chào hai ngườixong, chúng tôi rút qua phòng ăn, bác gái đang tiếp bà khách là vợ ông kia và cô con gái mườitám, mười chín tuổi tên Ngọc Cơ. Cô thiếu nữ xinh xắn nhìn chúng tôi nhưng không chào, tiếptục cười nói huyên thiên, và kiêu hãnh kể lể về gia đình thượng lưu của Bích, cha Ngọc Cơ, trước là sứ thần của bộ Ngoại giao VNCH. “Sứ thần” là ngạch công chứccao nhất của bộ Ngoại giao lương bổng và quyền lợi ngang hàng với đại sứ. Cô lớn lên trongthời gian ông phục vụ ở Trung Đông, học trường quốc tế dành cho con cái ngoại giao đoàn, vàhọc bằng Anh ngữ nên cô tự hào mình nói tiếng Anh giỏi như người Anh – nghĩa là hơn xa dântỵ nạn như tôi. Gia đình cô định cư ở Fargo là thành phố lớn nhất của North Dakota cáchBismarck 200 dặm Anh về hướng đông và mở tiệm ăn Việt nam lấy tên “Nine Dragons” CửuLong. Ông Bích dạy môn Bang giao Quốc tế ở North Dakota State University NDSU với tưcách giáo sư thỉnh giảng hay “adjunct professor” là giáo sư dạy giờ, được trả tiền theo từng tamhay lục cá nguyệt, và ngoài ra không giữ chức vụ gì ở đại học. Ngọc Cơ đang học năm đầungành quản trị xí nghiệp ở bác Hòa gái vào nhà bếp lấy thêm bánh trái mời khách, bác trai đưa ông Bích sang giớithiệu,“Anh Ba Hoa và cô Quỳnh Châu, đây là anh Bích bạn đồng sự lâu năm của tôi ở bộ Ngoạigiao. Anh từng giữ chức vụ quan trọng ở ngoại quốc và gần đây nhất về Sài gòn làm phát ngônviên của bộ.”“Ngày đó cháu thường xem trực tiếp truyền hình các buổi họp báo hàng ngày của bác vàanh Trực bạn cháu làm phát ngôn viên chính phủ,” theo thói quen, tôi mỉm cười nhận ngườiquen và lấy cảm tình.“Ông Trực đứng trên diễn đàn với tôi, nhưng chúng tôi không ngang hàng với nhau,” bộmặt khó đăm đăm không bày tỏ một chút thiện cảm, ông thản nhiên dội bát nước lạnh vào công chức già sống lâu lên lão làng này chắc hẳn đã bị anh Trực chơi cho đôi ba vố nhớ tôi là người thẳng thắn, không nể nang ai, và thấy chuyện chướng tai gai mắt là quạt vờ ngây thơ nói theo ông,“Dạ, bác nói đúng. Bác là phát ngôn viên bộ Ngoại giao, làm sao sánh với anh Trực làphát ngôn viên chính phủ, đại diện cho tổng thống và chính phủ?”“Hừ, tôi là nhà ngoại giao chuyên nghiệp, ông Trực chỉ là công chức thường mới vào làmcho phủ Tổng ủy Dân vận và Chiêu hồi rồi được bè đảng phe phái đưa đẩy nhau lên,” ông bựcbội thấy rõ.“Cháu hiểu rồi,” tôi được dịp cười to, “Thì ra bộ Ngoại giao đã cử lầm người! Vì tronglúc anh Trực thao thao đối chọi với bọn ký giả ngoại quốc soi mói đặt vấn đề và tìm cách hạnhục Việt nam Cộng hòa thì người phát ngôn viên kia’ đực mặt ngẩn tò te như đứa con nít lạcmẹ.”“Hừ, các anh toàn là cá mè một lứa, miệng lưỡi xoen xoét như nhau,” ông tức giận hốithúc vợ và con gái ra về; tôi biết mình sẽ không bao giờ được ăn giảm giá ở tiệm Nine ra anh Trực là anh của Bảo bạn thân của tôi thuở học trường kỹ sư; Bảo học Công chánh,tôi bên Điện. Ông cụ của hai người, bác Vân, là một nhà giáo đức độ; bác soạn sách giáo khoabậc tiểu học, chủ trương tạp chí thiếu nhi, và sáng tác đủ loại văn thơ. Bác xem tôi như ngườinhà, mỗi dịp giỗ tết của gia đình đều gọi tôi tới dự, ngay cả sau khi Bảo tốt nghiệp, đi Nhật duhọc, và học cao học ở Học viện Kỹ thuật Đông Kinh là viện đại học lớn nhất của thu năm 1967, anh Trực ở Úc về sau chuyến du học không thành công, ban ngày anh đihọc Đại học Văn khoa và dạy Anh văn ở trường Ziên Hồng của hai ông Lê Bá Kông và Lê BáKhanh, và ban đêm đi về khuya, anh sang ngủ nhà người bà con là nơi tôi ở trọ. Anh thích kểcho tôi nghe chuyện xứ Úc có những đàn đại thử chạy nhảy lăng quăng, hoạt động sinh viêntrường Văn khoa chẳng hạn như đêm đầu tiên ca sĩ Khánh Ly đi chân đất hát nhạc Trịnh CôngSơn ở sân trường, và các cuộc thảo luận văn nghệ với bạn ở quán La Pagode tức là quán “CáiChùa” nằm ở góc đường Lê Thánh Tôn và Tự Do là nơi gặp gỡ của giới ký giả và văn nghệ sĩ Sàigòn. Hàng đêm hai thằng thức khuya bàn cãi đủ thứ chuyện trên trời dưới đất, trở nên thânnhau, và thỉnh thoảng đi chơi vụ Việt Cộng tấn công Tết Mậu Thân 1968, anh Trực và các bạn trong Tổng hội Sinh viênSài gòn xung phong ra trận tuyến ở vùng Chợ Lớn, bắc loa kêu gọi cán binh Cộng sản buôngsúng đầu hàng trở về với chính nghĩa quốc gia. Phần lớn là những cậu bé mười bốn, mười lămtuổi, họ bị cưỡng bách phải chiếm cứ và tử thủ trên cao ốc hay trong nhà dân chúng. Có lẽ kinhnghiệm chiêu hồi đó đưa anh vào đường tham chính; sau khi tốt nghiệp cử nhân Anh văn, anhlàm việc cho phủ Tổng ủy Dân vận và Chiêu hồi và trở thành phát ngôn viên chính phủ nhiệm vụ quan trọng này, anh được dịp thi thố tài năng khiến ông Bích đứng bên cạnhthành cái bóng mờ ngơ ngáo. Tận dụng kiến thức rộng rãi, khả năng nói tiếng Anh lưu loát, vàtài ứng đối trôi chảy, anh hãnh diện bênh vực chính sách của VNCH trước dư luận thế Sáu năm 1969, khi một phóng viên ngoại quốc yêu cầu bình luận về cái “quốc gia” gọi là“Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt nam,” anh hùng hồn biện luận,Quốc gia là một thực thể pháp lý gồm ba yếu tố lãnh thổ, dân chúng, và chính phủ; bấtcứ sinh viên trường luật năm thứ nhất nào cũng biết. Cái gọi là “Cách mạng Lâm thờiCộng hòa Miền Nam” đó không có lãnh thổ, không có dân chúng, và chính phủ lèo tèodăm ba kẻ hữu danh vô thực, làm sao gọi là “quốc gia” được?Năm 1974, anh chuyển sang làm việc tại tòa Đại sứ VNCH tại Anh, và tháng Sáu năm 1975 cùnggia đình sang tỵ nạn ở Toronto, Gia Nã Đại.* * *Bác Vân có sáu người con. Con đầu là bà chị lớn, rồi đến anh Trực và Bảo, một em trai và mộtem gái kế tiếp, và cậu út Đằng là sinh viên trường Đại học Khoa học Kỹ thuật Minh Đức. Tôikính yêu bác nhất ở chỗ bác là người cha lý tưởng, chăm lo cho con từng li từng tí, theo dõi nhucầu của mỗi đứa ở từng lứa tuổi và cung ứng thích hợp, và cố gắng tạo điều kiện cho con thànhcông trên đường học vấn. Giá mà cha quan tâm đến tôi bằng một phần trăm bác Vân lo chocon bác, tôi cũng đủ mãn nguyện suốt đời, sung sướng không biết để đâu cho nữa, bác Vân là người con có hiếu. Gia đình bác di cư từ ngoài Bắc vào gồm cả cụ nội mẹbác và cụ ngoại mẹ bác gái. Hai cụ ở trong nhà và được bác tận tình chăm sóc. Cụ nội mắtlòa không trông thấy gì, nhưng lúc nào cũng khăn nhung vấn tóc quanh đầu nghiêm chỉnh. Cụngoại dáng đi hơi gù nhưng mắt còn tinh tường và hay cười với miệng móm mém nhai thấy hai cụ âu yếm gọi bác Vân là “anh giáo” và cách bác cung kính đối xử với hai cụ, tôinghĩ các gương hiếu thảo trong Nhị Thập Tứ Hiếu của Lý văn Phức 1785 - 1844 học thời trunghọc có lẽ chỉ ngang hàng với bác là 1974, hầu hết các con bác Vân đã ở ngoại quốc. Anh Trực và vợ con ở Luân Đôn, vợ chồngBảo du học ở Đông Kinh, hai người em kế du học ở Gia Nã Đại từ một số năm trước, và chỉ cònlại Đằng và bà chị lớn ở Sài gòn. Chị lập gia đình với một bác sĩ quân y và có ba đứa con. ThángTư năm 1975, khi các cơ quan Hoa kỳ di tản nhân viên người Việt bằng máy bay, anh chị dànxếp cho gia đình mình và Đằng bay ra khỏi nước, nhưng hai bác quyết định ở lại chờ xem tìnhhình và chỉ ra đi vào giờ phút cuối. Một phần vì không thể di tản hai cụ già yếu đi đứng khókhăn, một phần tiếc nuối cơ nghiệp gầy dựng suốt 21 năm qua.“Giờ phút cuối” đến sáng ngày 30 tháng Tư với lời tuyên bố đầu hàng vô điều kiện của vị tổngthống lâm thời, bác Vân hoảng hốt dìu bác gái chạy ra bến tàu Sài gòn. Khắp thương khẩu chỉcòn lại mỗi một thương thuyền Viễn Đông, hai bác chen vào làn sóng người leo lên tàu. Mộtgiờ chiều, Viễn Đông nhổ neo rời bến, nhưng chưa ra khỏi sông Sài gòn thì bị trục trặc máy mócrồi mắc cạn. Nhờ chiếc tàu giòng dùng để kéo xà-lan trong sông và tàu Hải quân giúp đỡ, ViễnĐông được kéo ra khỏi cạn và sáng hôm sau ra tới cửa biển Vũng tiếng đồng hồ sau khi Viễn Đông rời bến, máy tàu và máy đèn đều tê liệt, nước tràn vàophòng máy, và thuyền trưởng gửi tín hiệu SOS trên băng tần báo hiệu lâm nguy quốc tế. Trưangày mồng 2 tháng Năm, nước tràn vào khoang và tàu chìm từ từ. May thay, cứu tinh xuất hiện– tàu vận tải Đan Mạch Clara Maersk đáp lại tiếng kêu cầu cứu – trước khi Viễn Đông và gầnbốn ngàn người tỵ nạn vùi thân dưới đáy biển. Clara Maersk đánh điện xin đưa hải khách đượccứu vớt lên Hương Cảng, nhưng chính quyền địa phương từ chối. Sau hai ngày nằm lo lắng trêntàu, người tỵ nạn được Nữ hoàng Elizabeth Đệ nhị nước Anh lúc ấy đang kinh lý Hương Cảngđặc cách cho phép nhập chuyến đi hãi hùng, bác Vân viết thư từ trại tỵ nạn Cửu Long báo tin cho các con biết đã rakhỏi nước an toàn và sau đó xin nhập cư Gia Nã Đại. Gia đình bác lại sum họp ở Toronto. AnhTrực từ Anh sang, Bảo từ Nhật sang, hai người con đã ở Gia Nã Đại từ trước, và Đằng di tảnbằng máy bay sang Mỹ trước rồi mới đến Toronto. Gia đình chị lớn định cư ở Hoa ở Gia Nã Đại, bác Vân luôn lo lắng và nhớ nhung hai bà mẹ già cực khổ đau yếu ở Sài gòn,không một phút nguôi ngoai. Ngay sau khi ổn định nơi ăn chốn ở, bác liên tiếp làm đơn thỉnhcầu Thủ tướng Pierre Trudeau can thiệp để Việt Cộng cho phép hai cụ được xuất ngoại và xin bộNhân lực và Di trú cấp chiếu khán cho hai cụ nhập cư Gia Nã Đại. Khi mọi cách gửi đơn thỉnhnguyện theo thủ tục thông thường cạn kiệt mà không đi tới đâu, bác Vân quyết định “xuốngđường.” Toàn gia tộc và bằng hữu kéo nhau lên thủ đô Ottawa biểu tình, ủng hộ hai bác ngồixe lăn tuyệt thực ở công trường trước văn phòng thủ tướng; văn phòng này nằm trong tòa nhànhìn sang ngọn đồi quốc hội. Anh Trực là phát ngôn viên bày tỏ nguyện vọng gia đình đến cáccơ quan truyền thông khắp biểu tình của bác Vân thành công. Cuối ngày, đại diện thủ tướng ra nhận thỉnh nguyệnthư và hứa sẽ giải quyết thỏa đáng. Hai cụ được phép xuất ngoại và nhập cư theo chương trìnhđoàn tụ gia đình cho người tỵ nạn Việt nam vừa được chính phủ Gia Nã Đại thành lập. Hà nộichấp thuận chương trình này với cả hai tay, không phải vì nhân đạo mà vì, để đánh đổi, Gia NãĐại đề nghị kế hoạch viện trợ kinh tế đáng Vân tiếp tục phụng dưỡng mẹ già cho đến khi hai cụ nằm xuống. Tấm gương hiếu thảo nhưcâu ca daoĐem về phụng dưỡng mẹ cha,Muôn đời tiếng hiếu người ta còn Ngọc HoaNgày 29 tháng Chín, 2021Như Trong Niềm NhớBiết tôi là người “rẻ tiền” tức là kẹo kéo hay hà tiện, Quỳnh Châu giật thót người khi tôi đề nghịđi ăn tiệm steak house Long Horn có món bò bít-tết ngon số một và “chém” cũng rất . . . cười nửa miệng,“Hôm nay chồng định làm công tử Bạc Liêu,’ bộ kiếm ra mấy cái coupon của Long Hornhả?” “Coupon” là phiếu mua hàng giảm giá mà cửa hàng hay tiệm ăn phân phát để khuyến mãi.“Trời ơi là Trời,” tôi vờ than thở, “Lâu lâu tui mới có can đảm mở hầu bao đãi cô vợ dễthương ăn ngon một bữa mà lại bị chế nhạo; thiệt mất mặt anh hùng!”“Thôi em biết rồi. Chiều Chủ Nhật tới anh đi họp xa, em và cu Mạc ở nhà lui cui đến bangày nên chồng thương chồng đền bù thiệt hại,” nàng cười thật nửa năm nay tôi được Công ty Tiện ích Montana-Dakota MDU cử vào nhóm Đặc nhiệmKhảo cứu Hệ thống Truyền Điện gọi tắt là TSTF thuộc Tổ hợp Điện lực Vùng Trung-Lục địa gọi tắtlà MAPP mà MDU là hội viên. TSTF gồm kỹ sư do sáu công ty hội viên đề cử vào, có nhiệm vụkhảo cứu tìm khuyết điểm có thể gây ra cúp điện hàng loạt và rộng lớn, và đề nghị phương cáchcứu vãn. Tuy là người ít kinh nghiệm trong ngành điện lực nhất trong nhóm, nhờ kiến thức sâurộng về lý thuyết mạch điện, tôi được các bạn kính nể và tôn trọng ý khoảng hai tháng TSTF nhóm họp một lần tại trụ sở MAPP ở trung tâm thành phốMinneapolis thuộc tiểu bang Minnesota cách Bismarck hơn một tiếng đồng hồ bay. Tôi bayxuống Minneapolis chiều hôm trước, vào khách sạn, và đi ăn tối với các bạn trong nhóm. Sauhai ngày rưỡi thảo luận về cuộc khảo cứu, trưa ngày thứ ba ăn cơm trưa chung với TSTF xong,tôi kêu xe ra phi trường bay về; Quỳnh Châu lái xe ra phi trường đón. Nhưng lần này giờ giấcchuyến về thay đổi, tôi đợi ăn uống xong mới báo cho nàng biết,“Chiều thứ Tư em khỏi ra phi trường đón anh. Sau khi ăn cơm trưa, anh ra phi trườngnhưng không bay về ngay mà gặp lại một người bạn cũ, ăn cơm tối với bạn, và về bằng chuyếnbay khuya rồi sẽ kêu tắc-xi về nhà.”“Anh lo cho công việc trước, mẹ con em dễ mà,” nàng vô tư trấn an tôi.“Người bạn cũ là Bội Hằng anh gặp lần cuối trước Tết Canh Thân 1970, sau đó biệt vôâm tín cho đến sáng nay,” tôi thu nhặt chuyện xưa nằm sâu trong ký ức và kể cho nàng tôi học đệ tam lớp 10 trường Quốc Học Huế, Bội Hằng là cô bạn hàng xóm lớn hơn tôimột tuổi và học đệ tứ lớp 9 trường Đồng Khánh. Nàng là con thứ hai của bác Luân, kế chị BộiNgọc là người yêu của anh Quang. Cuộc hôn nhân tương lai của anh chị, mẹ và bác gái đã y ướcvới nhau. Tôi và Bội Hằng lớn lên kề bên nhau, gần gũi gắn bó, tình cảm nảy nở tự nhiên, vàđầu óc thơ ngây của hai đứa tin rằng mình sẽ sống bên nhau suốt Luân là công chức làm Đại diện Hành chánh ở Nam Đông trên vùng thượng du cách Huếchừng 50 cây số về hướng tây nam. Trong tuần bác ở Nam Đông làm việc và cuối tuần về Huếvới gia đình. Đôi khi bận công việc bác không về thì bác gái hay hai chị em Bội Hằng lên đó nấunướng và dọn dẹp phòng ốc cho bác. Chiều thứ Sáu sau Tết Quý Mão 1963, bác Luân chongười đón hai cô con gái lên Nam Đông ở lại cuối tuần. Đùng một cái, tối thứ Bảy, Việt Cộng tấncông văn phòng hành chánh và đồn lính canh phòng, bác Luân bị sát hại, và hai chị em bị bắt đimất tích. Cả vũ trụ sụp đổ trong lòng năm sau, đột nhiên vào một buổi sáng cuối năm âm lịch trước Tết Kỷ Dậu 1970, tôi “gặp”lại Bội Hằng. Là sinh viên đệ tứ niên trường Cao đẳng Điện học, tôi đi với vài người bạn đếntrường nữ trung học Gia Long xin vào các lớp đệ nhị và đệ nhất lớp 11 và 12 bán đặc san xuâncủa sinh viên trường Điện và mời các cô dự buổi văn nghệ tất niên sắp tới của chúng tôi. Đếnlớp cuối cùng, tôi bàng hoàng khi chợt thấy nét mặt duyên dáng, đôi mắt đen láy, và mái tócxõa ngang vai của Bội Hằng ở dãy bàn cuối. Tôi lặng lẽ đứng trước cổng học sinh ra vào đợinàng ra, nhưng đến chiều vȁn không thấy bóng dáng của hôm ấy, tôi tới nhà cậu Há em chú bác của mẹ hỏi ý kiến. Trước ở Huế, cậu mới đưa giađình vào Sài gòn vài năm trước để nhận chức vụ quan trọng trong bộ Thông tin và Chiêu suy đoán Bội Hằng là đặc công Việt Cộng gài nằm vùng trong giới học sinh và hứa sẽ trìnhvụ này cho bác Cẩn bạn cha xử trí. Bác là sĩ quan cấp tướng giữ một chức vụ quan trọng nhấtcủa bộ Nội văn nghệ của chúng tôi thành công trên mức dự đoán. Cuối buổi, tôi nhận được thư đưatay mang nét chữ nắn nót mềm mại quen thuộc của Bội Hằng hẹn gặp ở nhà hàng Quốc Tế trênlầu hai thương xá Tam Đa ở đại lộ Lê Lợi. Đến ngày giờ hẹn, Bội Hằng chờ tôi ở chiếc bàn ở góctrong cùng,“Mấy năm qua mình nhớ nhà và nhớ Ba Hoa lắm, nhưng không thể liên lạc với bất cứ bị ép buộc làm những điều ác đức mà đành nhắm mắt tuân theo để giữ tính mạng. Ngȁunhiên mình gặp Ba Hoa như gặp cứu tinh.”“Răng Bội Hằng không ra đầu thú? Chính phủ có chương trình chiêu hồi.”“Mình biết quá nhiều chuyện của họ; chỉ cần một chút nghi ngờ, họ giết mình để bịtmiệng liền. Mình cần phe bên ni bảo vệ khi ra quy phục. Ba Hoa xin cậu Há giúp đỡ mình giùm,cậu cầm đầu phần việc chiêu hồi nớ.”Cậu Há chấp thuận lời yêu cầu, Bội Hằng ra đầu thú và được tiếp nhận an toàn. Sau đó cậu chobiết,“Nhờ con nớ cung cấp tin tức, bên mình tóm trọn ổ mạng lưới đặc công Việt Cộng vàchận đứng kế hoạch khủng bố đại quy mô của tụi hắn. Nếu không, hàng trăm dân lành sẽ bịthiệt mạng trong mấy ngày tết.”