Các biện pháp điều trị bệnh Viêm đa cơ. Việc phát hiện và điều trị bệnh rất quan trọng, điều trị bệnh sớm hiệu quả càng cao và ít biến chứng. Các biện pháp điều trị hiện nay thường sử dụng như: Điều trị thuốc theo chỉ định của bác sĩ: Điều trị bằng 1.1. Khái niệm: Các bệnh viêm của cơ bao gồm nhiều bệnh với các bản chất khác nhau. Hiện nay người ta phân ra hai loại: Bệnh viêm cơ do nhiễm khuẩn và ký sinh trùng, mang các đặc điểm của một bệnh nhiễm khuẩn và nhiễm ký sinh trùng. Bệnh viêm cơ thuộc nhóm bệnh tạo keo Chẩn đoán viêm đa cơ khi có it nhất 4 triệu chứng từ 2-9. Chẩn đoán viêm bì cơ khi có: triệu chứng 1 + it nhat 4 triệu chứng từ 2-9. Chẩn đoán phân biệt – Bệnh lupus (SLE). – Overlap connective tissue syndrome. – Polymyositis. – Viêm da do ánh nắng. – Xơ cứng bì. Điều trị bệnh Bệnh viện Đa khoa Hồng Ngọc – Địa chỉ chữa viêm quanh khớp vai đáng tin cậy. Viêm quanh khớp vai không chỉ gây đau nhức, khó chịu mà còn có thể làm đông cứng khớp vai nếu để kéo dài, khiến cho người bệnh không thể vận động. Do đó, người bệnh cần lựa chọn cho Nghiên cứu được công bố trên tạp chí Y khoa Anh kết luận, ăn ít vitamin C có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh viêm đa khớp - ảnh hưởng đến ít nhất 5 khớp. “Ăn ít rau quả và các thực phẩm chứa vitamin C có liên quan đến khả năng mắc bệnh viêm đa khớp cao hơn. Hiện nay, đa số nữ giới rất dễ mắc phải bệnh phụ khoa. Viêm phụ khoa không những làm ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản của chị em, mà còn ảnh hưởng đến sinh hoạt hằng ngày cũng như quan hệ tình dục. N34Tb. Viêm đa cơ polymyositis là một bệnh tự miễn tương đối hiếm gặp. Tỷ lệ mắc bệnh ở Hoa Kỳ dao động từ – trường hợp trên 1 triệu dân. Bệnh phổ biến ở người da đen hơn da trắng và phụ nữ gấp đôi nam giới. Nó thường xảy ra ở những người trên 20 tuổi, đặc biệt là từ 45 – 60 tuổi. Tuy hiếm gặp nhưng hậu quả mà bệnh mang lại tương đối nặng nề. Bạn cần nhận biết sớm những triệu chứng nhằm ngăn ngừa biến chứng và làm chậm tiến triển của bệnh. Hãy cùng theo chân Youmed tìm hiểu về bệnh lý này nhé. Nội dung bài viết 1. Tổng quan về bệnh viêm đa cơ2. Triệu chứng của bệnh viêm đa cơ3. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh4. Yếu tố nguy cơ bệnh viêm đa cơ5. Cách chẩn đoán bệnh6. Biến chứng của viêm đa cơ7. Cách điều trị viêm đa cơ8. Tiên lượng bệnh viêm đa cơ 1. Tổng quan về bệnh viêm đa cơ Viêm đa cơ là một bệnh tự miễn gây yếu cơ đối xứng hai bên cơ thể. Nó có thể gây khó khăn khi leo cầu thang, ngồi dậy, nâng đồ vật hoặc đưa tay qua đầu. Các triệu chứng thường tiến triển từ từ, trong vài tháng. Bệnh có thể kèm theo các tổn thương da thì gọi là bệnh Viêm da – cơ hay viêm bì cơ. Hiện không có cách nào chữa khỏi hoàn toàn bệnh viêm đa cơ. Tuy nhiên, thuốc và vật lý trị liệu có thể cải thiện sức mạnh và chức năng của cơ bắp. 2. Triệu chứng của bệnh viêm đa cơ Các triệu chứng viêm đa cơ tiến triển từ từ trong khoảng thời gian 3-6 tháng, bao gồm Cơ bắp Tình trạng suy yếu các nhóm cơ gần với trục cơ thể như ở hông, đùi, vai, cánh tay và cổ. Các cơ bị ảnh hưởng đối xứng 2 bên cơ thể và có xu hướng nặng lên từ từ khiến bạn khó quỳ, leo trèo, giơ tay, nâng đồ vật, chải tóc hay ngồi bật dậy. Yếu cơ vùng cổ nên khó giữ tư thế