“Chừ Bội Hằng ở chỗ mô?” tôi lo lắng hỏi.“Anh Cẩn ra lệnh, để được hưởng quy chế hồi chánh viên và khỏi bị truy cứu những tộiác trong quá khứ, hắn phải cam kết không tìm cách gặp hay liên lạc với mi. Hắn sẽ được tự dovới tên tuổi, căn cước, và đời sống mới.”Đó là ở Sài gòn tám năm về trước. Sáng nay ở sở, trong lúc đang sửa soạn cho chuyến đi họpxa, tôi nhận được cú điện thoại bất ngờ, thật bất ngờ,“Ba Hoa ơi, mình là Bội Hằng đây . . .”“Bội Hằng đang ở đâu? Lâu nay làm gì?” tôi run run hỏi.“Mình sẽ có thì giờ nói chuyện với nhau nhiều nếu thứ Tư tới họp xong, Ba Hoa ra phitrường như thường lệ và lên phòng hội 3A trên lầu gặp mình; phòng hội giữ chỗ dưới tênBernadette.”* * *Tôi vừa bước vào phòng hội, Bội Hằng nhào tới ôm chặt lấy tôi, mặt đȁm nước mắt. Nàng lấykhăn chặm nước mắt rồi giới thiệu với tôi một người Mỹ trung niên ăn mặc chỉnh tề tên làAlvin. Sau đôi ba câu chào hỏi xã giao, Alvin vào đề,“Chúng tôi làm việc cho cơ quan an ninh liên bang. Bernadette biết rõ về anh và nói anhlà người tài năng và đáng tin cậy nhất trong tổ hợp MAPP.”“Có lẽ tôi không làm được gì hữu ích cho các ông đâu,” tôi dè dặt nói.“Anh hãy nghe tôi nói hết, sau đó trả lời cũng không muộn,” ông đưa tay ngăn tôi vàtrình bày vấn đề họ phải đương cuộc khủng hoảng năng lượng đầu thập niên 1970, các công ty điện lực thi nhau xây nhàmáy phát điện chạy bằng than non ở North Dakota để xuất cảng điện qua các tiểu bang non là loại than đá màu nâu nằm trên mặt đất, dễ khai thác, rẻ tiền, nhưng khi đốt phát ranhiệt lượng thấp. Để tải điện từ nhà máy đến nơi tiêu thụ, người ta xây dây truyền điện có điệnthế rất cao chằng chịt trong vùng hoạt động của tổ hợp MAPP, trong đó có đường dây mộtchiều hay direct current, DC điện thế 800 kV kilovolt, tức là một ngàn volt; đó là điện thếmột chiều cao nhất thế giới hiện dân chủ đất cực lực phản đối những đường dây truyền điện đó, nhưng bị tòa án bắt buộcphải bán đường đất cho đường dây đi qua. Theo hiến pháp Hoa kỳ, chính phủ hay công ty tư cóquyền trưng mua đất đai – gọi là “eminent domain” – để thực hiện lợi ích chung, miễn là đềnbù thỏa đáng. Chủ đất phản kháng bằng cách ngăn cản công tác xây cất bằng võ lực và phá hoạikhi đường dây xây xong. Thí dụ, trong hai năm đầu tiên đường dây truyền điện DC 800 kV hoạtđộng, chủ đất kéo sập 14 trụ điện và bắn vỡ hơn 10,000 sứ cách điện. Bắn hư sứ cách điện làcách phá hoại đơn giản nhưng hiệu nghiệm nhất. Một khi sứ cách điện bị thiệt hại, dù rất nhỏ,hệ thống bảo vệ sẽ tự động ngắt điện, và đường dây không còn hoạt Alvin cất cao giọng,“Chủ đất tổ chức thành nhóm, phối hợp việc phá hoại, và cố làm gián đoạn nguồn cungcấp điện cho miền Trung Tây Hoa kỳ. Chúng tôi sợ rằng các thế lực ngoại bang sẽ lợi dụng thúcđẩy cuộc tấn công lên bề thế rộng lớn hơn và làm tê liệt nền kinh tế quốc gia.”“Tôi là kỹ sư kế hoạch và nhóm TSTF có nhiệm vụ khảo cứu kỹ thuật chứ không liên quanđến các tổ chức phá hoại,” tôi thờ ơ nhún vai.“Nhưng chúng tôi biết anh là người vạch ra phương pháp nhận diện các nút tới hạncritical node mà nếu gỡ ra’ sẽ làm cho hệ thống điện của tổ hợp MAPP và các hệ thống lâncận sụp đổ hoàn toàn. Biến cố đó sẽ là một tai họa lớn lao vì phục hồi điện đầy đủ cho dânchúng có thể mất đến vài ba tháng.” “Gỡ ra” take out là bắn phá sao cho các đường dây nốivào nút không còn hoạt động.“Ông có bằng chứng gì cho thấy sự kiện đó có thể xảy ra?” tôi hỏi gặng.“Gần đây các nhóm phản kháng rỉ tai nhau kế sách của một người nào đó,Cho tôi ba chiếc trực thăng, sáu người bắn giỏi, và một buổi chiều hè thật nóngnực, tôi sẽ gỡ ra’ tất cả các nút tới hạn. Trong vòng nửa ngày, nước Mỹ sẽ trởvề cuối thế kỷ thứ 18, lúc thế giới chưa có điện.”Tôi lặng người đi. Chính tai tôi đã nghe lời khoe khoang ấy từ miệng anh Thomas, kỹ sư của tổhợp MAPP giữ nhiệm vụ thư ký cho nhóm TSTF. Gia đình anh làm ruộng ở bắc Minnesota; anhthích săn bắn và có tiếng là tay thiện xạ. Tôi suy nghĩ một lát rồi chép miệng,“Ngăn ngừa phá hoại là nhiệm vụ của nhân viên công lực. Cao tay lắm, tôi chỉ có thểgiúp các ông bằng cách báo trước ngày giờ và địa điểm mà nếu vạn nhất, ai đó dám thực hiệnviệc không thể làm.”“Vậy thì còn gì bằng, Ba Hoa. Anh làm ơn liên lạc thẳng với tôi,” Alvin đưa cho tôi tấmdanh thiếp.“Thứ nhất, các ông sẽ biết trước danh sách và địa điểm các nút tới hạn ngay sau khi cókết quả khảo cứu sơ khởi, không cần đợi phúc trình chính thức của MAPP. Thứ hai, các nútđược nhận diện chỉ thực sự trở thành tới hạn’ vào thời điểm mức tiêu thụ điện lên cao nhất,tức là lúc máy điều hòa không khí chạy xả giàn vào ngày nóng nhất trong năm. Chúng tôi dựđoán và chuẩn bị cho giờ cao điểm’ trước khoảng một tuần lễ, hy vọng các ông sẽ có đủ thì giờứng phó.”Buổi họp kết thúc và Alvin ra đi, chỉ còn lại tôi và Bội Hằng. Nàng nắm tay tôi thủ thỉ,“Sau ngày mình hồi chánh, bác Cẩn của Ba Hoa giới thiệu mình làm việc cho sở Trungương Tình báo Hoa kỳ CIA thu thập tin tức các nhóm Việt Cộng nằm vùng. Sang đây, mình tiếptục theo dõi bọn gián điệp Cộng sản trà trộn trong các cộng đồng tỵ nạn. Ông Alvin là nhân viêncục Điều tra Liên bang FBI, mình chỉ hợp tác trong việc mời Ba Hoa đến gặp họ.”“Làm sao Bội Hằng biết tui mà liên lạc?”“Hồi đó đến giờ, có lúc nào mà mình không biết tin tức của Ba Hoa? Khi mô mình cũngsung sướng thấy người mình yêu thương sống trong hạnh phúc. Khi xửa khi xưa, Ba Hoa chépcho mình câu nói của triết gia Gottfried Wilhelm Leibniz, Yêu chính là tìm hạnh phúc của mìnhtrong hạnh phúc của kẻ khác.’ Nhớ không?”Chúng tôi để hành lý ở phi trường, ra ngoài vào thương xá đi lang thang, sống lại kỷ niệm củamột thời niên thiếu, và tạm quên nỗi cay đắng của quãng đời vừa qua. Bội Hằng hiền hòa và dễthương như trong niềm Ngọc HoaNgày 13 tháng Mười, 2021Người Bơi tới Thiên ĐườngHơn hai năm nay, dân tỵ nạn người Việt sinh sống ở Hoa kỳ với tư cách “parolee” là ngoại kiềutạm dung, được phép làm việc, và nhận trợ cấp của chính phủ. Ngày 28 tháng Mười 1977,Quốc hội Hoa kỳ thông qua đạo luật cho phép “tạo hồ sơ đăng bạ ngoại kiều thường trú” chodân tỵ nạn Đông Dương. Nhưng phải gần một năm sau luật mới được áp dụng cho đám dân tỵnạn tơ lơ mơ về pháp lý. Một hôm cuối tháng Tám 1978, ông Nielsen mục sư trưởng của nhàthờ Ba ngôi Lutheran bảo trợ gia đình tôi gọi tôi ở sở; ông vui vẻ nói đùa như mọi ngày,“Có một tin vui và một tin buồn, anh muốn nghe tin nào trước?”“Dạ bác nói tin vui trước,” biết ý ông, tôi cười xòa.“Tin vui là thứ Sáu tới anh sẽ được nghỉ làm mà vȁn lãnh lương. Tôi vừa nói chuyện vớisếp lớn của anh là ông phó tổng giám đốc công ty.”“Bác không cần làm vậy; nếu nhà thờ cần, cháu có thể xin nghỉ làm. Vậy tin buồn là gì?”“Anh phải làm thông dịch viên cho sở Di trú và Nhập tịch INS,” ông cười giòn giã, “Nhàthờ Ba ngôi đứng ra mời nhân viên INS từ Saint Paul tới đây để phỏng vấn và chấp thuận chongười tỵ nạn vào ngoại kiều thường trú.”Saint Paul, nơi đặt văn phòng INS gần nhất, là thủ phủ tiểu bang Minnesota. Đến ngày hẹn, tôiđến sớm để được phỏng vấn trước rồi thông dịch cho những người Việt khác. Trong nhóm dântỵ nạn có vài người Miên và Lào và ba anh em trai người Tàu, tôi không thể thông dịch cho họnên chỉ ngồi nghe lóm lý lịch. Mấy người Miên và Lào nói tiếng Anh lõm bõm, và người anh lớnngười Tàu nói tiếng Anh trôi chảy với giọng Hương Cảng có âm Tàu. Tên anh là Wo Ching Shiuviết theo lối Mỹ họ ở đằng sau, anh sinh cùng năm với tôi, và hai người em trai cùng tuổi vớiLâm và Trọng em đó, tôi quen với Wo. Anh mới mở nhà hàng Tàu đầu tiên ở Bismarck lấy tên “GoldenDragon” Kim Long, làm đầu bếp chính, và thuê một số người Việt làm bồi bàn trả tiền mặt. Tôivà Quỳnh Châu thường đến ăn nhà hàng anh, và khi vơi khách, anh ra ngồi nói chuyện. Dùngvốn liếng chữ Hán ăn đong còn sót lại từ thời sinh viên hay bò lên Đại học Văn khoa học ké lớpViệt Hán, tôi biết tên anh là Tiêu Thanh Vũ viết theo lối Á đông họ Tiêu [Shiu] đi trước, nhưnganh khoái tên Mỹ “Peter Shiu” hơn. Nói về họ “Tiêu,” tôi nhắc đến Tiêu Phong hay Kiều Phonglà một trong ba nhân vật chính trong Lục Mạch Thần Kiếm của Kim Dung, hai người kia là ĐoànDự và Hư Trúc. Peter ngưỡng mộ Tiêu Phong và xem ông là anh hùng xuất chúng nhất trongcác bộ tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung; do đó, tôi gọi anh là “Tiêu Đại hiệp” đọc theo tiếngViệt gần giống như cách phát âm tiếng Quảng Thanh Vũ sinh năm 1947, hai năm trước khi Trung Cộng cầm quyền ở Hoa lục, và lớn lên ởQuảng Châu thủ phủ tỉnh Quảng Đông. Từ nhỏ đến lớn anh sống dưới chính sách bạo tàn củaMao Trạch Đông, một tay đồ tể khát máu hàng đầu của nhân loại. Trước tiên, ông Mao phátđộng phong trào “cải cách ruộng đất,” tiêu diệt “địa chủ,” và cướp đoạt đất đai và tài sản củahọ. Mục tiêu của ông là triệt hạ 10 phần trăm dân số, nhưng đến năm 1953, hết sạch “địa chủ”nên ông đành bằng lòng với mức năm phần trăm. Dân số Hoa lục bấy giờ 580 triệu, và chỉ gần .. . 30 triệu người bị mất mạng mất của và gia đình tan đòn trời long đất lở kế tiếp của ông nông phu họ Mao chuyên ngủ với gái tân để hút tinhtúy đặng sống lâu là kế hoạch ngũ niên 1958 - 1962 gọi là đại dược tiến, tức là “bước nhảy vọtlớn.” Ông ngây ngô tin rằng chỉ cần khai thác sức lao động của 660 triệu nông dân năm 1958,Trung Cộng sẽ đạt tới địa vị cường quốc kinh tế mà không cần kiến thức kỹ thuật, tài nguyên, hạtầng cơ sở, hay các thứ mà bọn “tư bản giãy chết” cần dùng để phát triển kinh tế. Thí dụ, ôngra lệnh cho mỗi nhà phải lập một lò luyện kim tí hon ở sân sau, dùng than củi cây gỗ mót trongvườn ngoài đồng để nấu chảy đồng sắt hay kim loại vơ vét trong nhà ngoài ngõ, và luyện thànhkhối kim loại nộp cho chính phủ. Đại dược tiến làm đình trệ mọi sản xuất nông nghiệp và gây ranạn đói 1959 - 1961 khủng khiểp nhất trong lịch sử. Dân Hoa lục chết đói đếm không xuể, ướclượng đến 60 triệu, chưa kể ít nhất là một chục triệu người bị sát hại về tội “phản động, pháhoại” vì không thi hành đúng đường lối của đảng, bất hợp tác, không sản xuất đủ tiêu chuẩn, sự thất bại ê chề này, dân chúng oán khổ cùng cực, và ông Mao bị bọn đàn em chỉ trích. Ôngbèn đề ra phong trào bách hoa vận động với khẩu hiệu "Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng"khuyến khích mọi người phê bình và vạch ra sai lầm của đảng. Trong khi mọi người tề phóng“đua nở”, hăng hái phát tiết nỗi uất hận trong lòng, ông và bộ hạ cẩn thận ghi nhớ, không bỏsót một ai Ngón đòn “trăm hoa” là cái bȁy nhằm moi ra cho bằng hết những kẻ bất mãn haychống đối. Để củng cố quyền lực và tiêu diệt các “thành phần xét lại” là những kẻ bất đồng ýkiến, ông khởi xướng cuộc “cách mạng văn hóa” quỷ khốc thần sầu kéo dài đến khi ông mấtnăm 1976, trông cậy hoàn toàn vào các nhóm Hồng Vệ binh gồm sinh viên và dân quân tônsùng ông như thần thánh và chỉ nghe theo lệnh Vệ binh thao túng và đảo lộn xã hội Hoa lục từ trên xuống dưới, lục soát mọi cơ sở vănhóa và tôn giáo, và phá hủy vô số di tích lịch sử. Không những bắt giam hoặc lưu đày các viênchức cao cấp, chúng còn bức hại, sỉ nhục công khai, cầm tù, tra tấn, bắt lao động khổ sai, tịchthu tài sản, và xử tử hoặc ép phải tự tử những người chúng cho là "phần tử cánh hữu." DânHoa lục phải tôn thờ, học thuộc lòng, và tuân hành cuốn Hồng Bảo thư là cuốn sách nhỏ màu đỏtrích dȁn những câu nói phát ra từ . . . miệng thối của ông Mao. Ông Trời con của 930 triệu dânnăm 1976 vȁn giữ thói quen thời trai trẻ làm ruộng ở tỉnh Hồ Nam, buổi sáng uống nước tràvà nhai bã trà súc miệng, không thèm biết tới cái bàn chải đánh răng – sản phẩm của bọn “đếquốc tư bản.”“Cách mạng văn hóa” gây ra bạo động, hỗn loạn, và tổn thất không thể vãn hồi nên được mệnhdanh "mười năm hỗn loạn" hay " mười năm thảm họa." Tổng cộng trên 20 triệu người bị giết,tự sát, hay chịu thương tật, khoảng 50 triệu người bị đưa về nông thôn lao động cưỡng báchtrong nhiều năm, và hầu hết dân chúng thường xuyên đói ăn. Hàng chục triệu thanh niên tríthức thành thị bị gửi đi lao động ở thôn quê trong phong trào “tiến về nông thôn.” Trong 27năm bạo chúa Mao ngự trị ở Trung Nam Hải, mạng người dân không bằng cả giun dế. “TrungNam Hải” là tòa cung điện nguy nga của Hoàng thành Bắc Kinh dùng làm trụ sở trung ương củađảng và chính phủ Trung cạnh địa ngục Hoa lục và phía nam tỉnh Quảng Đông là bán đảo Hương Cảng nhỏ bé thuộcđịa của Anh. Biên giới thiên nhiên giữa Hoa lục và Hương Cảng là sông Thâm Quyến bề ngangnơi hẹp nhất không quá hai thước, từ bên này nhảy một bước là sang tới quốc gia kia. Consông chảy qua một eo đất hẹp giữa hai vùng biển Phía tây là vịnh Đại Bàng, và phía đông làvịnh Hậu Hải. Dân Hương Cảng sống no đủ sung túc và hưởng tự do dưới hệ thống luật phápcủa Anh nên bán đảo này là vùng đất hứa mà dân Hoa Lục ước mơ đặt chân tới. Từ lúc ôngMao lên ngôi chủ tịch đến ngày nay 1978, có hơn một triệu người liều mạng trốn đi bằng cáchbơi sang Hương Cảng, nhưng không tới một nửa tới được bờ tự sợ nhất khi bơi qua biển là bọn công an biên phòng Trung Cộng đêm ngày tuần tiễu bằngtàu nhỏ và trang bị đầy đủ súng ống và chó săn tìm người. Do đó người tìm tự do chỉ liều nhàoxuống biển bơi đi vào ban đêm. Họ bơi liên tục sáu đến mười tiếng đồng hồ, vượt qua tám đếnmười cây số trên mặt biển, và mất mạng dễ dàng do bị kiệt lực, dòng nước ngầm cuốn đi, haycá mập tấn công. Ít người bơi qua vịnh Hậu Hải vì làng chài Lưu Phù Sơn ở bờ nam nuôi hàutrên những tảng đá dưới đáy biển, bãi nuôi hàu chạy ra tận ngoài khơi. Khi đến gần, nếu khôngcực kỳ cẩn thận, có thể bị cạnh hàu sắc như dao cắt ngang tay chân như đến bờ nam là tới thiên đường. Dân địa phương chờ đón những kẻ vượt thoát với vòng taymở rộng, giúp họ lẩn tránh cảnh sát Hương Cảng, và đưa họ hội nhập vào cuộc sống mới trênbán đảo đông đúc này. Dù bị cảnh sát bắt cũng không có gì đáng sợ Chính quyền Hương Cảngkhông trả họ về Hoa lục mà đưa về làng quê làm việc chân tay giúp phát triển nền kinh tế thịtrường tự do của Hương Cảng. Họ sẽ được tự do, được trả lương tương xứng với việc làm, vànhất là không phải dối trá với mình và mọi người chung quanh để giữ tính là con đầu lòng trong một gia đình năm người con hai em gái kế tiếp và hai em trai cuốicùng. Từ nhỏ, Vũ học giỏi có tiếng, từ tiểu học đến trung học luôn luôn đứng đầu lớp. Năm1966, anh học năm thứ nhất đại học và mong trở thành khoa học gia hay kỹ sư. Nhưng rồi cuộc“cách mạng văn hóa” khởi động, Vũ và bạn bè bị gửi đi lao động ở nông trường tập thể cách xaQuảng Châu chừng 100 cây số. Sau năm năm cày ruộng và “học tập” được cho trở về, Vũ tậpluyện bơi lội và trù liệu kế hoạch ra đi. Làng Thẩm Quyến ở bờ bắc nhìn sang Hương Cảngkhông xa Quảng Châu mất bốn năm trời và ba chuyến “đi biển” Vũ mới đi thoát. Chuyến thứ nhất, Vũ đi với haingười bạn học cũ. Đến nửa đường, khoảng giữa vịnh Đại Bàng, thì bị tàu biên phòng bắt lại vàgiam tù bảy tháng. Ra tù, anh lại chuẩn bị chuyến đi tới. Lần thứ hai, anh đi với người yêu và côem gái kế. Trước khi ra khỏi hải phận Trung Cộng trên vịnh Đại Bàng, anh bị tàu tuần tiễu phátgiác và quyết định bơi một mình qua hướng khác để đánh lạc hướng công an và cho người yêuvà em gái có cơ hội thoát thân. Anh bị bắt lại và bị giam tù một năm, người yêu anh may mắnđến bờ nam, nhưng cô em kiệt lực xuôi tay vùi thân dưới đáy biển. Chuyến cuối cùng, Vũ và haingười em trai mạo hiểm bơi qua vịnh Hậu Hải có bãi nuôi hàu. Trước khi tới khu vực nguyhiểm, họ may mắn được ghe nhỏ của dân chài Lưu Phù Sơn đi thu hoạch hàu cứu lên và đưavào bờ. Hôm ấy là đêm mồng bốn tháng Năm cũng là ngày gần bốn ngàn người Việt di tản bằng tàu Viễn Đông được Nữ hoàng ElizabethĐệ nhị nước Anh đang kinh lý Hương Cảng đặc cách cho phép nhập cảnh với tư cách “hải kháchđược cứu vớt.” Tàu Viễn Đông rời bến cảng Sài gòn chiều ngày 30 tháng Tư, hôm sau bị hỏngmáy và chìm từ từ trên biển Đông, và được tàu vận tải Đan Mạch vớt. Nhờ đặc ân của Nữhoàng, ba anh em Vũ được chính thức nhập cảnh và đưa vào trại tỵ nạn Cửu Long tạm trú nhưdân tỵ nạn Việt nam.