đầu thẳng. Đau cơ cũng có thể xảy ra, nhưng tỉ lệ dưới 30%. Toàn thân Viêm đa cơ là một bệnh toàn thân. Các triệu chứng có thể bao gồm Giảm cân; Viêm khớp; Mệt mỏi; Chán ăn; Sốt liên quan đến kháng thể kháng Jo-1; Cứng khớp buổi sáng. Phổi Tình trạng suy yếu các cơ vùng hầu họng có thể dẫn đến các triệu chứng của viêm phổi hít, bao gồm thở khò khè, ho sặc, tím tái, tụt huyết áp… Khó thở khi gắng sức cũng xảy ra do yếu các cơ thành ngực và cơ hoành. Hệ tiêu hóa Táo bón. Bụng đầy hơi. Chứng khó nuốt. Trào ngược thức ăn lên mũi. Viêm thực quản do trào ngược. Tim Các triệu chứng gồm hồi hộp, đánh trống ngực, khó thở, đau thắt ngực… Là những biểu hiện của rối loạn nhịp tim, suy tim, viêm cơ tim, viêm màng ngoài tim… Một khi đã xuất hiện các triệu chứng tại tim thì tiên lượng bệnh trở nên xấu đi. Tiết niệu Sự tiêu cơ vân nặng có thể gây tiểu myoglobin, có thể dẫn đến hoại tử ống thận cấp. Biểu hiện nước tiểu có màu nâu đỏ, tiểu ít. Da Hội chứng Raynaud Không giống như viêm da cơ địa, phát ban thì không xuất hiện ở bệnh viêm đa cơ. Tuy nhiên, các dày sừng ở mặt lòng và cạnh ngoài ngón tay đã được báo cáo. Hội chứng Raynaud xảy ra khi ngón tay, ngón chân, má, mũi và tai tiếp xúc với lạnh. Da các vùng này sẽ thay đổi màu sắc từ hồng sang trắng hoặc xanh tím, tê, dị cảm. 3. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh Nguyên nhân của bệnh vẫn chưa được biết một cách rõ ràng. Tuy nhiên, bệnh có liên quan tới các rối loạn tự miễn. Trong đó, hệ thống miễn dịch đã tấn công nhầm vào chính các mô bình thường của cơ thể. Nghiên cứu chỉ ra rằng các tế bào lympho T gây độc tấn công vào các kháng nguyên trên cơ. Do đó, các sợi cơ sẽ bị tổn thương, viêm và suy yếu. Bệnh có thể xảy ra tự phát hoặc liên quan đến nhiễm virus, ung thư, rối loạn mô liên kết. Các virus có liên quan đến căn nguyên của bệnh gồm HIV, coxsakievirus B, retrovirus… 4. Yếu tố nguy cơ bệnh viêm đa cơ Nguy cơ cao hơn nếu bị lupus, viêm đa khớp dạng thấp, xơ cứng bì hoặc hội chứng Sjogren. Bên cạnh đó còn có các yếu tố môi trường, đặc biệt là các tác nhân truyền nhiễm làm tăng nguy cơ gây bệnh, bao gồm Coxsackievirus B1; HIV; Virus lymphotrophic tế bào T gây bệnh ở người type 1 HTLV-1; Virus viêm gan B; Cúm; Echovirus; Adenovirus. Các loại thuốc như D-penicillamine, hydralazine, Procainamide, phenytoin và thuốc ức chế men chuyển angiotensin có liên quan đến bệnh viêm đa cơ. Statin đôi khi cũng gây viêm cơ nghiêm trọng và ly giải cơ vân. 5. Cách chẩn đoán bệnh Sau khi hỏi bệnh và khám phát hiện các dấu hiệu nghi ngờ viêm đa cơ. Bác sĩ sẽ đề nghị một số xét nghiệm để loại trừ hay xác định chẩn đoán, bao gồm Xét nghiệm máu Nồng độ enzyme của cơ tăng cao như CK, GOT, GPT là dấu hiệu của tổn thương cơ. Các tự kháng thể chuyên biệt liên quan đến viêm đa cơ giúp lựa chọn phương pháp điều trị tốt nhất. Điện cơ Bác sĩ sẽ đặt một điện cực kim mỏng qua da vào trong cơ. Hoạt động điện được đo lúc nghỉ và vận động cơ bắp. Sự thay đổi trong mô hình hoạt động điện có thể xác định được bệnh lý ở cơ. Sinh thiết cơ Một mảnh mô cơ nhỏ sẽ được lấy ra để phân tích trong phòng thí nghiệm. Sinh thiết có thể thấy được những bất thường như viêm, tổn thương, khiếm khuyết protein hay enzyme nhất định. Chụp cộng hưởng từ MRI Khác với sinh thiết cơ, MRI có thể đánh giá tình trạng viêm trên một vùng cơ lớn. Bên cạnh đó, bạn cần biết cách chẩn đoán phân biệt. Các triệu chứng của viêm đa cơ dễ nhầm lẫn với nhiều bệnh khác như Hạ kali máu, hạ phosphat máu, suy giáp. Bệnh nhược cơ, Loạn dưỡng cơ, bệnh cơ chuyển hóa. Viêm cơ bạch cầu ái toan, viêm cơ khu trú, viêm cơ tế bào khổng lồ. Bệnh đa rễ thần kinh trên bệnh nhân đái tháo đường. Các bệnh mô liên kết lupus, viêm đa khớp dạng thấp, xơ cứng bì, hội chứng Sjogren. Bệnh cơ do thuốc Zidovudine, D-penicillamine, Statins, Ketoconazole… 6. Biến chứng của viêm đa cơ Suy dinh dưỡng Nếu các cơ trong thực quản bị ảnh hưởng, có thể gặp vấn đề về nuốt. Do đó có thể gây giảm cân và suy dinh dưỡng. Viêm phổi hít Khó nuốt có thể khiến hít phải thức ăn, chất lỏng, nước bọt vào phổi có thể gây viêm phổi. Bệnh phổi kẽ Bệnh phổi kẽ có thể xảy ra với những người bị viêm đa cơ. Tình trạng này gây ra xơ hóa mô phổi, làm cho phổi cứng và không co giãn. Các triệu chứng bao gồm ho khan và khó thở. Hội chứng Raynaud Là tình trạng ngón tay, ngón chân, má, mũi và tai trở nên nhợt nhạt khi tiếp xúc với lạnh. Bệnh tim mạch. Bệnh viêm đa cơ có thể khiến viêm cơ tim, viêm màng ngoài tim. Trong một số ít trường hợp, suy tim sung huyết và rối loạn nhịp tim có thể tiến triển. Ung thư Ung thư phổi, vú, bàng quang và bệnh lymphoma không Hodgkin có thể tăng lên ở những bệnh nhân viêm đa cơ, đặc biệt là trong năm đầu tiên sau khi chẩn đoán. Biến chứng của điều trị corticoid kéo dài Chân tay teo lại, da mỏng; tăng huyết áp, đái tháo đường, hạ kali trong máu, loét dạ dày tá tràng; loãng xương… 7. Cách điều trị viêm đa cơ Hiện không có cách nào chữa khỏi hoàn toàn bệnh viêm đa cơ. Tuy nhiên, thuốc và vật lý trị liệu có thể cải thiện sức mạnh và chức năng của cơ bắp. Việc điều trị sớm sẽ có hiệu quả và ít dẫn đến biến chứng hơn. Không có phương pháp điều trị cố định nào cho bệnh viêm đa cơ. Chiến lược điều trị sẽ được điều chỉnh dựa trên triệu chứng và mức độ đáp ứng với trị liệu. Thuốc Các loại thuốc thường được sử dụng nhất để điều trị viêm đa cơ bao gồm Corticosteroid Các loại thuốc như prednison rất hiệu quả trong việc kiểm soát các triệu chứng viêm đa cơ. Nhưng việc sử dụng kéo dài các loại thuốc này có thể gây ra tác dụng phụ nghiêm trọng. Do đó bác sĩ thường giảm dần liều thuốc xuống mức thấp hơn trong quá trình điều trị. Thuốc hỗ trợ cho corticosteroid Khi kết hợp với corticosteroid, những thuốc này có thể làm giảm liều và tác dụng phụ của corticosteroid. Hai loại thuốc phổ biến nhất được sử dụng cho bệnh viêm đa cơ là azathioprine và methotrexate. Các loại thuốc khác cũng được kê toa bao gồm mycophenolate mofetil, cyclosporine và tacrolimus. Rituximab Được sử dụng phổ biến hơn để điều trị viêm khớp dạng thấp. Rituximab sẽ được chọn nếu liệu pháp ban đầu không kiểm soát được các triệu chứng của viêm đa cơ. Các liệu pháp Tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng, bác sĩ có thể đề nghị Vật lý trị liệu Các bài tập giúp cải thiện, duy trì sức mạnh và sự linh hoạt của cơ bắp. Bác sĩ sẽ hướng dẫn mức độ luyện tập thích hợp tùy theo tình trạng bệnh. Ngôn ngữ trị liệu Nhóm cơ hầu họng suy yếu, liệu pháp này giúp bù lại cho những khiếm khuyết trong lời