* * *Sau khi trở thành ngoại kiều thường trú, Peter bay về Hương Cảng làm đám cưới với người yêurồi làm thủ tục xin cho vợ nhập cư Hoa kỳ; một đêm năm năm trước hai người tưởng đã vĩnhviễn mất nhau. Trong thành phố Bismarck này, gia đình anh làm chủ ba nhà hàng GoldenDragon bán thức ăn Quảng Đông chính hiệu, nhà hàng có thực đơn vừa Mỹ vừa Tàu, và nhàhàng stir fry xào theo lối Mông Cổ xào thịt và rau cải trước mặt thực khách, trên lò nướng hìnhtròn lớn đặt giữa phòng. Mỗi lần gặp anh, tôi lại xuýt xoa khen,“’Tiêu Đại hiệp’ tài giỏi số một! Anh kinh doanh giỏi và làm chủ nhân ông, còn tôi suốtđời đi làm công cho người Mỹ.”“Anh lầm rồi, Ba Hoa. Giấc mơ trọn đời của tôi là làm kỹ sư như anh, anh may mắn hơntôi nhiều,” anh buồn bã lắc chưa bao giờ mất tự do hay bị loài quỷ đỏ đày đọa cùng tận như Peter và 930 triệu dân Hoalục. Xem ra, tôi may mắn hơn họ một tỉ Ngọc HoaNgày 27 tháng Mười, 2021Trời Cao Đất DàyTừ mùa xuân 1978, các bạn trong sở tôi thường lo lắng bàn bạc các vấn đề kinh tế và chính trịđương thời lạm phát phi mã, nhân công thất nghiệp trầm trọng, năng lượng khan hiếm, vàchính phủ Hoa kỳ yếu kém về đối nội cũng như đối ngoại. Sang mùa hè, nạn khủng hoảng nănglượng trở nên không chịu được Không những giá xăng tăng vùn vụt mà xăng dầu khan hiếm,các tiểu bang ra lệnh hạn chế lượng xăng mỗi người lái xe hơi có thể đổ. Một buổi sáng cuốimùa hè, tôi xuống câu lạc bộ ở lầu hai nghỉ giải lao và nghe bạn không tiếc lời đả kích vị tổngthống đương nhiệm thiếu khả năng lèo lái quốc gia như thường lệ. Từ bàn bên, anh bạn đồngsự cũ Gary ở sở Truyền Điện bước sang đặt tay lên vai tôi,“Ba Hoa, anh có lấy Bismarck Tribune dài hạn không?” Bismarck Tribune là báo hàngngày phát hành vào buổi sáng và giao tận nhà cho độc giả mua dài hạn.“Có chứ. Hồi sáng tôi ra ngoài lấy báo đem vào nhà, nhưng chưa có thì giờ đọc. Hômnay có tin tức gì lạ không?” tôi hỏi, hơi ngạc nhiên.“Barb vợ tôi dậy sớm đọc báo, thấy bài báo có thể anh muốn đọc, và cắt ra biểu tôi đưacho anh,” Gary chìa ra cái bìa giấy gấp màu bàn giấy tôi mở bìa giấy gấp lấy bài báo ra và thấy ngay hình chụp một cô bé chừng tám, chíntuổi đứng ngơ ngác trên bãi biển một hoang đảo nào đó ở Thái bình dương, em vừa được chiếctàu buôn Na Uy tình cờ đi qua cứu ra. Người ta đoán em là người Việt nam, tên Chi hay Lan,nhưng tôi nghĩ tên ghép Chi Lan thì đúng hơn. Hình như Chi Lan theo gia đình dùng ghe nhỏ rakhỏi Việt nam, ghe lạc đường trôi giạt trên biển cả rồi bị đắm, và trong khi mọi người khác đềuchết chìm mất xác, em được sóng biển đánh tấp lên đảo. Ăn sống nghêu sò trên bãi và uốngnước của con suối gần đó để sống, em hầu như mất trí, không nhớ tên họ cha mẹ, và khôngbiết đã sống trên đảo bao ngậm ngùi xót xa với thảm cảnh đồng bào mình liều mình bỏ nước ra đi bằng đường biểnsau ngày Việt Cộng chiếm miền Nam. Suốt hơn ba năm qua, chúng đã dở hết mọi trò dã manđể cướp bóc và đày đọa dân chúng. Bắt đổi tiền Việt nam Cộng hòa lấy tiền mới; mỗi gia đìnhchỉ được đổi một số tiền nhỏ, còn lại bao nhiêu kể như mất bỏ. “Đánh tư sản mại bản,” tức làtra khảo, hành hạ, và tịch thu tài sản những người chúng cho là giàu có. Lùa trên một triệu cựuquân nhân và công chức vào trại tù “cải tạo.” Ép hàng triệu người dân đi về vùng “kinh tế mới”đèo heo hút gió không có phương kế sanh nhai ngoài câu khẩu hiệu “Với sức người sỏi đá cũngthành cơm.” Sống lầm than trong cái nhà tù khổng lồ, những ai khả dĩ còn chút khả năng tàichánh không thể không tìm cách “vượt biên” chữ mới sau năm 1975 theo chân hơn 140,000đồng bào di tản năm 1975 hiện sống tự do và sung túc ở các nước tây ghi nhận chiếc tàu đầu tiên đến Úc ngày 26 tháng Tư năm 1976. Tháng Bảy, Hà nội khôngcòn ngần ngại lộ rõ bộ mặt thật là kẻ xâm lăng miền Nam, dẹp bỏ tấn tuồng chính phủ Cáchmạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam, và công bố “thống nhất nước nhà về mặt nhà nước.” Màn“thống nhất” này khiến dân chúng miền Nam càng hoảng sợ và đẩy mạnh làn sóng vượt biênlên cao. Cuối năm 1977, có trên 15,000 người Việt sang tỵ nạn tại các nước Đông nam Á – MãLai Á, Thái Lan, Phi Luật Tân, Tân Gia Ba, Nam Dương, và Hương Cảng; báo chí thế giới gọi họ là“boat people,” hay “thuyền nhân.”Sau cuộc hành trình hãi hùng trên đại dương, thuyền nhân đến được bờ tự do kể cho thế giớinghe kinh nghiệm đau thương ghê rợn họ trải qua. Thí dụ như chuyện cha mẹ chia nhau nhữngmảnh thức ăn vụn rơi rớt từ miệng mấy đứa con và chia nhau từng giọt nước vắt từ tấm vảihứng nước mưa để đánh lừa cơn đói. Hay chuyện người sống ăn thịt người chết để tiếp tụcsống còn và hy vọng được cứu vớt. Hay chuyện hải tặc Thái Lan và Mã Lai Á lên thuyền cướpgiật, hãm hiếp phụ nữ, và bắt cóc đàn bà trẻ em mang đi. Đó là chưa kể chuyện thuyền cũ nát,máy hư, đi lạc đường, hay bị phong ba bão táp đe dọa. Không ai biết bao nhiêu người đã vùithân dưới đáy năm 1978, số người ra đi gia tăng gấp bội khi Việt Cộng bắt thanh thiếu niên từ 17 tuổi trởlên đi “nghĩa vụ quân sự,” huấn luyện sơ sài, và gửi sang chiến trường Cam Bốt, và sau đó tranhchấp biên giới đánh nhau dữ dội với Trung Cộng. Vào cuối năm, có trên 62,000 thuyền nhân tạicác nước Đông nam Á. Làn sóng tỵ nạn ào ạt khiến các nước trong vùng tuyên bố không nhậnthêm người tỵ nạn Việt nam và xua đuổi những đợt đến ấy là ngày Chủ Nhật đầu tiên của tháng Mười Hai. Buổi sáng, tôi thung dung nhăm nhitách cà-phê và đọc Bismarck Tribune, số báo Chủ Nhật dày gần sáu chục trang, và khi đến trang8 thất kinh la lớn vì bản tin và tấm hình do thông tấn xã Associated Press AP gửi đi từ thủ đôMã Lai Á,KUALA LUMPUR. Malaysia. Dec. 2 AP — Hôm nay, một chiếc thuyền chở đầy ắp ngườitỵ nạn Việt nam chìm trong cơn biển động sau khi chính quyền Mã Lai Á từ chối khôngcho họ lên bờ, và có đến 143 người chết đuối, cảnh sát cho biết. Tai họa này đã tăng sốngười chết như thế trong hai ngày nay lên đến 330 hình chụp chiếc thuyền đang chìm ngoài khơi cho thấy những kẻ khốn cùng đang tuyệtvọng chống chõi với tử thần. Trong tuần lễ gần đây, khi thuyền chở người tỵ nạn Việt namkhông phải người Việt gốc Hoa đến bờ, cảnh sát và dân chài Mã Lai Á xúm lại kéo thuyền rahải phận quốc tế đuổi đi, họ sống chết ra sao không cần biết. Thương quá đồng bào tôi!Tôi khóc thầm suốt cả ngày. Tối hôm ấy chúng tôi có khách đến dùng cơm tối là vợ chồng bàJane trong họ đạo nhà thờ Ba ngôi Lutheran; bà là bạn dạy học của Quỳnh Châu ở Đại học Cộngđồng Bismarck. Trong bữa ăn, tôi dằn lòng không đề cập tới chuyện đau lòng của mình, nhưngrồi chồng bà Jane cũng gợi ra,“Anh đã đọc bài báo trên Bismarck Tribune hôm nay chưa?”“Tôi đọc sáng nay rồi,” tôi trả lời trong tiếng nấc, “Toàn thể thế giới nhắm mắt làm ngơkhi hàng trăm người bị hành hình công khai trên mặt biển. Từ hôm nay, tôi mất tin tưởng vàocác đấng thiêng liêng như Phật hay Chúa. Các ngài không hề hiện hữu, vì nếu có, các ngài đãkhông để cảnh dã man đó xảy ra.”“Tôi chân thành chia xẻ nỗi đau buồn của anh chị. Là tín đồ Cơ Đốc, chúng tôi tin khiChúa để cho chuyện gì xảy, người đều có mục đích,” bà Jane xen vào an ủy, “Sáng nay, trong bàigiảng ở nhà thờ, Mục sư Nielsen kêu gọi họ đạo gọi điện thoại hay viết thư cho dân biểu vàthượng nghị sĩ của mình và yêu cầu họ buộc chính phủ Hoa kỳ phải can thiệp và giúp đỡ đểchấm dứt những đau thương của người tỵ nạn.”* * *Mùa thu năm sau 1979, tôi bay xuống Houston thuộc tiểu bang Texas dự hội nghị về hệ thốngđiện và ở lại cuối tuần thăm thằng Lục là bạn học cùng lớp ở Ban Mê Thuột. Nó mời bạn bèquanh vùng đến ăn nhậu và gặp tôi. Tôi hơi sửng sốt khi thấy Xuân Hiền xuất hiện, nàng đếnmột mình. Nụ cười khả ái của nàng nhắc lại quãng đời trung học vụng dại của tôi ở xứ BuồnMuôn đó, tôi học đệ nhất lớp 12 và có diễm phúc được Hoàng Nga, cô nữ sinh đệ tam lớp 10ăn nói nhỏ nhẻ dịu dàng, đem lòng yêu thương. Mối tình đầu của tôi không được cha chấpnhận vì cha nàng là một hạ sĩ quan cấp bậc thấp. Cha dọa sẽ kiếm cách trừng phạt ông, nếu tôikhông cắt đứt liên hệ với nàng. Chưa biết làm cách nào để bày tỏ với nàng thì tình cờ tôi biếtđược Xuân Huyên, con đầu lòng một sĩ quan cao cấp bạn cha, đã được bác ấy hứa gả cho anhThân là sĩ quan tùy viên của bác, nhưng nàng chưa hay. Tôi bèn rủ nàng đi chơi để Hoàng Ngatrông thấy và giận không thèm nhìn mặt tôi. Do dịp này, tôi quen thân với cô em Xuân Huyên làXuân Hiền và được cô bé 13 tuổi ấy bày tỏ cảm tình thiết năm sau, Xuân Hiền về Sài gòn học khóa huấn luyện ngân hàng và tìm gặp tôi; khi đó tôi đibụi đời ở lậu trong Đại học xá Minh Mạng. Trong tám tuần lễ, tối nào hai đứa cũng đi ăn quáncơm bình dân gần đại học xá với nhau và chuyện trò đến khuya. Nhưng chúng tôi có duyên màkhông nợ; mãn khóa học nàng về lại Ban Mê Thuột và lên xe hoa. Chồng nàng là một sĩ quanphi công trực thăng hào hoa phong nhã học sau tôi một lớp. Nhờ vậy, cuối tháng Tư 1975, anhdùng trực thăng di tản gia đình ra Đệ thất Hạm đội Hoa kỳ ngoài bữa cơm, Xuân Hiền giành ngồi cạnh tôi, gắp thức ăn vào chén, và săn sóc tôi như thuởăn cơm bình dân Sài gòn. Bị bọn đàn ông chọc ghẹo, nàng nửa đùa nửa thực, “Tui thương ảnhtừ 15 năm trước, chớ đâu phải đến giờ tui mới thương!” Tôi ngượng ngùng lái sang thăm hỏicô bạn cũ Xuân Huyên,“Bây giờ gia đình Huyên ra sao?”“Năm 1975, anh Thân và chị Huyên em có hai thằng con lớn và đứa con gái út. ViệtCộng vào, ảnh trốn ở nhà không trình diện học tập cải tạo’ và tìm đường vượt biên. Sau gầnhai năm, ảnh và thằng con trai lớn lúc đó 11 tuổi đi thoát và đến trại tiếp nhận Songkhla ở TháiLan.” Songkhla nằm trên vịnh Thái Lan và gần biên giới Mã Lai Á.“Anh Thân là lính kiểng của bác trai mà giỏi vậy à?” tôi vốn không mấy tâm phục anhThân.“Ảnh liên lạc được với các sĩ quan cố vấn chịu ơn cứu mạng của ba em hồi trước, họ hếtlòng can thiệp, và nhân viên tòa Đại sứ Hoa kỳ tại Thái Lan đến Songkhla phỏng vấn và cấp chiếukhán cho cha con ảnh vào Mỹ. Ảnh may mắn thoát đi suôn sẻ, nhưng chị Huyên và hai đứa nhỏlãnh hết mọi tai họa trên đời,” Xuân Hiền kể lại cuộc vượt thoát của chị, giọng nói thê khi định cư ở Los Angeles thuộc tiểu bang California, anh Thân nhắn tin về Sài gòn giục vợmang con ra đi. Xuân Huyên phải đi đến bốn lần. Hai lần đầu, nàng bị kẻ tổ chức lường gạt lấyvàng nhưng không có tàu đi, tiền mất tật mang trắng tay trở về nhà. Lần thứ ba nàng bị côngan bắt lại, và nhờ có con nhỏ và còn một ít vàng đưa hối lộ nên không bị tù. Lần thứ tư, mẹ connàng mới lên thuyền thoát được ra biển. Giữa biển Đông, con thuyền gặp bão trôi lạc đườngrồi hư máy và lênh đênh vô vọng trên biển cả. Sang tuần lễ thứ ba, thuyền hết sạch bất cứ thứgì có thể ăn được, người lớn thành xác không hồn, và trẻ em đói lủi nằm yên không nhúc đứa con Xuân Huyên nhiễm bệnh nặng, lên cơn sốt, và nằm mê man sắp hoàn cảnh đói cùng cực, đám chỉ huy thuyền – mấy người đàn ông lực lưỡng và có võ khí– đưa ra giải pháp dùng các cô cậu bé còn đồng trinh làm thức ăn cứu cả thuyền. Những kẻmạnh ấy bày trò bốc thăm và chọn vật hy sinh là hai đứa con Xuân Huyên, người thiếu phụ thếcô sức yếu không còn đủ sức đứng lên một mình. Hai cháu bé đang hấp hối, không biết lìa đờilúc nào, nhưng hơn một trăm người đói lả trên thuyền không thể chờ đợi. Hơn nữa, họ mê tíndị đoan, không muốn ăn thịt người chết mà phải giết “con thịt” còn sống. Thế là quyết địnhhành hình được thi hành nhanh Xuân Hiền kể đến đây, các bạn tôi bùng lên la lớn,“Trời ơi là Trời . . .”“Chứng kiến hai đứa con bị đập đầu giãy chết, chị Huyên phát điên lên toan nhảy xuốngbiển tự trầm, nhưng được mấy bà bạn đồng hành ôm giữ lại. Chị nhất định nhịn đói, dù chếtchứ không ăn thịt con mình,” Xuân Hiền khóc òa và nói qua nước mắt, “Trớ trêu thay, ngay hômsau, con thuyền được tàu thiện nguyện quốc tế cứu vớt và đưa tới trại tỵ nạn Galang.” Trại tỵnạn này nằm trên đảo Galang thuộc quần đảo Riau của Nam tôi nhòa lệ. Tôi khóc thành tiếng. Tay tôi tìm bàn tay Xuân Hiền, “Người mình khổ chi màkhổ lạ khổ lùng, khổ hết nước nói, trời cao đất dày có thấu chăng?”Nguyễn Ngọc HoaNgày 17 tháng Mười Một, 2021Như Truyện Kiếm HiệpMồng 1 Tết Kỷ Mùi nhằm ngày Chủ Nhật cuối cùng của tháng Giêng 1979 và là cái tết tha hươngthứ tư của tôi. Chiều thứ Sáu, trước khi chia tay nghỉ cuối tuần, các bạn trong sở đến bắt tay tôichúc mừng, “Happy New Year!” Tôi ngạc nhiên khi anh bạn Dennis hẹn gặp lại sáng thứ Ba,“Tết Việt nam nhằm ngày Chủ Nhật, thứ Hai tôi đi làm như thường mà.”“Anh không biết người Mỹ có lệ nghỉ lễ bắc cầu’ à? Lễ thứ Bảy thì nghỉ thứ Sáu, lễ ChủNhật thì nghỉ thứ Hai. Thứ Hai anh cứ nghỉ mà không cần lấy vacation. Anh làm thêm ngoài giờngày này sang tháng nọ, bao nhiêu là comp time mà chưa thấy dùng bao giờ,” Dennis giải thích;“comp time” hay “compensatory time” giờ đền bù là thời gian cho nghỉ để bù lại giờ làm việcthêm mà không được trả lương phụ trội.“Thứ Hai mọi người đi làm việc, tôi ở nhà làm gì?” tôi tình thật trả lời.“Cái anh cựu giáo sư đại học này,” anh cười ha hả, “Bộ anh không biết dân North Dakotacó câu châm ngôn Một ngày đi câu xấu vẫn khoái hơn một ngày làm việc tốt,’ hay sao?”Được lời như cởi tấc lòng, tôi nghỉ “bắc cầu” ở nhà chơi giỡn với Mạc và luyện chưởng. “Truyệnchưởng” là loại tiểu thuyết kiếm hiệp phát xuất từ Hương Cảng, bản dịch xuất hiện trên báohàng ngày ở Sài gòn từ năm 1960, và “luyện chưởng” là đọc truyện hay xem phim “chưởng”một cách say mê. Tôi vừa được bạn gửi tặng bộ Tiếu Ngạo Giang Hồ của Kim Dung do HànGiang Nhạn dịch làm quà tết, bộ truyện quen thuộc bắt đầu với hai câu thơ,Gió xuân đầm ấm, ngàn liễu xanh tươi,Hoa phô sắc thắm, hương nức lòng năm 1976, nhà Đại Nam tại Glendale ở nam California có sáng kiến mượn sách cũ in trướcnăm 1975, in lại theo kỹ thuật chụp nguyên bản, và bán với giá phải chăng. Nhờ đó, tôi dần dầncó lại nhiều tác phẩm ưa thích ngày trước. Mạc đã gần ba tuổi, tính tuổi ta hôm nay bé lên bốn,mới biết nói tiếng Việt và nói huyên thuyên, và rất thích nghe chuyện. Tôi kể sơ lược cho bénghe về Lệnh Hồ Xung, nhân vật chính trong bộ truyện đang đọc. Chàng ta thông minh tuyệtvời, có sở trường sử dụng kiếm thuật, tính tình phóng khoáng, và nhất là hết lòng vì bạn vàkhông nể nang ai. Quỳnh Châu cười tủm tỉm,“Con tìm đâu xa, Lệnh Hồ Xung của má ngồi trước mặt con đó.”“Nhưng ba không biết đánh kiếm,” bé phản đối.“Ba giỏi’ hơn người đánh kiếm trong truyện nữa,” nàng giữ nụ cười trên môi.“Má là Nhậm Doanh Doanh của ba, Mạc biết không?” tôi xen vào.“Phải rồi, ba là Lệnh Hồ Xung, má là Nhậm Doanh Doanh,” Mạc reo lên nhưng bỗng ngơngác, “Vậy Mạc là ai?”“Trong truyện chưa có con. Mai mốt con lớn, con viết truyện, và con muốn làm ngườinào thì làm,” Quỳnh Châu xoa đầu Hoa kỳ, nhiều người Việt không cho con cái nói tiếng Việt ở nhà vì sợ “làm hư tiếng Anh” củachúng. Tôi quan niệm ngược lại. Khoảng năm 1970 - 1971, tôi đọc một nghiên cứu về việc dạyngôn ngữ của Thụy Sĩ, một quốc gia dùng bốn thứ tiếng chính thức là Đức, Pháp, Ý, vàRomansh, cộng thêm tiếng Anh là ngôn ngữ thương mại. Romansh là ngôn ngữ dùng ở tổngGrisons nằm về phía đông Liên bang Thụy Sĩ, liên bang gồm 23 tổng. Nghiên cứu cho thấy dạyhọc sinh nhiều thứ tiếng cùng một lúc sẽ giúp các em có ý tưởng dồi dào hơn, diễn đạt khéo léohơn, và tiến bộ nhanh hơn trong các ngôn ngữ đang học. Do đó, tôi tin theo lời khuyên của BảoVân, nhà mô phạm soạn sách giáo khoa tiểu học nổi tiếng,Chỉ sợ đàn con quên Việt ngữ,ừng lo lũ trẻ kém Anh ngày sinh nhật thứ tư của Mạc, mỗi tối tôi đều dạy bé học tiếng Việt. Bé lần lượt học cácsách sơ cấp của Bảo Vân – Vần Việt Ngữ I và II, Tập Đọc I và II, và Việt Nam Thường Thức – vàsau đó đến sách Quốc văn dành cho các lớp cao hơn. Bé biết đọc và viết tiếng Việt trước khi tớituổi đi học, và sau đó ở trường, Mạc xuất sắc vượt hẳn bạn Mỹ về Anh văn. Cuối năm học lớp9, Mạc dự thi viết luận văn toàn tiểu bang, đứng hạng nhất, và lãnh phần thưởng danh dự củathống đốc. Các buổi học tiếng Việt hàng đêm chấm dứt cuối năm Mạc học lớp 11, khi Mạc họchết bộ Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim và hiểu thông suốt “Hịch Tướng Sĩ” của Hưng đạovương và “Bình Ngô Đại Cáo” của Nguyễn Mạc mới cắp sách tới trường, Trung tâm Mỹ Vân hay My Van Films tại San Jose ở bắcCalifornia nhập cảng các bộ phim kiếm hiệp đã phát hình từng kỳ trên đài truyền hình HươngCảng, chuyển âm sang Việt ngữ bằng cách thuê La Thoại Tân, Túy Hồng, và vài nghệ sĩ khác nóilời đối thoại và hát lời ca, và phát hành phim dưới dạng băng VHS video home system để đápứng thị hiếu của các gia đình Việt nam. Ở nơi đông người Việt, tiệm cho thuê phim mọc lênnhan nhản. Mẹ là một trong những người ghiền luyện chưởng, và khi biết Mạc cũng mê kiếmhiệp, mua thêm một máy VCR videocassette recorder để vừa phát vừa thu, sang ra băng mớicho cháu nội cưng, và phân trần với Quỳnh Châu, “Để cho thằng nhỏ học tiếng Việt cho giỏi nhưthằng cha hắn.” Thế là Mạc có nguyên một kho băng VHS phim chưởng và suốt ngày nghêungao bài ca trong bộ phim Anh Hùng Xạ Điêu,Cùng bước khắp chốn giang hồ phiêu bồngXin cùng bên nhau sớt chiaDù cay đắng anh vẫn không hề xuôi lòngMong cùng em kết tình thắm tốt nghiệp trung học summa cum laude hạng tối ưu và được nhận vào Học viện Kỹ thuậtMassachusetts MIT tại Cambridge thuộc tiểu bang Massachusetts. Mạc học vật lý lý thuyếtvới ước mơ theo chân Albert Einstein 1879 - 1955. Là trường đại học khoa học và kỹ thuật nổitiếng nhất thế giới, MIT nhận thấy rằng trong cuộc đời làm việc, trung bình mỗi người Mỹ đổinghề năm lần, và để chuẩn bị cho sinh viên sau này thích ứng với sự thay đổi nghề nghiệp bấtthần, đòi hỏi họ phải lấy số tín chỉ nhiệm ý ngoài ngành học chính bằng một phần ba chươngtrình học. Trong trường hợp Mạc, nhiệm ý là các môn khoa học nhân văn và xã là chú “Lệnh Hồ Xung con” tên Quỳnh Châu gọi đùa Mạc hả hê chọn môn nhiệm ý liênquan tới truyện chưởng. Trước hết là các lớp đọc, phê bình, và viết truyện kiếm hiệp; nhờ đó,Mạc giới thiệu cho tôi đọc truyện kiếm hiệp bằng Anh ngữ, đặc sắc nhất là bộ The Wheel ofTime Guồng máy thời gian của Robert Jordan 1948 - 2007 gồm 14 cuốn, về số lượng chữ mỗicuốn ngang hàng với một bộ truyện của Kim Dung. Tiếp theo là các lớp dạy tiếng Quan thoại vàlịch sử Trung hoa. Cuối cùng, hướng về quê hương của ba má, Mạc muốn nghiên cứu sâu rộnglịch sử Việt nam, nhưng MIT không có lớp dạy phải gửi Mạc sang Đại học Harvard học với mộtbà giáo sư người Việt; MIT và Harvard nằm cạnh nhau trên bờ sông Charles. Mạc sùng mộ vuaQuang Trung, yêu thích triều Tây Sơn, và nhờ bà giáo sư giúp tìm kiếm mọi sử liệu về thời kỳnày. Cuối hè năm thứ ba ở MIT, Mạc hoàn tất bản thảo cuốn truyện kiếm hiệp đầu tay bằngAnh ngữ lấy bối cảnh thời Tây khi tốt nghiệp MIT, Mạc làm việc cho một công ty cố vấn tài chánh và quản trị quốc tế cóvăn phòng ở thủ đô các nước lớn. Mạc được trọng dụng, lãnh lương rất cao, và được gửi đicông tác khắp nơi trên thế giới, kể cả Việt nam. Cuộc sống bận rộn nay đây mai đó bên cạnhchiếc va-li khiến Mạc mệt mỏi ngán ngẩm. Làm việc ba năm, khi để dành đủ tiền, Mạc xin nghỉviệc để thực hiện giấc mơ đi giang hồ như trong truyện kiếm tiên là chuyến đi Hoa lục “theo dấu” Kim Dung; ông viết truyện giả tưởng, nhưng địa danhvà biến cố lịch sử đều có thực. Với chiếc ba-lô trên vai, Mạc di chuyển bằng xe lửa và đi bộ đểthăm viếng những địa danh đáng chú ý nhất trong truyện Kim Dung như Dương Châu quê củaVi Tiểu Bảo trong Lộc Đỉnh Ký, thành Đại lý quê của Đoàn Dự trong Lục Mạch Thần Kiếm, đảoĐào Hoa nhà của Hoàng Dược Sư trong Anh Hùng Xạ Điêu, Trên chuyến xe lửa tới chânnúi Mã Tích gần thành Vô Tích, địa điểm của quán rượu Tùng Hạc Lâu nơi Kiều Phong và ĐoànDự trong Lục Mạch Thần Kiếm gặp nhau lần đầu, Mạc kết bạn với một anh Tàu trẻ tuổi cũngmê kiếm hiệp như Mạc. Hai đứa lên núi Mã Tích ngủ đêm và hôm sau xuống núi, cùng nhauđến “Tùng Hạc Lâu” uống “rượu” bia thi, giống như nhân vật trong truyện, và nhắc chuyệnĐoàn Dự tửu lượng yếu, vô tình vận dụng Lục mạch Thần kiếm khiến rượu rỉ theo ngón tay trỏra ngoài, và uống rượu không thua kém Kiều trở lại Việt nam vài lần, ra Bình Định là quê quán nhà Tây Sơn, gặp hậu duệ còn sót lại củahọ, và tham khảo gia phả và thu thập sử liệu liên quan đến triều đại này. Điều Mạc băn khoănlà không ai biết gốc gác của hai danh tướng Tây Sơn là đôi vợ chồng Trần Quang Diệu “TQD,”1760 - 1802 và Bùi thị Xuân “BTX,” 1752 - 1802. Các sử gia phỏng đoán họ cùng quê BìnhĐịnh với vua Quang Trung, nhưng không ai đoan chắc. Mạc gọi điện thoại hỏi bà giáo sưHarvard, và sau một thời gian tìm tòi, bà không thể trả lời nhưng cho biết Bảo tàng viện Quốcgia trong khuôn viên Thảo cầm viên Sài gòn có bản vi-phim chụp hình tấm bia ghi dữ kiện liênquan tới quê quán của vào bảo tàng viện lục tìm bản vi-phim, nhờ người đọc chữ Nôm trên bia, và suy ra quêquán TQD là làng An Hải huyện Diên Phước tỉnh Quảng Nam. Mạc ra Quảng Nam và sau khi hỏithăm và xin phép bảy cơ quan hành chánh tỉnh, huyện, làng, phường, xã, gặp được cháuđời thứ tám của TQD là ông Nguyễn văn Thanh nay đã 70 tuổi. Bỗng nhiên có một thanh niêntừ Mỹ về muốn tìm hiểu lai lịch tổ tiên mình, ông Thanh cảm động, tụ họp con cháu nấu cơmkhoản đãi, đem gia phả ra trình bày, và khóc ròng thuật lại khổ ải dòng họ Trần trải và BTX thất thế bị quân Gia Long bắt sống. Sau 24 năm dài bị rượt giết và chiến đấu giankhổ – thế cùng lực kiệt, thiếu thốn đói khát, thoát hiểm nhiều phen, trốn sang Xiêm hai lần, vàthậm chí gửi con trai cả sang Pháp làm con tin để cầu viện – nhà vua căm hận nhà Tây Sơn cựcđộ. Để trả thù, vua cho đào mả ba anh em nhà Tây Sơn lấy đầu lâu dùng làm bô tiếng Pháp“pot” đi tiểu và rắp tâm trút hết căm hờn lên đầu hai kẻ thù không đợi trời chung hiện sốngtrên đời. Nhưng là người thâm trầm sâu sắc, vua muốn tỏ với quần thần ta đây là bậc quân tửđộ lượng nên giả cách chiêu hàng hai kẻ sa cơ mà biết chắc họ sẽ không bao giờ khuất vậy, TQD khảng khái,Tôi trung không thờ hai chúa, nay ta bị bắt thì chịu chết mà thôi!Vua Gia Long được thể nổi trận lôi đình truyền đem ra xử tội. Nếu xưa nay hình phạt nặng nhấtlà tru di tam tộc giết ba họ cha, mẹ, và vợ thì với TQD, vua ra lệnh tru di cửu tộc giết thêmsáu họ bà nội, bà ngoại, bà ngoại vợ, bà cố nội, bà cố ngoại, và bà cố ngoại vợ. Nếu bên Trunghoa xử lăng trì là lóc từng miếng thịt cho phạm nhân đau đớn chết từ từ thì vua truyền lột dacho ông ngắc ngoải lâu chết hơn. Nếu trước đây phạt tứ mã phân thây dùng bốn con ngựa cộtvào tứ chi của phạm nhân phi ra bốn hướng để xé thân thể thành năm mảnh thì với BTX, vua xửbà chịu voi giày ngựa xé, nghĩa là dùng thêm voi để quật và dập nát thân xác trước khi giụcngựa chạy phanh tỳ tướng họ Nguyễn liều bị toàn gia tru lục, đem đứa con út bốn tuổi của TQD đi trốn, vàẩn dật nuôi dưỡng giọt máu duy nhất của chủ tướng lớn lên mà không bị triều đình khám đời Tự Đức, vua thông minh, học giỏi, tính tình ôn hòa, và sau khi xét lại vụ án, hạ chiếu ânxá cho TQD và BTX. Ghi nhớ ơn cứu tử và dưỡng dục của ân nhân, người con út từ bé mang họNguyễn, bấy giờ đã lục tuần, bèn lập ra tập tục “sanh vi Nguyễn, tử vi Trần” truyền lệnh cho concháu,Sống thì mang họ Nguyễn, chết mới đổi ra họ dụ ông Nguyễn văn Thanh, khi chết mộ bia sẽ khắc tên “Trần văn Thanh.” Câu chuyện lịchsử này sao nghe ly kỳ như truyện kiếm hiệp của Kim Dung vậy kìa?Nguyễn Ngọc HoaNgày 8 tháng Mười Hai, 2021Bừng Con Mắt DậyBốn năm sau khi rời trại tỵ nạn Trại Pendleton, mùa thu năm nay 1979, tôi trở lại namCalifornia lần đầu tiên để dự khóa học ngắn về kỹ thuật điện toán tổ chức tại khách sạn Hilton ởLos Angeles. Chiều thứ Sáu, khóa học kết thúc, tôi xách va-li bước ra lobby căn phòng lớn dùnglàm phòng khách của khách sạn và thấy Ngân bạn tôi ngồi đợi. Ngày Sài gòn, Ngân học Đại họcKhoa học, đỗ cử nhân hóa học, và mở trường dạy luyện thi tú tài và thi tuyển vào đại họcchuyên khoa. Ngân cười tươi,“Hôm nay vợ và hai con em tao trổ tài nấu nướng đãi mày với thằng Bào. Thằng khỉ’ đóvừa từ Galang qua đây tuần trước.” Trại tỵ nạn Galang do Liên hiệp quốc điều hành nằm trênđảo Galang thuộc quần đảo Riau của Nam Dương.“Thằng Bào luật sư ăn nói khéo léo và giỏi xoay xở, tao biết thế nào nó cũng thoát rakhỏi Việt nam; bây giờ kêu là vượt biên.’ Có vợ con nó không?”“Tại thiếu địa tiền, đúng hơn là thiếu vàng, mua chỗ nên chỉ mình nó đi; vợ và đứa contrai ba tuổi ở lại.”Bào đưa cả hai tay ôm chặt tay tôi. Khuôn mặt hốc hác và thân hình còm cõi, nhưng tiếng cườigiòn giã và giọng nói oang oang của người bạn cũ vẫn như trước,“Ba Hoa ơi hỡi Ba Hoa! Thế còn chị Chích Chòe’ đâu?”“Bà xã để ở nhà, cõng theo làm gì cho bận bịu chân tay,” tôi quay sang các bạn khác, “Bàcon ơi, thằng này là thầy kiện mồm loa mép giải, nhưng ăn nói đâu ra đó, không một tấc lên tớitrời như bọn Việt Cộng đâu. Bào à, mày kể tiếp chuyện vượt biên cho tao nghe ké với.”“Tôi ra đi cùng với 41 người khác trên chiếc thuyền dài 16 mét có 15 phụ nữ từ 13, 14tuổi đến khoảng tứ tuần và năm trẻ em dưới 12 tuổi. Vừa ra tới ngoài khơi là nguy khốn bắtđầu Thuyền gặp bão dữ, hư máy, và trôi vô định. Rồi chiếc thuyền chở đầy hải tặc Thái quấnxà-rông xuất hiện, thằng nào cũng có vũ khí. Chúng bắt già trẻ lớn bé cởi hết áo quần đứng trầnnhư nhộng để lục xét tìm vàng, ra lệnh cho đàn ông ở lại thuyền, và lùa phụ nữ còn trẻ lênthuyền chúng và cưỡng hiếp năm ngày liền trước khi thả chúng tôi đi,” Bào rưng rưng nước mắtthuật lại khổ nạn tiếp theo của đám “thuyền nhân.”Ba ngày sau lại gặp toán hải tặc khác. Thuyền không còn gì đáng giá để cướp, đàn ông bị đánhđập túi bụi, và ai có răng vàng đều bị đè ra cạy nhổ lấy vàng. Phụ nữ lại bị bắt sang thuyền hảitặc và hiếp dâm như trước, lần này chúng bắt cả trẻ em mang theo. Một ngày sau, toán hải tặcthứ ba xuất hiện và đòi chia “chiến lợi phẩm.” Hai toán gầm gừ đánh nhau, và hai hôm sau, tấtcả bọn chúng đột ngột biến mất trong đêm tối cùng với đàn bà và trẻ em đã bị tuyệt vọng của những thuyền nhân còn lại lên tới mức tột cùng khi họ thấy một chấm đen ởchân trời lớn dần tiến lại gần thuyền. Hải tặc lần thứ tư, chỉ có nước chết! Nhưng khi chiếcthuyền kia lại gần, họ thấy những người thân yêu đang trở về. Khi nhận ra mình bị bắt đem đivà sẽ không bao giờ gặp lại người thân, các phụ nữ đã can trường phản đối và đòi nhảy xuốngbiển tự trầm. Bọn man rợ chịu nhường bước và chở họ trả cầm lon bia uống một hơi, mắt nhắm nghiền như để xua đuổi nỗi kinh hoàng,“Con thuyền lại lềnh bềnh trôi. Không có thức ăn trong nhiều ngày và nước uống rấthạn chế, mọi người thoi thóp nằm yên một chỗ và bắt đầu nghĩ tới chuyện ăn thịt người đểsống. May có một chiếc tàu buôn Anh chạy qua, dừng lại cho thức ăn và nước uống, giúp sửamáy thuyền, cung cấp dầu, và chỉ đường chạy tới Galang.”“Phù...ù…ù, rốt cuộc mày đến bờ tự do,” tôi thở ra một tiếng dài.“Trong trại, túp lều tao ở nằm cạnh lều một gia đình người Nam năm người, lớn tuổinhất là ông Trương khoảng ngũ tuần, chững chạc, và rất kín đáo. Không người nào hé môi lộ ratông tích gốc gác của mình.”“Nhưng sức mấy mà qua mặt đôi mắt tinh như cú vọ của mày,” tôi mỉm cười.“Làm ngành luật, tao nhận ra ông Trương là bộ trưởng bộ Tư pháp của cái phườngtuồng gọi là chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam,” Bào gật đầu.* * *Trương là con thứ hai trong một gia đình Nam kỳ quý phái dưới thời Pháp thuộc có sáu cậu contrai. Mỗi cậu có riêng một a má là chị vú người Tàu đưa đón đi học và hầu hạ việc ăn mặc, tắmrửa, ngủ nghê, Mỗi cậu có riêng thầy dạy kèm các môn học chính ở trường và thầy dạy âmnhạc, mỗi cậu học một loại nhạc khí riêng. Ngoài ngôi nhà chính ba tầng trên đường d'EspagneLê Thánh Tôn bây giờ giữa trung tâm Sài gòn, cha mẹ Trương có đồn điền cao su ở Thủ DầuMột Bình Dương, nhà in tại Sài gòn, nhà nghỉ mát ở à Lạt, và biệt thự mùa đông ở Cap SaintJacques Vũng Tàu. Cha Trương là giáo sư trung học dạy ở trường Chasseloup Laubat sau nàygọi là Jean-Jacques Rousseau, nhưng dạy lấy tiếng chứ tiền lương chỉ là em Trương học trường dành cho trẻ em Pháp. Lúc đầu bị bọn bạn học người Pháp gọinhạo là nhaque đọc là “nhác-cờ,” do chữ “nhà quê” hay mite đọc là “mít-tờ,” cách nói tắtkhinh miệt của chữ “annamite” người Pháp dùng chỉ người Việt, cậu Ba Trương thấy khó chịu,nhưng rồi cũng quen và nhập tâm bài học lịch sử vỡ lòng, “Tổ tiên ta là người Gaulois.” NămTrương 13 tuổi, cha cậu quyết định,“Lớn lên con sẽ làm dược sĩ. Anh con làm bác sĩ, em kế con chủ nhà băng, và ba em saukỹ sư.”Tháng Ba năm 1946, trước khi Trương lên đường sang Pháp du học, cha Trương làm lễ đính hôncho cậu và ý trung nhân là con gái của một bác sĩ và điền chủ giàu có ở Bến Tre và cũng là bạnthân của ông. Sang Paris, Trương được nhận vào ở trong đại học xá sinh viên Đông thời điểm đó, Hồ Chí Minh ăn dầm ở Paris chờ thương thảo về đề nghị cho Việt Minh Việtnam độc lập trong Liên hiệp Pháp, hội nghị diễn ra tại Fontainebleau cách Paris chừng 60 km vềhướng đông nam. Nhờ vậy, Trương gặp ông Hồ hai lần. Lần đầu, ông cho mời cả nhóm sinhviên Việt nam trong đại học xá đến họp chung và lần sau chỉ mời hai đại diện sinh viên ngườiNam đến “dùng trà với bác Hồ”; Trương là một trong hai sinh viên được đề cử đi. Với dángđiệu và cử chỉ của một chính trị gia xảo hoạt bậc nhất thế giới, ông Hồ hớp hồn chàng sinh viên23 tuổi bằng những khẩu hiệu nghe rất kêu nhưKhông có gì quý hơn độc lập-tự ta phải chống giặc ngoại xâm, chống giặc đói, chống giặc dốt. nghị Fontainebleau tan vỡ, nhưng lần gặp gỡ ông Hồ đã thay đổi toàn diện ước vọng vềtương lai của Trương. Trương bỏ ngành dược, học chính trị học ở Học viện Khoa học Chính trị,một grande école người Pháp gọi là “Sciences Po,” và cùng một số sinh viên Việt nam đi biểutình và vận động ủng hộ cuộc chiến đấu chống Pháp của Việt Minh. Cha Trương giận dữ khiđược tin Trương không tuân lời về việc học hành và dính dáng vào