nói. Đánh giá chế độ ăn uống Khi bị viêm đa cơ, việc nhai và nuốt có thể trở nên khó khăn hơn. Một chuyên gia dinh dưỡng sẽ hướng dẫn cách chế biến các món ăn dễ ăn và bổ dưỡng. Tiêm IVIG Tiêm IVIG Globulin miễn dịch tiêm tĩnh mạch IVIG là sản phẩm máu tinh khiết có chứa các kháng thể lành mạnh. Những kháng thể này sẽ ngăn chặn các kháng thể gây hại tấn công cơ bắp trong viêm đa cơ. 8. Tiên lượng bệnh viêm đa cơ Hầu hết các trường hợp, viêm đa cơ đáp ứng tốt với điều trị. Mặc dù, tình trạng yếu cơ vẫn còn xảy ra ở khoảng 30% bệnh nhân. Loãng xương, một biến chứng phổ biến của liệu pháp corticosteroid dài hạn. Các yếu tố tiên lượng kém bao gồm Tuổi cao; Giới tính nữ; Chủng tộc người Mỹ gốc Phi; Bệnh phổi kẽ; Sự hiện diện của kháng thể kháng Jo-1 và kháng thể kháng SRP; Mắc các bệnh lý ác tính; Điều trị chậm trễ hoặc không đầy đủ; Chứng khó đọc, khó nuốt; Mắc các bệnh tim và phổi kèm theo. Hiện nay chưa có bất kỳ biện pháp nào giúp phòng ngừa bệnh viêm đa cơ. Người bệnh khi có biểu hiện cần đi khám bệnh sớm để được chẩn đoán và điều trị tốt nhất. Tỷ lệ sống còn sau 5 năm trong bệnh viêm đa cơ ước tính là hơn 80%. Tử vong thường liên quan nhiều nhất đến bệnh lý ác tính hoặc biến chứng tại phổi. Tuy nhiên, bệnh nhân cao tuổi có bệnh tim hoặc khó nuốt cũng có tỷ lệ tử vong cao. Viêm đa cơ là một bệnh tự miễn hiếm gặp. Tuy nhiên, hậu quả mà chúng gây ra là rất nhiều có thể dẫn đến từ vong. Nếu có các dấu hiệu nghi ngờ của viêm đa cơ nên đến khám bác sĩ càng sớm càng tốt. Tuy chưa có cách điều trị khỏi bệnh này nhưng điều trị kịp thời sẽ mang lại những tín hiệu tích cực. Bài viết hy vọng đem đến cho người đọc những kiến thức hữu ích về bệnh lý này. Viêm cơ, viêm đa cơ và viêm da cơ là các bệnh lý của mô liên kết đặc trưng bởi tình trạng viêm cơ. Các bệnh cơ do viêm vô căn là một nhóm các bệnh tự miễn mạn tính ảnh hưởng chủ yếu đến các cơ ở gốc chi. Các thể bệnh hay gặp nhất là viêm da cơ, viêm đa cơ, bệnh cơ tự miễn hoại tử và viêm cơ thể vùi lẻ tẻ. Tổng quanViêm đa cơ và viêm da cơ là các bệnh lý của mô liên kết đặc trưng bởi tình trạng viêm cơ..Mặc dù bệnh viêm da cơ ảnh hưởng đến da và các cơ, nó cũng ảnh hưởng cả các thành phần khác trong cơ thể như khớp, thực quản, phổi và virus dính líu với các virus sao chép ngược ở người như HIV và HTLV-I, các virus sao chép ngược ở khỉ và các Coxsackievirus Phân loạiCó thể chia các tình trạng viêm da cơ và viêm đa cơ thành 7 phân nhóm nhỏ dựatheo căn nguyênViêm đa cơ vô căn nguyên phát ở người trưởng da cơ vô căn ở người trưởng da cơ hay viêm cơ thanh thiếu niên kèm viêm mạch hoại đa cơ đi kèm các bệnh lý mô liên đa cơ và viêm da cơ liên quan với bệnh lý ác cơ thể vùi IBM.Các thể bệnh viêm cơ khác ví dụ viêm cơ tăng eosinophil, viêm cơ canxi hóa, viêm cơ khu trú, viêm cơ tế bào khổng lồ. Đối tượng nguy cơViêm đa cơ thường xuất hiện ở độ tuổi từ 30-60 tuổi và một đỉnh nhỏ hơn ở khoảng 15 da cơ có thể xuất hiện ở mọi lứa tuổi. Đỉnh tuổi khởi phát ở người trưởng thành vào khoảng 50 tuổi, và đỉnh tuổi khởi phát ở trẻ em tầm khoảng 5-10 da cơ và viêm đa cơ gặp ở nữ nhiều hơn gấp 2 lần so với ở nam. 2. Viêm đa cơ Dấu hiệuBệnh cơ do viêm khởi phát từ vài tuần đến vài tháng và tiến triển từ cơ lan tỏa ưu thế các cơ gốc cơ gốc chi