chuyện chính trị, nhưngquyết định dùng mật ngọt để khuyến dụ Ông sui gia tương lai đưa cô vị hôn thê của Trươngsang Paris, dắt hai người đi du lịch một vòng quanh Pháp, Ý, và Thụy sĩ, và trở về làm lễ cướitheo nghi thức hành chánh tại quận đường Quận 12, đồng thời với lễ gia tiên của hai gia đìnhcử hành tại Sài sách của hai người cha đưa lại kết quả trái ngược. Không những Trương không đổi ý hướngmà còn dȁn dắt vợ vào con đường của mình. Khi hội Người Việt Đoàn kết cử vợ Trương dânghoa cho vợ tổng thư ký đảng Cộng sản Pháp, bà này cũng là ủy viên trung ương đảng, hai ônggià hết chịu đựng nổi bèn ra lệnh cho vợ chồng Trương phải về nước. Trương cương quyết ở lạivà để vợ về một mình, lúc ấy cô mới 20 tuổi và mang thai sáu tháng. Hai ông già quyết liệt hơn,cắt đứt tiền bạc cấp dưỡng, và buộc cô vợ trẻ ký giấy ly dị. Lần đầu tiên trong đời, Trương phảitự kiếm sống, rửa chén và gọt khoai cho nhà bếp đại học 1951, Trương tốt nghiệp cao học chính trị học và ghi danh học luật ở Đại học Paris. Cuốinăm, Trương bất ngờ nhận được thư cha gọi về Sài gòn giúp ông gầy dựng lại cơ sở kinh doanhbị chiến tranh tàn phá để giúp anh và các em tiếp tục việc học. Để tránh lệnh động viên củachính phủ Quốc gia Việt nam, Trương xin đi dạy ở Châu ốc và được bổ làm giáo sư chính ngạchrồi kết hôn với em gái bạn đồng nghiệp. Vợ Trương sinh con gái đặt tên Loan. Để tránh lệnhtrưng binh khẩn cấp vì chiến tranh lan rộng, Trương xin gia nhập Hải quân và được nhận vàotrường Tiếp liệu Hải quân Pháp ở Toulon. Sau khi Hiệp định Genève được ký kết, Trương tốtnghiệp sĩ quan và xin giải về nước với chí hướng quyết liệt chống đối phe Quốc gia là chính phủ Việt nam Cộnghòa “VNCH”. Nhờ bằng cấp cao, liên hệ bạn bè thời Chasseloup Laubat, và thế lực gia đình,Trương được trọng dụng làm tổng thanh tra Việt nam Kỹ thương Ngân hàng và sau đó tổnggiám đốc Công ty Đường Việt nam, một công ty hàng quốc gia. Trong lúc Trương ngầm câu kếtvới các tổ chức Cộng sản trong bóng tối, con gái là Loan lại học cùng lớp với con gái Tổng thốngNguyễn văn Thiệu, thường vào dinh Độc lập ăn cơm tối và ngủ lại đêm, và được ông bà Thiệuyêu thương như Sáu năm 1966, hành tung bị bại lộ, Trương bị cơ quan an ninh VNCH bắt giữ. Nhờ ViệtCộng bí mật điều đình với tòa Đại sứ Hoa kỳ, Trương và hai tù nhân chính trị khác được trao đổivới ba quân nhân Mỹ bị Việt Cộng bắt. Thế là Trương ra bưng hoạt động hẳn cho phe Cộng khi Trương bị bắt, ông Thiệu dịu dàng kéo Loan ra một bên,"Con yên tâm, ba con với tonton là kẻ đối nghịch. Nhưng con là con cháu nhà này,chuyện kia không ăn nhằm gì cả.”“Tonton” tiếng Pháp là “chú/bác/cậu” khi xưng hô thân mật. Sau đó, bà Thiệu bảo trợ cho Loanđi Hoa kỳ du học. Ngày 8 tháng Sáu năm 1969, Hà nội đưa ra trình làng con múa rối đặt tên làchính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam “CMLTCHMN” để mà mắt thế giới, vàTrương được phong chức bộ trưởng bộ Tư pháp cho đủ lệ đến sáu năm sau, trong cuộc diễn binh mừng chiến thắng chiếm trọn miền Nam của ViệtCộng, Trương mới mở mắt nhận ra thực chất của CMLTCHMN. Trên khán đài dựng lên trướcdinh ộc lập mới đổi tên thành Thống nhất, chủ tịch đoàn gồm lãnh tụ ngoài Bắc vào vànhững nhân vật quan trọng khác đứng duyệt khán các đơn vị quân đội diễn hành. Bộ binh,chiến xa, pháo binh và hỏa tiễn phòng không, với cờ đỏ sao vàng miền Bắc lần lượt đi tàn buổi lễ mà không thấy các “đại đơn vị” và lá cờ hai màu xanh đỏ của CMLTCHMN đâucả, Trương nghiêng vai hỏi Tướng Văn Tiến Dũng chỉ huy quân đội đứng bên cạnh,“Các Sư đoàn 1, 3, 5, 7, và 9 của tụi tui đâu?”“Mấy thứ đó hả?” ông tướng đưa mắt nhìn Trương và không đắn đo, “Quân đội thốngnhất rồi,” rồi quay đầu nhìn xuống đường với khoé môi trề xuống tỏ vẻ khinh vở kịch CMLTCHMN đến lúc hạ màn, Trương ra Hà nội dự lễ phê chuẩn văn kiện "thống nhấtnước nhà về mặt nhà nước" chính thức chấm dứt tấn tuồng lừa đảo này. Trong buổi tiếp tân,có người vỗ vai, Trương quay lại thấy Trường Chinh chủ tịch Quốc hội miền Bắc; ông ta trừngmắt hỏi xách mé,"Đồng chí là ai mà trông quen quen?”Trương ngớ người bối rối. Mới bảy tháng trước, ngay tại sảnh đường này, chính đồng chí lãnhđạo này đã ôm hôn chào mừng líu lo và chiêu đãi rộn ràng Trương và toàn bộ ấp a ấp úng,“Tui là bộ trưởng bộ Tư pháp miền Nam.”“Thế à?” mắt Trường Chinh sáng lên khoái trá, “Đồng chí tên gì, bây giờ làm gì?”Trương tỉnh mộng hoàn toàn, cưới cô vợ mới, và cậy nhờ người em cột chèo trù hoạch vượtbiên. Cuối tháng Tám năm 1978, vợ chồng Trương theo gia đình người em đó lên ghe đánh cáđi từ Long Xuyên đến trại tỵ nạn Galang. Sáu tháng sau, sang Pháp định cư và sống đời lưuvong. Ba mươi năm “làm cách mạng” của Trương rốt cuộc chỉ làGiấc Nam kha khéo bất bình,Bừng con mắt dậy thấy mình . . . thuyền nhân.Theo Cung Oán Ngâm KhúcNguyễn Ngọc HoaNgày 22 tháng Mười Hai, 2021Đời Cô LệNhân đi dự một khóa học ngắn tại Los Angeles ở nam California, chiều thứ Sáu tôi về nhà bạn làNgân ở lại ngày thứ Bảy rồi sáng Chủ Nhật bay về sớm. Sau một đêm ăn nhậu và tán dóc vớibạn bè, sáng thứ Bảy tôi thức dậy trễ. Tôi đi ra nhà bếp thấy Ngân đang pha cà-phê và vợ Ngânlà Trinh nấu đồ ăn sáng; nàng đon đả,“Mời anh dùng điểm tâm rồi đi đâu nhà tôi đưa đi. Nhưng nói trước, anh mà đi thăm côbồ cũ nào thì tôi mách chị đó.”“Em đừng lo,” Ngân cười hì hì, “Bồ bịch của thằng này toàn là bạn cô Chín dưới đò đibốn chân, vợ nó không thèm ghen đâu!” “Chín dưới đò” nói lái là “chó dưới đình.”“Tao tính nhờ mày đưa lên Los Angeles thăm anh Bảng,” tôi vờ không nghe thấy lời chọcghẹo của Ngân.“Mày gọi điện thoại xem anh ấy có nhà không. Chứ lái xe gần 50 dặm Anh đường kẹt xenhư nêm cối mà tới nơi không gặp thì uổng công toi.”Anh Bảng từng là giáo sư trung học có uy tín ở Sài gòn và thường khuyến khích và chỉ dȁn tôingày tôi là sinh viên tập tễnh đi dạy giờ tại các trường trung học tư. Năm 1975, tôi đã gặp lạianh ở trại tạm trú Orote Point trên đảo Guam và trại tỵ nạn Trại Pendleton ở nam gọi đến nhà anh; điện thoại bận phát ra tiếng “tít tít” liên tục. Mười lăm phút sau, tôi gọilần thứ hai; điện thoại lại bận. Trong hơn hai tiếng đồng hồ, cứ khoảng 15 phút tôi gọi một lần,nhưng điện thoại vȁn bận – cho đến gần hết buổi sáng. Cực chẳng đã tôi quay số “0” zero gọitổng đài; cô điện thoại viên xưng tên công ty điện thoại và hỏi,“Pacific Bell, thưa ông cần chuyện gì?”“Trong gần ba tiếng đồng hồ, tôi gọi số 213 123-4567 mà điện thoại bận liên tục. Đâylà một cú gọi khẩn cấp, có thể nào cô ngưng cuộc điện đàm hiện thời và cho tôi xen vào mộtphút không?” tôi khẩn khoản nhờ.“Tôi sẽ cố gắng,” cô tỏ ra thông điện thoại viên ngắt ngang cuộc nói chuyện của anh Bảng, nói lời yêu cầu của tôi, và đồngthời để tôi và anh Bảng nghe được tiếng của nhau. Anh Bảng đồng ý, chào từ giã một ngườiđàn bà nào đó, và được nối với tôi. Tôi nói vắn tắt,“Em ở North Dakota xuống và chỉ ở đây ngày hôm nay. Anh có nhà thì em đến thăm.”“Ba Hoa thì lúc nào cũng welcome. Hôm nay tôi ở nhà, cậu đến giờ nào cũng được.”Anh Bảng bắt tay tôi với nụ cười khoan dung, tôi xuýt xoa,“Em xin lỗi vì đã làm anh bỏ dở cuộc nói chuyện với cô bạn.”“Không sao! Cô Lệ có lẽ nhỏ hơn cậu một hay hai tuổi, chả phải là bạn tôi. Cả tuần nay,ngày nào cô ấy cũng gọi điện thoại viễn liên từ San Diego lên kể lể cuộc đời năm chìm bảy nổisáu lênh đênh cho tôi nghe.”“Hà hà . . .” tôi bật cười, “Ông giáo sư ngon lành của em bây giờ mở văn phòng gỡ rối tơlòng cho các bà các cô hay sao?”“Cô ấy muốn nhờ tôi giúp viết cuốn tự truyện. Tôi chưa nhận lời, nhưng thấy chuyệnđời của nàng Kiều này rất đáng viết thành tiểu thuyết. Để tôi kể cậu nghe.”* * *Lệ là con út của một gia đình nông dân làng Kỳ La gần Đà Nẵng tỉnh Quảng Nam có sáu ngườicon. Cha mẹ Lệ làm lụng cực khổ, sùng đạo Phật, và dạy con cái ở hiền gặp lành và thương yêunhau. Chiến tranh đã biến làng Kỳ La thành một cổ hai tròng Ban ngày lính Quốc gia “QG” vềlàng “bảo vệ an ninh”; ban đêm Việt Cộng “VC” xuất hiện, lùa dân làng đi “học tập,” và ấn địnhcông tác chống lại lên mười, Lệ bị giao nhiệm vụ làm “giao liên” canh chừng lính QG để thông báo cho dukích xã kịp thời trốn thoát. Công tác suôn sẻ mấy năm liền, nhưng chường mặt mãi, Lệ khôngkhỏi bị bị lính QG nghi ngờ và một ngày nọ đưa về đồn tra vấn. Đã học tập kỹ càng nên trongsuốt tuần lễ bị câu lưu, Lệ nhất định nói mình đứng ngoài đường chơi với bạn chứ không biết gìcả. Nhờ anh rể là chồng chị Ba con thứ nhì trong gia đình làm cảnh sát ở Đà Nẵng bảo lãnh, Lệđược thả về. Nhưng đó là lúc cuộc đời cô bắt đầu biến thành địa ngụcĐám VC không thể tin rằng Lệ đã không cung khai. Ngay tối hôm đó, họ gọi cô đi họp. Buổi họp“kiểm thảo phê bình” lập tức biến thành “tòa án nhân dân” xử tội “phản động” và “làm giánđiệp cho địch” của Lệ, tuyên án tử hình, và giao nhiệm vụ thi hành bản án cho hai du kích xãthường tiếp xúc với cô. Đưa Lệ vào rừng, tên trưởng toán động lòng dâm dục, ra lệnh cho cô bé13 tuổi cởi quần, và ra tay hãm hiếp. Gần sáng, Lệ bị giải tới giam giữ ở nhà một cảm tình viênVC gần đó. Đêm sau, tên du kích cấp dưới đến một mình, đưa Lệ vào rừng nhưng không giếtmà theo chân thượng cấp đè cô xuống hãm hiếp, và sau khi thỏa mãn, thả cô đi với điều kiện côphải ra khỏi làng và không trở Đà Nẵng, Lệ được chị Ba tìm cho một chân giúp việc cho một gia đình năm con, hai vợ chồngđi làm, và ông chồng trên tứ tuần. Cùng lúc với khi ông chủ ló mòi dê xồm tìm cách nài ép, Lệhay tin mẹ đang chết lên chết xuống với đám VC ở làng quê. Sau khi Lệ ra đi, VC bắt mẹ cô làm“giao liên” thay thế; bốn bà khác cũng được giao nhiệm vụ tương tự. Một ngày kia, lính QG vềlàng tảo thanh, mẹ Lệ trông thấy la lên báo tin, nhưng hai tên du kích xã đã hiếp dâm cô trốnthoát không kịp bị bắn chết. Thế là năm bà bị xử tội, bốn bà kia bị hành quyết tại chỗ, và mẹ Lệbị quản thúc tại gia và cấm tiếp xúc với bất cứ ai trong làng. Cô lén về làng thuyết phục mẹ rađi, và hai mẹ con vào Sài gòn tha phương cầu khi hai mẹ con lang thang kiếm việc làm ở đô thành đông đúc náo nhiệt, Lệ bị đau bụngkhông dứt, ăn vào bao nhiêu mửa ra bấy nhiêu, và được mách tới bệnh viện Bình dân điều trịmiễn phí. Bác sĩ tận tâm chữa trị bệnh loét bao tử của Lệ, và các y tá thương tình giúp đỡ haimẹ con tìm chỗ làm. Họ giới thiệu tới một gia đình thương gia giàu có có hai đứa con nhỏ vàcha mẹ bà vợ ở chung trong căn nhà lầu năm tầng. Lệ giúp việc cho vợ chồng ông chủ, và mẹ côsăn sóc ông bà sống hàng ngày yên ổn, Lệ đem lòng yêu thầm ông chủ đẹp trai, nghiêm nghị, và đối xửhòa nhã với người làm trong nhà. Bà chủ bị bệnh tim không thể gần gũi chồng. Dần dần, ôngchủ nhận ra tình ý vụng về của cô người làm và ban đêm lẻn vào phòng cô, và hậu quả là Lệ cóthai. Bà chủ biết được gọi mẹ con Lệ ra đuổi việc, bắt phải trở về Đà Nẵng, và hứa sẽ gửi tiềncấp dưỡng hàng tháng cho đến sau khi Lệ sinh lại Đà Nẵng, mới 16 tuổi, không nhà không cửa, không việc làm, và mang thai, Lệ xin ở nhờnhà chị Hai con đầu lòng trong gia đình và thằng bồ lính Mỹ vũ phu hay đánh đập chị. Năm1954, chị vừa lấy chồng thì anh này ra bắc tập kết; sau đó chị bỏ làng vào Sài gòn và năm trước1964, khi lính Mỹ tham chiến tràn ngập Đà Nẵng, trở về thành phố này đi bán ba bar. Cha Lệvȁn ở Kỳ La, vốn không bằng lòng với nếp sống của chị Hai, nay biết Lệ chửa hoang, liền từ đứacon út yêu thương. Sau khi Lệ sinh con trai đặt tên Hùng, ông tha thứ cho cô rồi khủng hoảngtinh thần uống a-xít acid tự kiếm tiền nuôi mẹ và Hùng, trong hai năm liền, hàng ngày Lệ lân la trước cổng căn cứ quânsự Hoa kỳ gần Đà Nẵng bán chợ đen đồ lưu niệm và đôi khi cần sa cho lính Mỹ. Một hôm, biếtLệ không phải là gái làng chơi, ông MP Military Police hay Quân cảnh Hoa kỳ già quen với cô gạ“làm mối” cô với hai anh lính Thủy quân Lục chiến Mỹ trẻ măng muốn nếm mùi đời trước khi vềnước; hai người lính đang chờ xe buýt ra phi trường. Ban đầu ông MP đưa ra 100 đô la, Lệkhông bằng lòng; ông lấy thêm tiền và từ từ nâng giá lên, Lệ vȁn một mực lắc đầu. Nhưng khitới 400 trăm đô la, một món tiền đủ cho gia đình sống dư dật ít ra là một năm, cô chụp xấp đôla xanh cất vào bọc và chỉ tay vào anh lính thấp hơn, “You go bum bum” “go bum bum” là tiếngAnh bồi chỉ việc mua dâm. Hai người xuống chiếc hầm trú ẩn làm bằng bao cát gần đó, và sauvài phút lấn cấn, anh lính xọc xạch không tới nửa phút là xong. Lệ nằm đợi hồi lâu mà khôngthấy anh lính kia xuống bèn đi lên, ông MP cho biết anh ta sợ trễ chuyến bay và đi lộn trong cảnh đời ngang trái, Lệ tâm niệm phải rời khỏi đất nước chiến tranh khốn hoàn cảnh của cô, con đường duy nhất là liên hệ tình dục rồi thành hôn với người đầu, một quân nhân Mỹ do bạn chị Hai giới thiệu đưa Lệ vào làm y công ở Dân y viện ĐàNẵng, công việc thực sự đầu tiên của cô. Bệnh viện này có một số nhân viên y tế Hải quân Hoakỳ làm việc trong chương trình dân vận của quân đội Hoa kỳ. Tại đây, Lệ bắt bồ và sống vớiRed, một anh lính cứu thương Hải quân cô độc không thích giao thiệp với bạn bè. Red chỉ dạyLệ thay đổi cách ăn mặc và trang điểm cho nhan sắc đẹp đẽ và biểu nghỉ việc nhà thương đi bánba. Cô nghe lời nghỉ việc, nhưng bỏ Red vì không chịu làm gái nhảy à-go-go nhảy cởi truồngnhư anh ta đòi khi làm việc ở sòng bài Kim Chee House do người Đại Hàn làm chủ, Lệ được Jim là ngườiMỹ lai Tàu mẹ Trung hoa theo đuổi; anh ta là thợ máy dân sự sửa phi cơ trực thăng cho Lụcquân Hoa kỳ. Jim dụ Lệ bỏ việc và thuê nhà sống chung với anh ta. Trong mấy tháng kế tiếp, Lệcảm thấy cuộc sống “lứa đôi” đẹp như một bài thơ. Cho đến khi Jim trở nên ghen tuông, nghingờ Lệ có bồ khác, và uống rượu say sưa đánh đập cô. Cuối cùng, sau đêm bị Jim bóp cổ xuýtchết, Lệ đi báo MP; Jim bị bắt và trục xuất về Lệ xoay xở xin làm trong Câu lạc bộ Lính Hải quân Hoa kỳ gần căn cứ Hải quân Mỹ Khê. Mộthôm, Lê đợi xe buýt đi làm thì một trung úy Không quân Mỹ rất lịch sự nói tiếng Anh âm Texasnhào tới làm quen. Paul mới đến Đà Nẵng phục vụ nhiệm kỳ đầu tiên trong một đơn vị khôngtác chiến. Sau vài tháng tình tự ân ái, Lệ rủ Paul về sống với cô và được Paul chiều chuộng nhưbà hoàng. Một thời gian sau, Paul trở giọng than phiền trong khi làm việc ở câu lạc bộ, cô tỏ raquá lẳng lơ với lính Mỹ. Một buổi sáng, Paul đắm đuối hôn Lệ chia tay đi làm rồi đi luôn khôngtrở cùng, đầu năm 1969, một cô gái bán ba bạn chị Hai giới thiệu Lệ với một người Mỹ dân sựgià ăn mặc sang trọng rất muốn có bồ người Việt. Ed độc thân và làm giám thị cho công ty xâycất khổng lồ RMK-BRJ, nhà thầu độc nhất của quân đội Hoa kỳ tại Việt nam. Lúc đầu Lệ từ chốilàm “bạn” với Ed, nhưng ông dai dẳng ngồi xe xích lô đi theo về nhà khiến cô xiêu lòng, “Chồnggià vợ trẻ là tiên trên đời,” và làm tình với ông. Ed mua thức ăn và đồ dùng mắt tiền trong PXPost Exchange hay Quân tiếp vụ Hoa kỳ tặng Lệ, tìm mọi cách làm cô vui lòng, và sau cùng cầuhôn và hứa đưa mẹ con cô sang Hoa kỳ sinh sống. Tuy rất ái ngại về sự sai biệt tuổi tác – Ed đã65 tuổi – cô thiếu nữ chưa tròn 20 đồng ý sống chung với ông. Bốn tháng sau, Lệ được bác sĩcho biết đã có thai và hai ngày sau đó, thành hôn với Ed theo nghi thức hành tháng sau ngày Lệ sinh cậu bé Tommy, Ed mãn hạn hợp đồng làm việc và bay về San Diegotrước để sửa soạn nhà cửa đón rước vợ con. Tháng Ba năm 1971, Lệ đưa hai con Hùng vàTommy sang đoàn tụ với chồng. Thực hiện được ước mơ ra khỏi Việt nam, nhưng Lệ khôngđược hạnh phúc lâu. Hai năm sau, Ed qua đời vì bệnh suyễn; Lệ thành quả phụ khi chưa tròn đời nhỏ hơn tôi, người thiếu phụ này đã trải qua bao nhiêu đảo lộn đất trời. Đời cô Lệ,truân chiên có khác chi nàng Kiều của Nguyễn Du?Nguyễn Ngọc HoaNgày 12 tháng Giêng, 2022Nhìn Quá Khứ, Đoán Vị LaiBuổi tối cuối cùng của chuyến viếng thăm nam California ngắn ngủi, ở nhà Ngân, tôi hoan hỉ gặplại đám bạn cũ, và chúng tôi cùng nhau ăn nhậu và nhắc lại chuyện “hồi đó ở Sài gòn.” Tối naycó vợ chồng thằng Túc lái xe từ San Diego lên; tôi chơi với thằng Túc ngày đi giang hồ vào Đạihọc xá Minh Mạng. Nó học y khoa có tiếng học giỏi nhưng cũng nổi tiếng nghịch ngợm vớinhiều trò đùa tinh quái. Thí dụ vào Cơ thể Học viện của Đại học Y khoa mượn cái đầu lâu haybộ xương người, đem về phòng nói là để học bài, nhưng thật ra để dọa mấy đứa yếu bóng víanhư tôi, và cắt bộ phận sinh dục đàn ông của xác chết lén bỏ vào ví tay nữ sinh viên cùng lớp đểlàm trò mục nhất là những tối cuối tuần thằng Túc làm đầu têu kéo một, hai đứa bạn vào ChợLớn ăn đám cưới chùa không được mời ở mấy nhà hàng tiệc cưới. Một hôm tôi theo nó đi ăncưới ở nhà hàng Đồng Khánh, và hai thằng ngồi cùng bàn thồi mười người với ông cụ giáo sưtoán đạo mạo và hai cô con gái học Trưng Vương xinh đẹp và hoạt bát. Tôi hầu chuyện tươngđắc với cụ, cô chị Vân Cẩm vừa nhỏ nhẻ ăn vừa im lặng nghe chuyện, và nhà y sĩ tương laithường ngày bặt thiệp và nhanh nhẩu nhưng hôm nay đờ đȁn nhìn cô em Vân Hương cười nóivô tư. Nhờ cuộc hội ngộ này, mấy năm sau Vân Hương trở thành bà Bác sĩ Túc. Đám cưới haingười, tôi đi bên họ nhà gái và từ đó đến nay mới gặp lại cặp vợ chồng thằng Túc là căn phòng khách vui nhộn hẳn lên. Nó bô bô kể lại “chiến tích” cua do tiếngPháp “faire la cour” là tán tỉnh hay ve vãn cô vợ xinh tươi như trăng rằm. Tôi chưa bao giờ códịp thố lộ với nó là tôi đã cùng dạy trường tư và quen thân với ông cụ và hôm ấy được cụ là bácchú rể mời đi ăn cưới hẳn hoi. Thằng Túc khoan khoái chỉ mặt tôi,“Tôi chịu thằng quái này, mới quen một cách ma giáo như thế mà cuối buổi cả gan xinphép cụ cho con gái đi uống cà-phê Đa La sau sân vận động Cộng hòa với tụi tôi. Cụ đồng ý vàdặn về sớm mới chết chứ! Nhờ hoàn thuốc liều của nó mà cô ấy trở thành mẹ ba đứa con tôi.”“Có gì khác nhau nếu không hỏi xin và xin mà không được?” tôi thản nhiên nhún vai.“Cám ơn anh đã làm ông tơ cho em và anh Túc nên duyên vợ chồng,” Vân Hương từ nhàbếp bước lên vin vào tay tôi, “Nhưng em có điều thắc mắc, cho em hỏi nhé?”“Cô hỏi thì được, nhưng trả lời hay không thì anh không hứa,” tôi trả lời lửng lơ.“Nghe ông cụ khen anh giỏi toán, chị Vân Cẩm đang học ban A Vạn vật nài nỉ cụ cho đổisang ban B Khoa học Toán để anh vui lòng. Anh biết chị em rất mến anh chứ?”“Cô hỏi khó quá,” tôi lúng búng Ngân từ ngoài sân đi vào, tôi vội vàng chớp lấy cơ hội để lảng sang chuyện khác. Biết tínhNgân hay lè phè, tôi hỏi đùa,“Mày bị bà Trinh sai vặt lia lịa mà không hề than phiền; đồ ăn nhanh McDonald’s haynắng California làm mày tiến bộ ra?”“Bà Trinh quý mày vì mày là phù rể độc nhất của đám cưới tụi tao nên luôn miệng nhắcnhở, Mấy năm mới gặp lại anh Ba Hoa, anh phải chịu khó chiều bạn.’ Chứ nếu không sức mấyông’ chạy lăng xăng cho mày!”“Mới ngày nào gặp lại mày trong Trại Pendleton khi mày đi lấy nước sôi khuấy sữa chocon gái đầu lòng bốn tháng. Bây giờ đã hơn bốn năm! Không chừng khi mình gặp lại lần tới,con gái mày đã đi lấy chồng,” tôi than thở.“Tao đã nói với mày nhiều lần Vợ chồng con cái mày cứ việc chất hết lên xe, xuôi vềnam’ sống gần bạn bè như thời Sài gòn. Ở xứ Mỹ này, tao không thấy ai chết đói, và chỉ nghenói người ta chết lạnh. Mày sống trên North Dakota lạnh giá, tính chết cóng chết già trên đóhay sao?”Lời nói của Ngân thật hữu lý, nhất là trong không khí buổi họp mặt này. Các bạn khác cũng xúmlại, mỗi người khuyên một câu. Tôi xiêu lòng và nghĩ tới cách thuyết phục Quỳnh Châu dọn nhàvề nam California. Bốn giờ sáng, Ngân lái xe đưa tôi lên phi trường Quốc tế Los Angeles LAX,trên xa lộ chúng tôi bị kẹt xe hơn hai tiếng đồng hồ, và đến nơi tôi là hành khách cuối cùng lênmáy bay. Bốn giờ sáng Chủ Nhật mà xa lộ kẹt xe, liệu tôi có thích hợp nổi với nơi đô hội này, dùthời tiết ấm áp và bạn bè đông?* * *Trong phiên họp sáng thứ Hai của ban tham mưu Tổng nha Kỹ thuật Điện, ông Wally phó tổnggiám đốc thông báo điều mà có lẽ ai cũng đã biết trong tuần lễ tôi đi vắng Sếp của tôi là ôngHoward giám đốc nha Điều hành Hệ thống Điện “ĐHHTĐ” tháng tới về hưu, và Gerrie kỹ sưthâm niên nhất của nha được cử lên thay thế. Thực ra Gerrie đã nhận nhiệm vụ mới vì ôngHoward nghỉ phép cho đến ngày chính thức về hưu. Tôi và Gerrie tuổi sàn sàn như nhau, mấynăm qua làm việc sát cánh với nhau, và biết rõ khả năng và tính tình của nhau. Buổi chiều, anhsếp mới gọi tôi vào văn phòng để phân công và chia xẻ phần vụ trước của anh. Anh nhìn thẳngvào mắt tôi, giọng tha thiết,“Howard về hưu là cơ hội cho bọn trẻ chúng mình thay đổi chuyện quanh đây. Nhiềunăm nay, vì không đủ khả năng chuyên môn, hàng năm công ty phải thuê hãng Cố vấn Quản trịStone & Webster thực hiện việc tiên đoán mức tiêu thụ điện’ load forecasting của kháchhàng. Tuần trước, lúc anh đi Los Angeles, Wally bàn với tôi là đã đến lúc chúng ta tự làm lấytrong nhà. Anh nghĩ sao?”“Anh muốn tôi làm gì?” bị hỏi bất ngờ, tôi hơi luống cuống.“Chúng tôi thấy khắp công ty anh là người có khả năng nhất để đảm nhận công tác sẽ có nguyên một năm để hoàn tất kết quả tiên đoán’ forecasts đầu tiên, tôi sẽ thuênhân viên có năng lực anh muốn để phụ giúp.”Bỗng nhiên tôi đứng giữa ngã ba đường. Không nhận thì mất một cơ hội thăng tiến nghềnghiệp và trau giồi kiến thức. Mà nhận thì dự định dọn nhà về miền nắng ấm đi đời nhà nghĩ để cảnh kẹt xe khi ra LAX, tôi quyết định thật nhanh,“Tôi nhận thêm công tác này nếu anh tuyển cho tôi một người phụ tá vừa giỏi toán vừarành điện toán.”“Tại sao anh không dùng kỹ sư, dễ cho tôi tìm thuê hơn?” Gerrie mỉm cười thắc mắc.“Bọn kỹ sư tụi mình rất giỏi thi hành mệnh lệnh của người khác, nhưng tầm nhìn xa thìhạn hẹp và khả năng sáng tạo thì thua xa dân toán học. Và dĩ nhiên hiểu biết về điện toán làđiều kiện không thể thiếu.”Load forecasting là một công việc quan trọng hàng đầu của công ty điện lực. Phải dự đoán mứctiêu thụ điện của khách hàng công ty mới ước tính được số thu nhập, tức là số tiền sẽ có, vàmới có thể dự thảo ngân sách thuê thêm hay sa thải nhân viên, xây cơ sở, mua máy móc, nữa, cần nhận định nhu cầu tương lai của khách hàng, công ty mới có thể hoạch định xâythêm bao nhiêu nhà máy, đường dây truyền điện, trạm biến thế, nghiên cứu phúc trình load forecasts mới nhất do hãng cố vấn Stone & Webster cung cấp vànghiền ngȁm các bài khảo cứu đăng trên quý san IEEE Load Forecasting ba tháng ra một lần củahội Kỹ sư Điện và Điện tử thế giới IEEE. Tôi nhận thấy hãng cố vấn đã dùng một phương pháptoán học tương đối giản dị gọi là phép hồi thoái regression dùng để tìm hệ thức giữa hai lượngY và X mà ta đã có một số dữ kiện thực. Khi biểu diễn dữ kiện thực trên đồ thị, hồi thoái là cáchxác định đường cong đơn giản nhất là đường thẳng “vừa vặn nhất” đi ngang qua các điểm phương trình đường cong, ta có thể dự phóng trị số Y tương ứng với bất cứ trị số X Y là mức tiêu thụ điện trong quá khứ và X chỉ thời điểm năm hay tháng thì đường conghồi thoái là phép “nhìn quá khứ, đoán vị lai” của công ty điện lực. Để chắc ăn, tôi viết thử mộtchương trình điện toán FORTRAN lập lại kết quả của Stone & Webster – và thành công! Tôivững lòng cải thiện phương pháp của họ bằng cách dùng thêm vài biến số khác có ảnh hưởngđến lượng điện tiêu thụ như lợi tức tính theo đầu người và giá điện khách hàng phải thiết lập chương trình điện toán và kho dữ kiện thực sự và chạy máy lấy kết quả thì do côphối trí viên coordinator Kayla đảm nhận. Nhỏ hơn tôi một con giáp, Kayla tốt nghiệp đại họcvới hai bằng cử nhân – toán và khoa học điện toán. Hơn một năm nay cô làm thảo chương viêncho sở Khai thác Dữ kiện, cảm thấy công việc chưa xứng đáng với khả năng, và nay thấy chức vụmới của nha ĐHHTĐ hợp với quá trình học hành của cô hơn nên xin thuyên chuyển qua làm việccho tháng sau khi nhận thêm nhiệm vụ load forecasting, tôi đệ trình lên ban giám đốc phúctrình tiên đoán đầu tiên. Đó cũng là một phúc trình tiên đoán đầy đủ và tinh vi nhất trong cáccông ty điện lực trong vùng này. Năm năm sau, mùa hè 1985, tôi đi họp ở Chicago, tình cờ đọcsố báo Chủ Nhật của tờ Chicago Tribune, và chú ý đến bài phóng sự cho biết mỗi mùa hè ởChicago có hàng trăm người – hầu hết là người già nghèo khó – chết tại nhà vì trời nóng. Tôimang bài báo về sở và trong các buổi nghỉ giải lao, thảo luận với Kayla phương cách tiên đoánsố người chết ở Thành phố Lộng Gió “The Windy City” bằng phép hồi thoái. Dự án này, tôi vàKayla làm chơi lúc vơi mùa hè, khi nhiệt độ trong không khí lên cao, khách hàng chạy máy điều hòa không khí thảgiàn, và do đó mức tiêu thụ điện tăng lên. Điều này ai cũng biết, nhưng đối với nhân viên điệnlực chúng tôi, độ ẩm của không khí mùa hè cũng quan trọng như nhiệt độ. Kết hợp nhiệt độ vớiđộ ẩm, ta có chỉ số nóng bức heat index là nhiệt độ biểu kiến mà cơ thể người và súc vật cảmthấy. Ví dụ, nếu nhiệt độ không khí là 90°F và độ ẩm 70%, chỉ số nóng bức lên đến 106°F, và cơthể cảm thấy như là 106°F, nóng hơn nhiệt độ 90°F rất nhiều. Chicago nằm bên hồ Michigan làmột trong Ngũ đại hồ nên không khí ẩm, và chỉ số nóng bức mùa hè rất cao. Chương trình điệntoán mà tôi gọi đùa là “máy đếm xác” có thể dự đoán số người chết ở Chicago căn cứ theo chỉsố nóng ba mùa hè liên tiếp, kết quả dự đoán của chúng tôi sai lệch số người chết thực sự khôngtới 5 phần trăm. Tôi hứng chí viết bài khảo cứu gửi cho quý san IEEE Load Forecasting nhưngkhông hy vọng được chọn đăng vì về mặt khoa học và kỹ thuật, kiểu mȁu toán học của máyđếm xác không có gì mới mẻ. Đứng đầu ban cố vấn tuyển chọn là một nhà toán học làm việccho công ty Commonwealth Edison gọi tắt là ComEd trụ sở trung ương đặt tại Chicago; anh giữnhiệm vụ tiên đoán tương tự như tôi. ComEd là công ty điện lực lớn nhất tiểu bang Illinois vàcung cấp điện độc quyền cho Chicago và vùng bắc tiểu bang Illinois. Anh gọi điện thoại cám ơntôi, yêu cầu sửa đổi vài chi tiết cho hoàn chỉnh, và đề nghị IEEE Load Forecasting đăng bài toán học và đồng nghiệp ở ComEd viết thư gửi đến mục Thư Bạn Đọc Letters to the Editorcủa tờ Chicago Tribune, dȁn chứng bài khảo cứu chứng minh mối quan hệ nhân quả giữa chỉ sốnóng bức cao và số người thiệt mạng của tôi. Tờ báo nhân dịp này chạy bài xã luận đòi hỏichính quyền thành phố phải có biện pháp để giảm bớt số người chết, và dân chúng hưởng ứngbằng cách biểu tình hàng ngày trước tòa thị sảnh. Hội đồng thành phố nhóm họp và quyết địnhthi hành hai biện pháp Hàng năm, trước khi mùa hè bắt đầu, chính quyền Chicago sẽ phânphát quạt máy chạy điện miễn phí cho các gia đình lợi tức kém. Và mỗi khi chỉ số nóng bức lênquá 95°F, các thương xá và các cơ sở thuộc sở hữu của thành phố như thư viện, sân vận độngtrong nhà, có máy điều hòa không khí phải mở cửa cho thị dân vào tránh ra tài làm thầy bói . . . toán của tôi cũng khấm khớ và được “thân chủ” tin dùng. Tôi khônghề hối tiếc về quyết định không “xuôi về nam” của Ngọc HoaNgày 26 tháng Giêng, 2022Bỏ Thì Thương, Vương Thì TộiTôi là người hiếu học nên yêu thích việc làm ở Công ty Tiện ích Montana-Dakota ở chỗ công tythật quan tâm đến việc đào luyện nhân viên. Ngoài những lớp huấn luyện khi công ty muadụng cụ mới, áp dụng kỹ thuật mới, hay tuân theo luật lệ mới, hàng năm bọn kỹ sư chúng tôiđược gửi đi học một khóa tu nghiệp ngắn, từ vài ngày đến một tuần, để trau giồi kiến thức nghềnghiệp. Trong các khóa học đó, tài liệu được in ra và phân phát trước, và mỗi ngày từ tám giờsáng đến năm giờ chiều, cả giảng viên lȁn học viên đều chạy mệt nghỉ. Giảng viên trưng ra càngnhiều dữ kiện và điều cần biết càng tốt, và học viên rán thu nhận nhớ được bao nhiêu thì nhớ,còn lại về nhà nghiền ngȁm Tư năm nay 1980, tôi tham dự khóa học “phân tích kinh tế và nhận biết phí tổn cho cácdự án điện lực” tổ chức tại khách Hyatt Regency ở Sacramento, thủ phủ tiểu bang thứ Sáu khóa học kết thúc, tôi không vội ra phi trường như mọi người vì sẽ ở lại thêm mộtđêm, sáng thứ Bảy mới bay về. Tôi lái xe thuê đến phố Cổ Sacramento ăn trưa và dạo quanhxem cảnh trí rồi tìm phòng điện thoại công cộng gọi người bạn cũ trước ở Bismarck là anh Dần;anh dọn nhà về đây hai năm năm trước, một đêm tháng Tư năm 1976, tôi gặp anh Dần khi cảnh sát được báo tin vợchồng anh ẩu đả trong nhà và gọi tôi đi thông dịch. Cả anh và chị Sả vợ anh đều khai họ cãi vãlớn tiếng chứ không hề xô xát với nhau. Để tránh rắc rối thêm với cảnh sát, anh tự nguyện rakhỏi nhà tới apartment của tôi ngủ trên xô-pha phòng khách. Tôi làm bạn với anh từ ra lớn lên và lập gia đình tại làng đánh cá Phú Tân gần cửa biển Thuận An cách Huế chừng15 cây số, anh Dần đi lính Hải quân làm đến thượng sĩ thường vụ đại đội, chức vụ thường đượcgọi là “thượng sĩ già.” Tháng Ba năm 1975, khi thành phố Huế và tỉnh Thừa Thiên thất thủ, anhliều mình về nhà đón vợ con đi di tản, nhưng vợ và con gái lớn đi bán hàng và anh chỉ có thì giờđem ba đứa con nhỏ ra đi. Anh gặp lại chị Sả là bồ cũ dan díu một thời trong đời lính Hải quânhải hồ rày đây mai đó; chị có cậu con trai 15 tuổi. Hai người xáp lại và trong trại tỵ nạn ĐồnChaffee ở tiểu bang Arkansas, khai là vợ chồng và đi định cư thành một gia Bismarck, anh Dần làm việc cho Winger’s Cabinets là xưởng chế tạo và thiết trí các loại tủ gắnvào tường. Ông chủ Winger người Mỹ gốc Đức mê làm việc và ưa chuộng thợ người Việt vì họkhéo tay, ít kèo nài quyền lợi, và nhất là làm việc xả láng, bất kể giờ giấc. Người thợ trụ cột củaWinger’s là Điều em chú bác của anh Dần. Điều giỏi nghề mộc và chịu khó nên được ôngWinger trọng dụng và kiếm được nhiều tiền, nhưng “độc thân tại chỗ” vì vợ và hai đứa con cònở bên Việt Dần khéo tay, tháo vát, và chuyên làm đầu nêu bày trò vui chơi cuối tuần cho tôi và vàingười bạn khác. Chúng tôi đi picnic, cắm trại, câu cá, hay thăm viếng nông trại ngủ lại đêm, ănuống hát hò, và giết gà heo bò làm thịt. Anh hiếu khách nên tiệc nhậu nhà anh lúc nào cũng đầykhách nhậu ké. Nhưng anh ở Bismarck không tới hai năm rồi không kèn không trống đưa bađứa con dọn về ngoại ô Sacramento. Chị Sả và đứa con riêng vừa lên đại học tách riêng điHouston thuộc tiểu bang Texas. Đường ai nấy đã nghe nói anh Dần “cưới” bà vợ mới trẻ hơn chị Sả, “về hưu non,” và hàng ngày uốngrượu hưởng nhàn chờ người mời đi ăn đám cưới, nhưng ngạc nhiên nghe anh gằn giọng xưngdanh khi nhấc điện thoại trả lời,“Đại tá Dần, tôi nghe.”“Kính chào đại tá,” tôi cười to như thể cho rằng anh nói giỡn, “Chuẩn tướng Ba Hoaxuống Sacramento họp tư lệnh vùng đây. Chiều nay đại tá có thì giờ cho tôi tới thăm không?”“Anh tới thì lúc nào tôi cũng rảnh, con Sương nhắc chú Ba Hoa hoài. Anh phải ở lại nhậuvới bọn tôi, ở chơi chiều mát về!” anh cười vui vẻ; bé Sương là con út của anh, năm nay lênchín.“Tôi là đứa thấy ăn tìm đến, thấy việc bỏ đi, lẽ nào bỏ qua bữa ăn?” tôi nhớ lại nhữngbuổi tiệc nhậu tối thứ Sáu tại nhà anh ở Bismarck.