làm người bệnh khó khăn khi đứng lên từ tư thế ngồi trên ghế, khó leo cầu thang, khó khăn khi nâng đồ vật hay khi chải tóc. Mỏi cơ, đau cơ và vọp bẻ cũng có thể hiện ngọn chi không bị ảnh hưởng, và các động tác tinh vi của bàn tay như cài nút áo, viết, điều khiển bàn phím hay chơi piano chỉ bị ảnh hưởng ở giai đoạn trễ của cơ vùng hầu họng gây khó cơ có thể thay đổi từ tuần này qua tuần khác, từ tháng này sang tháng 1/3 bệnh nhân có đau. Không có phát ban ở ghi nhận tiền sử gia đình về các bệnh lý thần kinh cơ, không có bằng chứng của các rối loạn nội tiết hay tiền sử tiếp xúc với các độc chất có thể gây bệnh Triệu chứngViêm đa cơ gây tình trạng yếu cơ. Thường bệnh nhân không than đau, dù có một số ít than nhức cơ và bị vọp cơ gốc chi và không ảnh hưởng cơ ngọn chi cho đến khi bệnh tiến cơ quanh nhãn cầu không bị ảnh hưởng, các cơ vùng mặt chỉ bị ảnh hưởng trong các trường hợp cổ yếu và khó khăn khi giữ đầu thẳng cơ có thể có, còn phản xạ gân cơ, đáp ứng bàn chân gập và cảm giác bình bắp có thể bị đau khi sờ nắn và có thể có cảm giác sần Chẩn đoán cận lâm sàngCreatine kinase CK có thể tăng gấp 50 lần so với giá trị bình thường. CK hiếm khi bình thường khi bệnh đang giai đoạn hoạt động và mức CK thường là một chỉ điểm tốt cho tình trạng hoạt động của 20% bệnh nhân viêm đa cơ có kháng thể anti-Jo-1. Chúng chỉ điểm một tiên lượng xấu với bệnh phổi kẽ xuất hiện trong 1⁄2 các trường hợp.Các men enzyme khác cũng tăng trong viêm đa cơ bao gồm aldolase, SGOT, SGPT và lactate. dehydrogenase LDH. Nếu SGOT cao hơn SGPT, một nguyên nhân do cơ nên được nghĩ đoán được thiết lập dựa trên điện cơ EMG và được khẳng định bằng sinh thiết nguyên ung thư 125 CA 125 và kháng nguyên ung thư 19-9 CA 19-9 có thể là các dấu ấn hữu ích cho nguy cơ bị các bệnh lý ác sát các tự kháng thể như kháng thể đặc hiệu viêm cơ myositis-specific antibody – MSA, các tự kháng thể liên quan viêm cơ myositis-associated autoantibodies – MAA có thể hữu ích trong việc chẩn đoán phân biệt với các tình trạng ác tính tiềm ẩn. Yếu cơ vùng hầu họng gây khó nuốt là một trong những dấu hiệu của viêm đa cơ Chẩn đoán phân biệtViêm đa cơ là một chẩn đoán loại trừ và các chẩn đoán khác cần cân nhắc bao gồmBệnh thần kinh cơ di nội tiết bao gồm nhiễm độc giáp và bệnh hội chứng kém hấp thu, nghiện rượu, ung thư, viêm mạch, bệnh u hạt, sarcoidosis hoặc tiếp xúc với thuốc hay độc tố ảnh hưởng đến cơ. 3. Viêm da cơ Dấu hiệuViêm da cơ ảnh hưởng đến cả trẻ em và người lớn. Kiểu yếu cơ giống như trong bệnh viêm đa cơ, nhưng cũng có những điểm khác nhưPhát triệu chứng toàn thân với sốt, đau khớp, mệt mỏi và sụt cân. Nó có thể giống với xơ cứng bì ở hiện tượng Raynaud và chứng khó bệnh tim có thể gặp bao gồm khiếm khuyết dẫn truyền nhĩ thất, nhịp tim nhanh và bệnh cơ tim giãn và nhiễm trùng đường tiêu thể yếu các cơ ngực nhưng cũng có thể có bệnh phổi kẽ ở 30-50% trường em có khuynh hướng có nhiều đặc điểm không liên quan cơ hơn, đặc biệt là loét và nhiễm trùng đường tiêu Triệu chứngPhát ban bao gồm hồng ban màu xanh tím ở mí mắt trên với phù quanh hốc mắt, phát ban đỏ vùng mặt, thân trên và các mảng vảy màu đỏ tím ở mặt duỗi của các khớp và ngón tay. Viêm loét mạch máu và vôi hóa mô dưới da có thể xảy ban có thể ảnh hưởng đến đầu gối, vai, lưng và ngực trên, và cũng có thể bị trầm trọng hơn bởi ánh sáng mặt tổn thương da có thể tạo vảy, tăng hoặc giảm sắc tố da và làm da trở nên sáng các cuộn mao mạch ở giường móng là đặc điểm điển hình của viêm da cơ. Các lớp biểu bì có thể không đều và dày lên, mặt lòng bàn tay và mặt bên của ngón tay có thể trở nên thô và cơ gốc chi và có thể thay đổi từ nhẹ đến trầm trọng. Cảm giác được bảo tồn và phản xạ gân cơ bình thường, trừ khi có teo cơ đau cơ và đau có khuynh hướng xuất hiện Chẩn đoán cận lâm sàngMức độ tăng creatine kinase CK là không đáng tin cậy mặc dù nó có thể tăng rất SGPT, LDH, và aldolase cũng có thể tự kháng thểKháng thể kháng nhân antinuclear antibody – ANA dương tính hay gặp ở các bệnh nhân viêm da thể Anti-Mi-2 là kháng thể đặc hiệu cho viêm da cơ nhưng chỉ tìm thấy ở 25% các trường kháng thể Anti-Jo-1 hay gặp ở bệnh nhân viêm đa cơ hơn ở bệnh nhân viêm da cơ. Chúng có liên quan với bệnh phổi kẽ, hiện tượng Raynaud và viêm không giúp ích nhiều cho chẩn đoán nhưng có thể giúp theo dõi bệnh và hướng dẫn chọn vị trí tốt để làm sinh thiết cơ có thể có ích, nhưng 15% trường hợp có thể có điện cơ bình thường. Điện cơ cũng có thể hướng dẫn chọn vị trí phù hợp để làm sinh thiết thiết cơ có thể giúp chẩn đoán Chẩn đoán phân biệtViêm da cơ dễ chẩn đoán hơn vì phát ban và vôi hóa dưới da là điển bệnh lupus ban đỏ hệ thống SLE, da trên các đốt ngón bị ảnh hưởng và da trên khớp bàn ngón không bị. Trong viêm da cơ thì ngược da cơ có thể trùng lặp với bệnh xơ cứng hệ thống, viêm khớp dạng thấp và hội chứng Sjogren nhưng yếu cơ nhiều Các bệnh liên quanViêm đa cơ và viêm da cơ có thể liên quan đến các bệnh tự miễn khác như nhược cơ, viêm giáp Hashimoto, xơ cứng hệ thống và bệnh tăng globulin đại phân tử các trường hợp viêm đa cơ và cả viêm da cơ, có thể cần phải tìm kiếm một khối u ác tính tiềm đa cơ và đặc biệt là viêm da cơ có thể là một phần của hội chứng cận ung paraneoplastic.Từ 10% đến 20% bệnh nhân bị viêm da cơ có u tân nhân cao tuổi bị viêm da cơ thường có khối u ác thư vú, ung thư phổi, ung thư biểu mô buồng trứng và ung thư biểu mô dạ dày thường liên quan Sinh thiết cơ có thể giúp chẩn đoán chính xác bệnh viêm da cơ Điều trịCác điều trị không dùng thuốcNên sử dụng kem chống khích hoạt động thể chất với mục đích duy trì sức cơ, bệnh nhân nên được tư vấn bởi một nhà vật lý trị liệu và hoạt động trị nhân nên được đánh giá chức năng nuốt và một nhà trị liệu ngôn ngữ và lời nói có thể giúp khắc phục những khó khăn khi dõi creatine kinase CK và đáp ứng lâm sàng, nhưng có khi điều trị có thể cải thiện mức CK mà không cải thiện lâm thuốcMặc dù các liệu pháp ức chế miễn dịch và điều hòa miễn dịch thường xuyên được sử dụng, chế độ điều trị tối ưu vẫn chưa rõ ràng. Thiếu các nghiên cứu chất lượng cao đánh giá hiệu quả và độc tính của thuốc ức chế miễn dịch trong viêm cơ. Bắt đầu điều trị sớm là điều cần là loại thuốc quan trọng nhất. Trong trường hợp nhẹ, có thể chỉ cần dùng steroid tại chỗ. Trong trường hợp bệnh nặng hơn, cần sử dụng steroid toàn thân liều cao và giảm liều dần. Sự cải thiện thường rõ ràng vào tháng thứ hai hoặc thứ ba. Các biện pháp phòng ngừa thông thường phải được thực hiện khi sử dụng steroid liều cao trong