“Để tôi kêu vợ chồng thằng Điều qua thăm anh. Gặp anh, chắc con vợ nó mừng lắm.”Thấy Điều bước vào nhà anh Dần với người thiếu phụ trạc ba mươi tuổi, người đȁy đà, mặt trònvà hơi thô, và tóc cắt ngắn, tôi giật nẩy người đứng dậy. Vợ Điều không phải ai xa lạ; đó làManh, người đàn bà lấy chồng Mỹ đến Bismarck trước tôi khá lâu. Lần đầu gặp nhau, Manhnhận ra tôi là bạn của cô chủ mà gia đình có một thời mướn Manh làm “con ở.” Hết giúp việccho gia đình bạn tôi, Manh ra Vũng Tàu bán ba bar cho lính Mỹ và gặp Gary; anh ta mê Manhvà nhờ người thông dịch hỏi lấy nàng. Manh theo chồng về nước khi mang thai con trai giải ngũ về North Dakota làm thợ máy cho xưởng sửa xe của ông chú. Khi Manh có thailần thứ hai, anh bỗng trở chứng, suốt ngày than khổ vì đã chứng kiến thảm cảnh chiến tranhchết chóc, và không muốn tiếp tục sống. Anh đâm ra rượu chè bê tha, không đi làm, và bỏluống con cái nhà cửa khiến Manh thường tức bực chửi mắng. Một đêm, hai vợ chồng đánhlộn, cảnh sát can thiệp và bắt giam Gary. Được thả ra, anh bỏ Bismarck ra đi làm người khôngnhà không cửa đâu đó dưới miền nam. Đợt người Việt tỵ nạn đến thành phố này là một ânsủng đối với Manh vì trong thời gian qua nàng đơn độc như một hoang đảo, mọi việc sinh sốngvà nuôi con đều trông nhờ vào bà gia bà nhạc vì nàng không biết đọc hay biết viết – tiếng Anhcũng như tiếng lúc Điều và “đàn em” anh Dần thi nhau mời rượu “kỉnh đại tá,” tôi nói chuyện với tâm sự,“Em và anh Điều như có duyên có nợ với nhau, gặp nhau là ráp vô cái rụp. Té ra hồi nớem ở làng Phú Thanh kề bên Phú Tân và đã biết tiếng chị Mén vợ anh Điều. Chị nhỏ tuổi màbiết mua bán tảo tần, hàng ngày gánh cá lên Huế bán ở chợ Đông Ba.”“Cô theo Điều về đây, có hai đứa nhỏ không?”“Khi lấy anh Điều, em nghĩ nát nước và đi xuống đây một chắc một mình. Em dốt nát,chữ nghĩa mù tịt, đem con theo chỉ làm khổ tụi hắn nên để lại cho mệ bà nội nuôi.”“Tôi hiểu hoàn cảnh của cô,” tôi gật gù thông cảm.“Nhờ anh Điều mà em liên lạc được với ba mạ ở Phú Thanh và lâu lâu gởi tiền về cho; bamạ mừng lắm. Anh Điều cũng gởi tiền về cho chị Mén bên Phú Tân cho mẹ con chị bớt khổ.”* * *Sau tháng Tư năm 1975, chị Mén một thân một mình phải nuôi hai đứa con, một trai một gái,trong khi không thể tiếp tục làm nghề bán cá vì Việt Cộng cấm ngặt mọi việc buôn bán của tưnhân. May sao, khi chị sắp đến bước đường cùng thì nhận được tiền Điều bên Mỹ gửi về. Từnăm 1979, khi làn sóng người liều mình vượt biển bỏ xứ ra đi lên cao, hai đứa con thay nhauviết thư thúc giục cha gửi tiền về để mẹ mua chỗ trên tàu vượt biên. Điều xin làm giờ phụ trộiban đêm và cuối tuần để kiếm đủ tiền cho vợ con trốn thoát, nhưng rất khổ tâm khi nghĩ tớitương lai. Một bên là vợ con tình sâu nghĩa nặng, một bên là người yêu đầu gối tay ấp, bên nàocũng bỏ thì thương, vương thì tội. Thỉnh thoảng Điều nói bóng nói gió, “thân này ví xẻ làm đôi,”nhưng Manh biết rằng mình không thể sống kiểu một ông hai bà đó và hàng đêm úp mặt vàogối khóc con chị Mén vượt biên thành công đến trại tỵ nạn Pulau Bidong ở Mã Lai Á, và Điều làm giấybảo lãnh vợ con sang Hoa kỳ. Thủ tục giấy tờ kéo dài cả năm, và sau cùng Điều nhận được thưcho biết đơn xin định cư của vợ con được chấp thuận. Một hôm đi làm về, Điều không thấyManh chờ đón như mọi ngày và trên bàn ăn có tờ giấy viết nguệch ngoạc, “I leave. Love happy.” Điều đoán Manh đã nhờ cô bé Mỹ hàng xóm năm tuổi viết với ý, “Em ra đi vì emyêu anh và để anh hạnh phúc.”Sau tuần lễ ăn mừng gia đình đoàn tụ và kể chuyện nhớ nhung trong thời gian xa cách, chị Ménđòi Điều đưa đến “cơ quan chính phủ” lãnh tiền hàng tháng. Vì theo tin tức truyền miệng trongtrại tỵ nạn, “đến Hoa kỳ, mỗi tháng đàn ông đương nhiên lãnh ba ngàn đô la, đàn bà hai ngànrưỡi, và trẻ em hai ngàn.” Điều gạt đi nói không hề có chuyện đó, chị nổi giận buộc tội chồnglén lãnh tiền trợ cấp dâng cho mấy “con ngựa Thượng Tứ.” Chị đã học thêm được một điềukhá đúng là “ở Hoa kỳ, đàn bà và trẻ em trên hết,” và chị là chủ gia đình, Điều phải răm rắptuân theo lệnh chị. Nhất là làm bao nhiêu tiền phải đem về nộp hết cho chị; chị một lòng tin lànếu giữ chặt hầu bao, Điều sẽ không có tiền đem cho “vợ hầu” vợ bé.Ban đầu, Điều cố quên hình ảnh của Manh để hoàn thành bổn phận làm chồng làm cha và đềnbù cho vợ con đã sống khốn khổ trong địa ngục Cộng sản mấy năm trời. Nhưng mọi nỗ lực đềuthất bại, mọi thiện chí đều tiêu tan, Điều đau khổ và tuyệt vọng. Mỗi lần hai vợ chồng cãi vã totiếng, để tránh phiền nhiễu với cảnh sát và để hai con khỏi đau lòng, Điều bỏ sang nhà anh Dầnngủ đêm. Một đêm cuối mùa đông năm 1982, Điều lái xe rời Sacramento, không cho ai biết điđâu, và không trở về nhà. Chị Mén lồng lộn, quyết dọ hỏi tông tích của Manh để đi đánh ghenvà triệu chồng mình về.* * *Rời tổ ấm với hai dòng nước mắt, Manh xách chiếc xắc tay đựng hai bộ quần áo và các đồ dùngcá nhân đi xe buýt chừng 100 dặm Anh tới chùa Phổ Giác gần San Francisco. Manh đã đến đâynói chuyện trước với thầy trụ trì; thầy là kỹ sư tốt nghiệp ở Pháp và sang Hoa kỳ lập ra chùa đểtu hành và phục vụ thiện nam tín nữ người Việt cũng như người Mỹ. Manh cúi đầu thưa thầy,“Con đã suy nghĩ kỹ và xin thầy cho con gởi mình trong cửa Phật. Con dốt chữ nghĩa vàkhông biết kinh kệ, xin thầy cho con giữ việc bếp núc dọn dẹp chùi rửa quét tước trong chùa.”“Thầy hiểu hoàn cảnh của con và đồng ý cho con nương mình nơi đây, nhưng phải quamột thời kỳ thử thách sáu tháng xem con có duyên tu hành hay không. Trong thời gian đó, convȁn là người thường và muốn trở về trần tục lúc nào cũng được,” thầy hiền từ gật đầu.“Con xin đội ơn thầy,” Manh phục xuống lạy tháng sau, Manh được thầy cho thế phát quy y và ban cho pháp danh Như Thanh. Ni côchịu khó làm việc, vui tính và hay giúp đỡ khách thập phương viếng chùa, và khi vơi việc đượcthầy chỉ bảo kinh kệ. Ni cô hầu như quên hết chuyện đời đã qua. Cho đến khi chị Mén xuấthiện và xỉa xói vào mặt cô,“Mi là con khốn nạn lấy chồng tau. Mi ở với hắn, ăn lút mặt lút mày, rút tỉa hết tiền bạchắn để dành cho mẹ con tau, chừ vô chùa trốn chui trốn nhủi như ri.”“Nam mô A Di Đà Phật,” Như Thanh giật mình, nhưng lấy lại bình tĩnh và nhắm mắtniệm Phật.“Mi đừng giả đò tu với hành. Không trả chồng lại cho tau, tau xé xác ra, tau lột truồngcho phô ra hình hài dơ dáy của mi,” chị Mén được nước làm tới trong khi ni cô tiếp tục kiến cảnh nhục mạ ni cô Như Thanh của chị Mén, thầy trụ trì can thiệp,“Chị kia tới đây tìm ai mà đòi hành hung kẻ tu hành?”“Thưa thầy,” chị Mén luống cuống biện bạch, “Cô ni cướp chồng tui, nhờ thầy thươngxót mẹ con tui mà biểu hắn trả chồng lại cho tui.”“Cô Như Thanh lánh mình nơi cửa thiền không dính dáng chuyện trần đời hơn một nămnay. Chị thấy chồng chị đâu đây thì cứ việc trói cổ anh ta đem về. Đừng làm nhơ uế nơi thanhtịnh.”“Tui cõng con qua nửa vòng trái đất để gặp chồng thì bị người chồng bạc bẽo phụ rảy bỏđi,” chị Mén khóc thút trong ba người – chị Mén, ni cô Như Thanh, và Điều – ai đáng thương hay đáng trách hơncả? Tôi thì chịu, không thể trả Ngọc HoaNgày 9 tháng Hai, 2022Về Tắm Ao TaMùa hè năm nay 1980, lần đầu tiên tôi lấy đến hai tuần lễ nghỉ hè như các bạn ở Công ty Tiệních Montana-Dakota. Kỳ này, trên đường lái xe đi Texas thăm bạn bè như mấy năm trước, tôighé khoảng nửa đường thăm cô em cô cậu là Huệ. Nhà Huệ ở làng Cahokia thuộc tiểu bangIllinois, nằm trên bờ đông sông Missouri, và thuộc vùng đô thị St. Louis. Thành phố St. Louis lạithuộc tiểu bang Missouri và nổi tiếng nhờ có Gateway Arch Tây Tiến Môn là đài kỷ niệm cuộcbành trướng lãnh thổ Hoa kỳ về phía là con o Hoàng và lớn hơn tôi sáu tuổi, Hoàng là tên dượng. Ông bà nội sinh ra tám, chínngười con nhưng chỉ có cha và o sống sót qua thời trứng nước. O là em mà lấy chồng sớm nênhai người con đều lớn tuổi hơn tôi. Huệ là con đầu, đi làm sở Mỹ, kết hôn với Bill là quân nhânMỹ, và đã theo chồng về nước từ năm 1969. Cả o dượng và gia đình đều ở Việt nam nên giađình tôi là người thân duy nhất của Huệ ở ôm chầm lấy tôi, rơm rớm nước mắt kể kể,“Cậu tuần nào cũng gọi điện thoại hỏi thăm tui, còn anh lớn nhất nhà, mai mốt cậu nằmxuống sẽ thay mặt cậu, mà chẳng bao giờ đoái hoài đoái quở tới con em ni. May là tui năn nỉ ỉôi với chị Châu nên anh chị mới ghé nhà tui, chớ không con Lily lớn lên sẽ quên mất cậu Ba Hoalà ai.” Lily là con gái duy nhất của Huệ và Bill năm nay lên sáu, lớn hơn bé Mạc của tôi hai tuổi.“O mi nói chi mà quá đáng rứa?” tôi cười dã lã, vuốt lưng cô em họ, và nói ba lơn, “Nămngoái tui quên gởi thiệp Giáng sinh cho o mi và ông Bill hả? Bậy quá, năm nay tui gởi thiệp gấpđôi hí?”“Khi mô anh cũng giỡn được! Hai lần lên Bismarck gặp anh, về nhà ông Bill khen anhkhông tiếc lời.”Tôi bước lại bắt tay Bill, người đàn ông trạc ngũ tuần mới đi làm về còn com-lê cà-vạt chỉnh đây chúng tôi đã gặp nhau, khi ông lái camper xe làm nhà di động dùng đi du lịch và cắmtrại đi nghỉ hè và ghé qua North Dakota thăm cha mẹ. Huệ nói Bill là sĩ quan cao cấp giữ chứcvụ quan trọng trong nha Quân báo Quân đội Hoa kỳ, nhưng không cho biết gì thêm. Khi tôi tòmò hỏi tới, Bill cười đáp bằng câu nói người Mỹ hay dùng khi không muốn tiết lộ điều gì,“Nếu tôi nói với anh, tôi sẽ phải giết anh.”Có lần Bill vui miệng giải thích phương cách phối kiểm và phối hợp tin tức tình báo giữa bộ Chỉhuy Phòng không Bắc Mỹ NORAD và ba bộ Chỉ huy Chiến đấu hợp nhất hiện nay của bộ Quốcphòng là bộ Chỉ huy Âu châu EUCOM, bộ Chỉ huy Ấn độ dương - Thái bình dươngINDOPACOM, và bộ Chỉ huy Miền Nam SOUTHCOM. Tôi biết mình gặp thứ dữ, không những ngày tôi và Quỳnh Châu thăm viếng, Bill và Huệ đi làm như thường, nhưng gửi Lilyđi chơi với Mạc. Chúng tôi đi thăm các nơi như Gateway Arch, viện Bảo tàng Nghệ thuật vườn Bách thảo Missouri, Lily mang vẻ đẹp ngây thơ nửa Âu nửa Á, nói liến thoắngnhưng rất dễ thương, quấn quýt với Mạc, và buổi chiều về dắt tay Mạc đi khoe với bọn trẻ conhàng xóm, “My best cousin” Anh họ bảnh nhất của tao. Hai đứa về nhà với một lô đồ chơi bạnLily tặng. Sáng ngày thứ tư là ngày cuối cùng chúng tôi ở Cahokia, trước khi đi làm, Huệ dặn,“Chiều nay anh chị về sớm để sửa soạn họp mặt với bạn tụi tui. Được dịp khoe anh chịvà cháu, ông Bill khoái lắm.”Lily níu tay và kề miệng vào tai tôi nói nhỏ,“Tối qua, con nghe lóm ba nói với má là sẽ dành cho cậu một ngạc nhiên lớn. Con nghĩkhông ra là ngạc nhiên gì; tối nay cậu biết, cậu nói cho con biết với nhé.”“Không cần đâu, Lily,” tôi cười khà khà, “Con cứ bám sát cậu thì biết ngay chứ gì.”Hầu hết khách dự buổi tiếp tân là các cặp vợ chồng Việt - Mỹ, vợ Việt chồng Mỹ, quen thân vớiHuệ. Duy có một thiếu phụ trẻ người Âu dáng người tương đối nhỏ nhắn, tóc cắt ngắn, mắtxanh biếc, và da trắng nõn đến một mình, Bill giới thiệu là Katya bạn cùng làm việc với chào tôi bằng tiếng Việt khá rõ ràng,“Chào anh Ba Hoa, rất hân hạnh được biết anh.”Đằng sau lưng tôi, Lily và Mạc la lên, “Ngạc nhiên! Ngạc nhiên!” rồi bỏ chạy mất. Chính tôicũng ngạc nhiên, nhìn Katya chờ đợi. Nàng chậm rãi giải thích bằng tiếng Anh,“Tôi là người Nga, Katya’ là tên tắt của Ekaterina,’ nhưng chồng tôi người Việt. Bill nóicó thể anh quen anh ấy.”“Vậy sao? Chồng cô tên gì?” tôi bước qua một ngạc nhiên khác.“Anh ấy tên Hướng tốt nghiệp kỹ sư điện năm 1970. Tôi có tấm hình Hướng đây, để tôilấy anh xem.”Người trong hình là Hướng bạn đồng khóa kỹ sư với tôi. Tướng người cao mảnh khảnh, nét mặtdễ nhìn, và giọng nói từ tốn, Hướng thuộc loại học giỏi trong lớp. Ít ai biết rõ đời tư của Hướng,ngoài chuyện Hướng là con một và có cha mẹ lớn tuổi nên được hoãn dịch vì lý do gia thường đi cặp kè với Lữ người Việt gốc Hoa, người bị bạn bè nhại tiếng Quảng Đông gọilà Á Lù, và không chơi với ai khác. Tụi bạn kháo nhau khi thi vào trường Điện, Á Lù bị “thiếuđiểm chút xíu,” phải đút lót tiền bạc để trúng tuyển, và sau đó mướn Hướng ở luôn trong nhàdạy kèm để đủ khả năng học và thi lên lớp trên. Nghe đâu năm học đệ nhị niên, Hướng đượcông bà già cưới cho cô vợ miệt vườn từ dưới quê Châu Đốc, Chương Thiện gì đó. Vợ Hướng sắcsảo mặn mà và đảm đang, buôn tảo bán tần nuôi chồng đi học, và hết lòng phụng dưỡng chamẹ ngày tốt nghiệp, Hướng khỏi lo bị động viên đi lính nên tà tà vào phi trường Tân Sơn Nhứtxin làm cho Hoa kỳ. Không ai biết Hướng làm việc gì, một đứa bạn thấy Hướng ngồi băng sauchiếc xe du lịch Chrysler Plymouth màu xanh to giềnh giàng có tài xế và cận vệ người Mỹ ngồi ởbăng trước. Trong một buổi họp mặt bạn đồng khóa hàng năm, thằng Hữu, một cây nói tục,cắc cớ hỏi Hướng,“Làm sở Mỹ, ngoài việc cầm cu cho Mỹ đái, nói chuyện bằng tiếng Anh mỏi tay, và moiđược lắm địa tiền mày làm cái nghề ngỗng gì?”“Tao chuyên về ra-đa,” Hướng không thèm đối đáp câu hỏi xóc óc, “Giờ tao làm quảnđốc đài Ra-đa Phú Lâm trên đường đi về miền Tây. Với kỹ thuật tân tiến nhất hiện nay, đài rađa của tao có khả năng dò tìm mọi hoạt động quân sự khắp vùng Đông nam Á. Ở bản doanhtrong phi trường, tao là chuyên gia số một về kỹ thuật ra-đa đó.”Hôm nay Katya điền vào khoảng trống về cuộc sống của Hướng sau tháng Tư năm 1975,“Tốt nghiệp cao học vật lý ở Học viện Vật lý và Kỹ thuật Mạc Tư Khoa, tôi được chỉ địnhtheo học khóa Việt ngữ cấp tốc để chuẩn bị công tác ở Việt nam. Tháng Năm năm 1975, tôi vàmột nhóm chuyên viên bay sang Sài gòn với nhiệm vụ nghiên cứu cách tháo gỡ và mang về hệthống ra-đa Hoa kỳ để lại. Tôi được lệnh phải dùng mọi cách, kể cả dụ hoặc và lung lạc tìnhcảm, để hấp thu kiến thức của Hướng; anh là chìa khóa duy nhất để Nga sô có được kỹ thuậtđó.”“Thật vậy sao?” tôi hỏi lại.“Về mặt khoa học và kỹ thuật, Nga sô thường đi sau Hoa kỳ từ năm đến mười năm, tùytheo tài nghệ đánh cắp bí mật của các tay gián điệp; nay vớ được Hướng là cả một cơ hội bằngvàng,” Katya cười buồn và tiếp tục vốn liếng Việt ngữ của Katya chưa đủ để trao đổi kiến thức kỹ thuật, và thông dịch viên Hànội cung cấp vừa dốt chữ nghĩa lại vừa mù tịt về khoa học, Katya và Hướng dùng tiếng Anh nóichuyện với nhau, cho đám thông dịch xoi bói rình mò ra rìa. Katya là chuyên gia vật lý, và trongngành vật lý, Anh ngữ là ngôn ngữ quốc tế. Đối với Katya, người thanh niên da vàng thông tháivà lịch sự là mȁu người đàn ông lý tưởng, so với bọn đàn ông Nga thô lỗ cộc cằn, mở miệng sặcmùi giáo điều của Lenin và đảng Cộng sản, và toàn nghiện rượu nặng. Hướng không sao cưỡngnổi sắc đẹp cám dỗ của người thiếu nữ Nga và những biệt đãi vật chất được hưởng theo quychế nhân viên sứ quán Nga sô. Thế là hai người say mê “làm việc” và yêu hè năm 1977, toàn bộ hệ thống ra-đa được tháo gỡ và đóng thùng gửi về Nga sô, cùng vớimọi tài liệu kỹ thuật bằng Anh ngữ. Nhưng công tác của Katya chưa hoàn tất, nàng được lệnhkết hôn với Hướng và đưa chồng về Mạc Tư Khoa. Hai người ở trong căn apartment tiện nghivà làm kỹ sư nghiên cứu cho xưởng chế tạo võ khí ở ngoại ô thành phố. Hai năm sau, khi tráichanh đã vắt hết nước, Hướng trở thành vô ích. Katya bị chỉ định sang Cuba thiết lập đài ra-đadùng kỹ thuật của Hoa kỳ để nghe ngóng hoạt động quân sự ở Bắc Mỹ, một kiểu gậy ông đậplưng không thể cưỡng lại lệnh của đảng và có dự định riêng nhưng không cho Hướng biết đểchàng khỏi bị liên lụy. Trên chuyến bay từ Mạc Tư Khoa sang thủ đô Havana của Cuba, phi cơghé lại phi trường Quốc tế Montréal-Mirabel gần Montréal, Gia Nã Đại. Thừa lúc hai nhân viênphụ tá có nhiệm vụ đi kèm giám sát sơ ý, Katya vụt chạy thục mạng tới trạm quan thuế và di trúthuộc thẩm quyền Hoa kỳ xin tỵ nạn chính trị. Tại các phi trường lớn của Gia Nã Đại, Hoa kỳđược phép lập các trạm như thế để tiếp nhận hành khách nhập cảnh nước để tay lên ngực nhớ lại giây phút gay cấn khi nàng phóng người qua lằn sơn đỏ dùng làmbiên giới Gia Nã Đại - Hoa kỳ ở phi trường,“Lần đầu tiên trong 32 năm của đời tôi, tôi được hít thở không khí tự do thực sự. Saunhững cuộc phỏng vấn điều tra của bộ Ngoại giao và sở Trung ương Tình báo CIA, và khi họ biếtnhiệm vụ và công tác của tôi, tôi được chuyển về đây làm việc dưới quyền Bill. Cố gắng giúpHoa kỳ hiểu rõ hơn về hoạt động gián điệp của Nga sô. Đó là mùa thu năm ngoái.”* * *Hướng bị đuổi ra khỏi căn apartment và dọn vào căn phòng chật hẹp dành cho thợ độc thân tốităm và ẩm thấp, mùa hè nóng như nung, và mùa đông lạnh cóng vì không có sưởi. Ở xưởng chếtạo võ khí, Hướng bị “hạ tầng công tác” xuống làm thợ. Một tháng trôi qua, rồi hai tháng, và batháng, không thấy Katya gửi thư về như đã hứa, Hướng biết mình đã bị dồn vào bước đườngcùng và nếu sơ hở lộ ra một chút bất mãn, sẽ bị đày đi Siberia lao động mút mùa trong trại tậptrung. Hướng tập sống như thợ thuyền Nga, buổi sáng vào xưởng rót một ly Vodka uống cạntrước khi làm việc, và chiều về ôm chai Vodka nhăm nhi đến khi vào giường. Một năm sau,Hướng bị đuổi việc hẳn và đuổi ra khỏi căn phòng. Thất nghiệp và không có chỗ ở, Hướng tiếpxúc với “Đại sứ quán” tòa Đại sứ Việt Cộng, xin giúp đỡ phương tiện về nước. “Quan chức”Việt Cộng từ chối bằng lời mỉa mai,“Anh vốn là tàn tích của Mỹ Ngụy, sau ngày giải phóng’ lại hợp tác với nước ngoài; giờsao không cầu cứu chị vợ Liên sô’ giúp cho?”Trong lúc tuyệt vọng, Hướng được người quen trước là du học sinh từ Hà nội sang thương tìnhđưa gia nhập vào tập thể người Việt sống trong bóng tối. Đó là một xã hội gồm cựu du học sinhhay cựu công nhân “đi lao động nước ngoài” ở Nga sô, Ba Lan, Tiệp Khắc, và Hung Gia Lợi, vàsau thời gian đi học hoặc đi làm chính thức, trốn ở lại không về nước. Họ không từ bất cứ côngviệc nào có thể kiếm ra tiền từ buôn lậu hàng hóa đến đưa người trốn bất hợp pháp từ nướcnày sang nước khác. Một năm sau, Hướng thành tay anh chị, làm ăn phát đạt, kiếm được nhiềuđồng rúp tiền Nga, và được đàn em kính nể. Hàng đêm vui thú với gái Nga và Tây Âu, ăn uốngrượu chè sang trọng, và tiêu tiền như nước. Một hôm, sau một đêm trác táng, sáng dậy ho ramột búng máu. Bác sĩ cho biết đã mắc bệnh tháng sau, Hướng mang thân tàn ma dại và hai buồng phổi đầy vi trùng Koch trở về Sàigòn. Tìm bà vợ miệt vườn mười năm trước, tạ tội, thề nguyền, và xin ca bài “Ta về ta tắm aota.” “Ao nhà” hoan hỉ chấp nhận. Từ đó, hai người sống hạnh phúc bên nhau như trong . . .chuyện cổ Ngọc HoaNgày 23 tháng Hai, 2022Chuyện Ngu Thứ NămCả tháng nay, tôi và Quỳnh Châu chuẩn bị đón tiếp khách quý là Cao anh nàng và Monique, côvợ người Pháp của anh. Hồi đó Cao học kỹ sư công nghệ, học chung các lớp khoa học cơ bản vớitôi, và chơi với tôi khá thân. Tốt nghiệp, Cao đi du học ở Đức rồi sang Pháp làm việc và sống vớigia đình bên ngoại. Ba năm trước, Quỳnh Châu cùng bé Mạc đi Pháp và đã gặp Cao, lúc đó anhcòn độc thân. Trong lúc Quỳnh Châu háo hức gặp anh và chị dâu, tôi chợt nghĩ tới một câu hỏicắc cớ,“Em ơi, người như Monique là gì của anh?”“Monique là vợ anh Cao, anh Cao là anh vợ của anh,” nàng háy một cái thật dài, “Vậymà cũng hỏi!”“Này nhé, hai người đàn ông lấy hai chị em ruột thì gọi là anh em cột chèo’ hay anh embạn rể.’ Hai người đàn bà lấy hai anh em ruột thì gọi là chị em bạn dâu.’ Nhưng bây giờ,Monique và anh lấy hai anh em khác phái thì gọi là chị em gì?” tôi cười nửa miệng.“Cái đó em chịu thua, để hôm nào hỏi mẹ coi.”Nàng tới hỏi mẹ, mẹ nghĩ không ra nhưng lại kể chuyện xưa,“Từ nhỏ đến chừ, thằng nớ có cái tật đưa ra câu hỏi không ai trả lời được như rứa!Ngoài làng quê Quảng Bình bị anh hắn là thằng Quang cú đầu mãi mà không chừa.”“Thật vậy sao mệ? Ba con bị bác Quang cú đầu. Ha ha . . .” Mạc thừa dịp hỏi tới; con tôilên năm và mê nghe chuyện xưa của người lớn.“Hồi cha mi bằng tuổi mi,” mẹ vuốt tóc Mạc, “Hắn mê đọc sách quên ăn quên ngủ nên bịthằng Quang kêu là con mọt sách. Chuyên môn hỏi những câu như Khi mô hết đánh nhau?’ vàPhật với Chúa ai giỏi hơn?’ và hỏi gặng đến khi lãnh cái cú đầu, Đồ lì lợm như trâu!’ mới thôi.”“Ba con bị kêu là con trâu hả mệ?” thằng bé cười hăng chuyện cậu mợ đến thăm, Mạc níu tay Quỳnh Châu,“Mợ Monique biết nói tiếng Anh không? Làm sao con nói chuyện với mợ?”“Con đừng lo. Mợ học giỏi, giỏi hơn ba nữa, và giỏi tiếng Anh lắm,” vợ tôi trấn an đậu tiến sĩ đệ tam cấp kinh tế ở Đại học Paris, trước năm 1970 gọi là Sorbonne. Chịnói tiếng Anh với giọng Pháp và không phát âm được âm “h” trong các chữ như “home” và“husband” nên tôi phải hỏi đi hỏi lại và đoán chừng mới hiểu. Ngược lại, từ ngày tốt nghiệptrường kỹ sư, tôi không có dịp nói tiếng Pháp nên muốn nói phải dịch ra trong đầu trước, nếukhông sẽ bật ra nói tiếng Anh. Trong những lần đi shopping với nhau trong thương xá, chị và tôikhiến người Mỹ nào đi qua cũng đảo tròn mắt ngạc nhiên Chị nói tiếng Pháp, tôi nói tiếng Anh,và chúng tôi hiểu nhau hoàn ngày cuối cùng của vợ chồng Cao ở đây nhằm cuối tuần trước lễ Chiến sĩ Trận vong, ngàythứ Hai cuối cùng của tháng Năm, theo truyền thống là lúc các hoạt động mùa hè bắt Châu sắp đặt chúng tôi đi cắm trại ngoài hồ với gia đình một người bạn Mỹ để, “Anh Caovà Monique nếm mùi thôn dã của dân North Dakota tụi tui,” nàng nói với một thoáng tự tôi mang thức ăn nướng ngoài trời, cần câu và mồi câu cá, xuồng nhôm để chèo đi chơitrên hồ, và lều để cắm trại ngủ thứ Bảy, bưu tá đến phát thư khi tôi bận rộn mang các thứ cần dùng chất lên xe. Thấytrong xấp thư có thư thằng Lộc, người bạn thân đồng khóa kỹ sư điện đang ở Sài gòn và làmviệc ở Công ty Điện lực Miền Nam “CTĐLMN”, tôi lấy nhét vào ba lô đựng bộ quần áo phònghờ cho Mạc và các đồ dùng cá nhân. Tới hồ, sau khi dựng lều, nướng thức ăn, và ăn uống, mọingười rủ nhau đi câu, bơi xuồng, hay dạo chơi quanh hồ, tôi tình nguyện ở lại “giữ thành” vàdọn dẹp rồi mở thư thằng Lộc ra xem,Báo cho mày biết một tin thật buồn. Vợ chồng thằng Song và bốn đứa con vượt biên bịbại lộ, ghe bị công an biên phòng đuổi theo bắt được. Ngự Thanh vợ nó và hai bé gái útchết ngộp dưới khoang ghe. Nó bị tù giam ở Cà ôm mặt khóc ròng. Mười sáu năm trước, ngày đầu tiên bước vào giảng đường đại học, mặtmày ngơ ngáo, tôi bắt gặp nụ cười thân thiện của thằng Song. Nó cao hơn tôi nửa cái đầu, thânhình chắc chắn, và với giọng Huế hơi lai tiếng Bắc làm quen với tôi,“Tao là Song ở Pleiku, tao thi Tú tài I và Tú tài II ở Nha Trang nên biết tiếng mày từ lâu.”Cả hai kỳ thi đó, tôi đậu thủ khoa hội đồng thi. Vậy là hai thằng quen nhau. Năm đầu tiên họcđại học của tôi đầy phong ba bão táp. Ban đầu tôi được cấp học bổng Colombo đi du học GiaNã Đại và được gửi đi học Anh văn ở hội Việt Mỹ để chuẩn bị. Trong suốt sáu tháng, buổi sángtôi đi học Anh văn, chiều vào Phú Thọ học các lớp chiều, và tối nhờ nó giảng lại bài rồi học bàiđến ba bốn giờ sáng. Ba ngày trước khi đáng lẽ tôi sẽ lên đường, nha Du học gửi văn thư báotin học bổng bị thu hồi; hỏi ra mới biết thời trung học tôi nghịch ngợm phá phách nên ông hiệutrưởng thù vặt báo cáo tôi dùng học bạ giả. Thằng Song cười khà khà an ủy tôi,“Việc chó gì mà buồn! Mày không đi du học thì ở nhà với con Quỳnh Châu càng sungsướng đời tuổi trẻ. Tụi mình học kỹ sư điện Phú Thọ thua kém gì ai, có chăng thua ông cọp cáiđuôi!”Nhưng cái số con rệp vẫn bám theo tôi. Trong kỳ thi lên lớp cuối năm, tôi bị một giáo sư trù,nhất định đuổi học, tôi xin lỗi cách mấy ông cũng không chấp nhận. Tôi tuyệt vọng và nghĩ tớichuyện tình nguyện đi lính hay tự kết liễu đời mình. Thằng Song không cho tôi buông xuôi vì,“Còn nước còn tát,” nó nói. Nó bắt tôi ngồi sau chiếc VeloSolex cà tàng và chở đến nhà các giáosư khác nhờ xin lỗi ông kia giùm tôi. Có lẽ nhờ nỗ lực này mà tôi được cho ở lại sau, hai thằng bắt đầu học khác lớp, nhưng hàng đêm vẫn gặp nhau tán dóc và cùng họcbài. Cuối tuần, nếu không phải học thi hay dạy kèm tư gia, chúng tôi đèo nhau trên chiếcHonda đi giang hồ khắp các tỉnh miền Tây, những địa phương dân tình thật thà và hiếu hè mỗi đứa về nhà mình, nhưng thằng Song thường ghé xuống Tuy Hòa thăm tôi, và tôilên Pleiku chơi với nó và Ngự Thanh. Nàng và bạn tôi đã bồ nhau từ thời học trường trung họcPleiku, và hai đứa thành hôn khi thằng Song về nhà nghỉ Tết năm đệ tứ niên, trước khi ratrường.* * *Thằng Song ngồi tù hơn một năm thì được thả. Về Sài gòn bị CTĐLMN đuổi việc, bụng đói đầugối phải bò, nó xoay ra làm nghề sửa chữa động cơ điện và máy biến thế tại tư gia. Dần dần, nókhuếch trương cơ sở và kêu bạn đi “học tập cải tạo” được “ra trại” thả về tới làm chung vàchia xẻ miếng cơm manh áo. Khi công ty đủ lớn, nó phát triển phương cách chế tạo dây điện từđể cung cấp cho CTĐLMN và các cơ sở kỹ nghệ, mời bạn về hưu từ CTĐLMN tới làm việc, và lậpban kỹ sư tiếp thị hùng hậu, giàu kinh nghiệm, và thấu năm 2000, thằng Song là một kỹ nghệ gia tăm tiếng, giàu có, và giao du rộng rãi có bạn làmtới chức “trưởng phòng” tương đương với phó tổng giám đốc ngày trước của CTĐLMN. Tronglúc đó, ở Hoa kỳ, ngoài nhiệm vụ giám đốc kế hoạch ở Công ty Tiện ích Montana-Dakota, tôiđược Tổ hợp Điện lực Vùng Trung-Lục địa viết tắt là MAPP đề cử làm đại diện trong Tiểu banThẩm định Khả năng Đáng Tin cậy của hệ thống điện Bắc Mỹ viết tắt là RAS. Tiểu ban gồm đạidiện mười vùng điện lực Bắc Mỹ mà MAPP là một, và đại diện hai chính phủ Hoa kỳ và Gia NãĐại. RAS thẩm định mạng lưới liên kết toàn Bắc Mỹ, phúc trình khuyết điểm có thể đưa tới cácvụ cúp điện rộng lớn, và đề nghị biện pháp phòng họp hàng tháng ở các thành phố khác nhau, và tôi trở nên thân thiết với đại diện chính phủGia Nã Đại là Douglas. Anh là giám đốc nha Năng lượng thuộc bộ Tài nguyên Thiên nhiên và caiquản chương trình viện trợ dự án điện lực cho các nước kém mở mang như Mozambique,Tanzania, và Zambia ở Phi châu. Một hôm đi ăn tối với nhóm RAS, Douglas kể chuyện đứa contrai út Peter vừa tốt nghiệp đại học, đã được nhận vào trường y khoa, và muốn nghỉ một thờigian đi du lịch rồi trở về đi học. Peter dự định viếng thăm Đông nam Á trước tiên, Douglas hỏitôi,“Anh khuyên cháu nên làm gì để chuẩn bị cho chuyến đi đó?”Tôi mừng khấp khởi. Peter có thể là tuy-dô tiếng Pháp “tuyau” là đường dây thế lực lớn đểCTĐLMN tiếp xúc và liên lạc với Douglas rồi từ đó xin viện trợ của Gia Nã Đại – dễ như trở bàntay. Mỗi dự án điện lực từ vài trăm triệu đến một tỉ đô la sẽ giúp dân Việt nam bớt khổ phầnnào, không lẽ Việt Cộng kiếm cách ngăn cản? Tôi viết thư cho thằng Song, trình bày cơ hội hiếmcó, và mong nó và các bạn cũ ở CTĐLMN cố gắng thực hiện. Nhận được thư trả lời,Tao và các bạn mình hoàn toàn đồng ý với mày. Mày nói với ông Douglas là tụi tao sẽkhoản đãi và đưa Peter đi chơi khi cậu ấy đến Việt nam. Tao sẽ cho người dẫn cậu taviếng cảnh Sài gòn, Đà Lạt, và Huế. Tụi tao không bỏ lỡ dịp may này đâu!Peter sắp xếp viếng thăm Thái Lan và Cam Bốt rồi đến Việt nam và sau đó đi Trung hoa và NhậtBản vào tháng Mười. Cậu sinh viên Gia Nã Đại không thể ngờ rằng các sự biến chính trị quốc tếsẽ gây bao nhiêu phiền nhiễu cho chuyến đi này. Cuối tháng Tư, Hà nội thình lình đem bà Trầnthị Liên người Gia Nã Đại gốc Việt đang bị giam giữ ra hành hình về tội buôn bạch phiến, mặc dùchính phủ Gia Nã Đại yêu cầu xét lại vì bà Liên một mực kêu oan, nói bị người ta lừa nhờ manggiúp bạch phiến mà bà không hề hay biết. Chính phủ Gia Nã Đại phản kháng mạnh mẽ vàngưng chương trình viện trợ kinh tế, liên hệ giữa hai bên rất căng thẳng, và du khách mangthông hành Gia Nã Đại bị công an Việt Cộng làm khó đến Sài gòn nhằm tuần lễ Tổng thống Hoa kỳ Bill Clinton viếng thăm Việt nam, chuyếncông du mở đường cho doanh nhân Hoa kỳ và thế giới vào đầu tư, giúp mở mang kinh tế và cứunguy 100 triệu người dân đói khổ. Chính quyền Việt Cộng chỉ chào mừng Clinton bằng một tấmbiểu ngữ và loan tin trên đài truyền hình và truyền thanh. Nhưng ở Hà nội cũng như Sài gòn,hàng vạn người dân ùa ra đường chào đón và bắt tay vị tổng thống Mỹ trẻ tuổi bình dị. Hà nộiđâm ra hoảng hốt, sợ dân chúng thừa dịp biểu tình đòi nhân quyền và chống chính phủ, và ralệnh cho công an ráo riết canh phòng bọn “phản động.”Lựa lúc Clinton ở Việt nam, Lý Tống 1946 - 2019 ra tay hành động. Từ Hoa kỳ, người phi côngchống Cộng của người Việt và Cuba khắp thế giới sang Thái Lan giả vờ học lái máy bay, lấy phicơ bay về Sài gòn, và thả truyền đơn hô hào dân chúng nổi dậy lật đổ chính quyền Việt là toàn bộ hệ thống công an báo động, túa ra lùng kiếm “tay sai đế quốc và gián điệp Xịaxâm nhập nước ta.” “Xịa” CIA là sở Trung ương Tình báo Hoa khách sạn, Peter gọi điện thoại cho thằng Song. Đang bị công an theo dõi từng bước đi vàcanh chừng trước cửa nhà, bạn tôi nói ngay,“Chúng tôi không thể gặp cậu. Cậu phải cẩn thận và cần khai thực là cậu không hề quenbiết chúng tôi.”“Tại sao?” Peter ngơ ngác hỏi.“Bạn tôi bên Mỹ sẽ giải thích cho cha cậu biết sau. Chúc cậu may mắn!”Ngay sau đó, công an chìm ập tới “mời” Peter về trụ sở để “làm việc.” Sau hai ngày đêm bị trahỏi gắt gao mà không có gì để cung khai, Peter bị giải ra phi trường đưa ra Hà nội rồi bị đẩy sangTàu. Hành trình qua Việt nam bị rút ngắn, nhưng tính mạng vȁn còn. Hú hồn!Trong câu ca dao “Ở đời có bốn chuyện ngu, Làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu,” có lẽ phải kểthêm chuyện ngu thứ năm của tôi Ai đời lại cả tin dầu sao Việt Cộng cũng còn chút lương tâmnghĩ tới phúc lợi của dân chúng? Tôi ngu và làm tài hay khiến con của bạn xuýt bị nguy tôi yêu đồng bào tôi và không có gì để ân Ngọc HoaNgày 9 tháng Ba, 2022NGUYỄN NGỌC HOANguyễn Ngọc Hoa là bút hiệu của một kỹ sư hồi hưu với quá trình học hànhbao gồm các lãnh vực khoa học và kỹ thuật, quản trị xí nghiệp, quản trị côngquyền, và kinh tế. Về mùa hè sống ở North Dakota, một tiểu bang miền bắcHoa kỳ, và về mùa đông làm cư dân Texas, một tiểu bang miền nam. Dạomới vào đời,sống ở Sài gòn mười năm, đi học, dạy học, và làm việc đến thángTư 1975 thì bỏ nước ra đi. Viết để kể lại cho bạn bè nghe những câu chuyệncủa một quãng đời xa xưa và và trau giồi Việt ngữ sau những năm dài sốngxa quê hương. Sinh năm 1947 ở Quảng Bình, di cư vào Nam năm 1954, và hầu nhưlớn lên ở Huế. Học trung học ở Huế và Ban Mê Thuột; kỹ thuật điện ở Trung tâmQuốc Gia Kỹ thuật, Sài gòn; và điện tử và viễn thông ở Đại học Khoahọc Sài gòn. Giảng viên vật lý và kỹ thuật điện tại một số đại học y khoa và kỹthuật ở Sài gòn. Đồng tác giả cuốn sách giáo khoa Giải Tích Mạch Điện gồm hai tập,xuất bản tại Sài gòn năm 1974 và 1975. Sang Hoa kỳ tỵ nạn năm 1975; định cư tại Bismarck, North Dakota;và làm chuyên viên kế hoạch cho một công ty tiện ích đến năm 2012thì về hưu. Lần lượt học quản trị xí nghiệp, quản trị công quyền, và kinh tế ởUniversity of North Dakota ở Grand Forks, North Dakota. Phụ trách mục “Đố Vui Để Học” và viết bài về khoa học và kỹ thuậttrong Tạp chí Lửa Việt, nguyệt san chống Cộng xuất bản ở Toronto,Canada từ 1980 đến 1993.

trời cao đất dày