thời gian tác nhân sinh học bao gồm các chất đối vận alpha yếu tố hoại tử mô, immunoglobulin và rituximab tiêm tĩnh mạch, đã được sử dụng với các mức độ thành công khác nhau để điều trị viêm da cơ. Bệnh nhân có kháng thể chống Jo-1 cần ức chế miễn dịch lâu dài. Đối với bệnh phổi, chế độ phối hợp tích cực bao gồm cyclosporin A hoặc tacrolimus với cyclophosphamide được khuyến cáo nên thêm vào cùng trên kết quả phân tích của nhiều thử nghiệm lâm sàng trên thế giới, ý kiến các chuyên gia, Trung tâm bệnh cơ Châu Á và Châu đại dương AOMC đã đưa ra một số khuyến cáo điều trị như sauLựa chọn hàng thứ nhất chọn hàng thứ hai azathioprine, methotrexate, mycophenolate mofetil. Có thể khởi đầu cùng lúc với steroid hoặc khởi đầu khi thất bại với steroid sau 2-4 chọn hàng thứ ba cyclophosphamide, tacrolimus, lựa chọn khácIVIG một số trường hợp được dùng như một lựa chọn điều trị đầu tay, một số khác thì được lựa chọn điều trị khi thất bại với steroid hay viêm cơ tái huyết tương, Rituximab cũng là các lựa chọn điều trị trong viêm cơ tái phát. Thuốc Steroid là loại thuốc quan trọng nhất được lựa chọn hàng thứ nhất trong điều trị bệnh viêm cơ, viêm đa cơ, viêm da cơ Biến chứngLoét đường tiêu hóa có thể gây ra tiêu phân đen, ói máu. Nhồi máu ruột có thể xảy ra, đặc biệt là trong viêm da da cơ có thể gây vôi hóa dưới da làm loét da, nhiễm trùng và sẹo viêm da cơ và viêm đa cơ đều có liên quan đến tăng nguy cơ ác da cơ cũng liên quan đến khuyết tật nhĩ thất, nhịp tim nhanh, bệnh cơ tim giãn nở, co rút khớp và liên quan đến phổi do yếu cơ ngực, bệnh phổi kẽ.Các biến chứng khác của viêm đa cơ bao gồmBệnh phổi kẽ, viêm phổi do hítCác block dẫn truyền ở tim, rối loạn nhịp tim, suy tim sung huyết, viêm màng ngoài tim, nhồi máu cơ thở, kém hấp chứng của liệu pháp steroid – ví dụ như loãng xương, bệnh cơ do Tiên lượngTiên lượng của các bệnh cơ do viêm vô căn rất thay liên quan đến bệnh lý ác tính cho thấy tiên lượng phục hồi kém và tăng khả năng tử vong. Nhìn chung, tự thoái lui mà không dùng thuốc là rất hiếm, ngoại trừ thể viêm da cơ thanh thiếu nghiên cứu cho thấy chỉ 20% đến 40% các bệnh nhân viêm da cơ và viêm đa cơ được điều trị sẽ thoái lui bệnh, trong khi 60-80% sẽ tái phát nhiều lần hoặc tiếp diễn mạn lệ tử vong cao gấp 2-3 lần so với dân số chung. Ung thư, biến chứng phổi, tim và nhiễm trùng là các nguyên nhân tử vong thường gặp nhất. Các yếu tố tiên lượng xấu gồm tuổi, giới nam, người da màu, tiến trình bệnh kéo dài, có triệu chứng tim, có nuốt khó, có bệnh lý ác tính và có các kháng thể đặc hiệu viêm cơ myositis-specific antibodies trong huyết thanh bao gồm các kháng thể anti-Ro52 và anti-Jo1 cùng tồn tại, sự hiện diện của kháng thể anti signal recognition particle, anti-155/140, và anti-CADM-140.Kháng thể anti-155/140 có liên quan đến tình trạng ác tại ở Việt Nam đã có thể làm đầy đủ các xét nghiệm chẩn đoán bệnh viêm đa cơ và viêm da cơ, kể cả sinh thiết cơ và các xét nghiệm tìm kháng thể. Các phương pháp điều trị bệnh đã được công nhận trên thế giới cũng như các thuốc mới được khuyến cáo dựa theo vài nghiên cứu gần đây cũng đã được chúng ta bước đầu sử dụng để điều trị những trường hợp bệnh viêm đa cơ, viêm da cơ nặng và kháng thuốc. Tuy viêm da cơ và viêm đa cơ là các thể bệnh có thể điều trị được nhưng việc điều trị bệnh còn rất nhiều khó viện Đa khoa Quốc tế Vinmec là một trong những bệnh viện không những đảm bảo chất lượng chuyên môn với đội ngũ y bác sĩ, hệ thống trang thiết bị công nghệ hiện đại mà còn nổi bật với dịch vụ khám, tư vấn và chữa bệnh toàn diện, chuyên nghiệp; không gian khám chữa bệnh văn minh, lịch sự, an toàn và tiệt trùng tối đa. Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. XEM THÊM Bệnh viêm đa cơ dermatomyositis Chẩn đoán, điều trị Công dụng thuốc nhỏ mắt Sanlein Thuốc HCQ trong điều trị da liễu Sáng 2/6, CKII Hoàng Thị Lan Hương - Phó Giám đốc Bệnh viện Trung ương Huế cho biết, các bác sĩ Khoa hồi sức tích cực vừa cứu sống bệnh nhân 33 tuổi, Phú Nhuận, TP. Huế bằng kỹ thuật oxy hóa qua màng ngoài cơ thể VA- ECMO.Trước đó, tối 26/3, bệnh nhân D. được đưa đến Khoa Hồi sức tích cực, Bệnh viện Trung ương Huế trong tình trạng khó thở, mệt nhiều, da tái lạnh, huyết áp tụt thấp. Bệnh nhân được chẩn đoán sốc nhiễm khuẩn, suy đa tạng, suy hô hấp cấp tiến triển nặng, viêm cơ tim tối cấp, nguy cơ tử vong rất nhân được chỉ định phối hợp 3 loại thuốc vận mạch và trợ tim liều cao nhưng không nâng được huyết áp lên mức đảm bảo tưới máu các tạng trong cơ thể, cung lượng tim rất định đây là một trường hợp viêm cơ tim thể tối cấp, nguy cơ tử vong cao, các bác sĩ đã khẩn trương hội chẩn liên khoa để đưa ra phương án tối ưu nhất cấp cứu bệnh nhân D. trong thời gian điều trị tại khoa Hồi sức tích cực Bệnh viện Trung ương nhân được chỉ định thực hiện kỹ thuật oxy hóa qua màng ngoài cơ thể hỗ trợ tuần hoàn VA - ECMO kết hợp thở máy xâm nhập, lọc máu liên tục CRRT. Sau một tuần điều trị tích cực, chức năng co bóp của tim cải thiện, bệnh nhân được ngưng hỗ trợ VA - nhiên, tình trạng bệnh nhân tiếp tục diễn tiến phức tạp hơn, rối loạn đông máu gây chảy máu phế nang ồ ạt, nhiều đợt tổn thương phổi nặng kết hợp suy thận, suy gan rất tình hình bệnh diễn biến nghiêm trọng, bệnh nhân đã được thực hiện nhiều kỹ thuật thở máy, lọc máu liên tục CRRT, thay huyết tương trong suy gan cấp TPE, nội soi phế quản phối hợp điều trị nhiễm khuẩn hô hấp, dinh dưỡng tối ưu, tập phục hồi chức năng…Quá trình điều trị kéo dài với sự phối hợp đa chuyên khoa với tinh thần khẩn trương, tích cực, chuyên nghiệp; sự chăm sóc tận tình, chu đáo bởi điều dưỡng của khoa Hồi sức tích cực; tình trạng bệnh đã cải thiện, chức năng gan, thận hồi bệnh nhân được ngưng lọc máu liên tục, ngưng thở máy thành công và được cho xuất viện sau 2 tháng điều trị .Các y, bác sĩ tặng hoa chúc mừng bệnh nhân ra Phạm Như Hiệp - Giám đốc Bệnh viện Trung ương Huế cho biết, kỹ thuật VA-ECMO đã được các bác sĩ thực hiện thành công đầu tiên tại Việt Nam vào tháng 3/2009, và chủ yếu áp dụng trong hồi sức cho bệnh nhân viêm cơ tim, sốc tim sau phẫu thuật tim - ECMO là kỹ thuật hỗ trợ tim và phổi giúp cứu sống cho rất nhiều bệnh nhân nguy kịch, không đáp ứng với các điều trị thông thường; giúp tim và phổi nghỉ ngơi và chờ thời gian hồi Hồi sức tích cực Bệnh viện Trung ương Huế đã triển khai thành thạo kỹ thuật này với tiếp cận mạch máu ngoại vi qua da trong hỗ trợ hô hấp và tuần hoàn với tỷ lệ thành công cao nhưng ít biến chứng hơn so với kỹ thuật tiếp cận mạch máu trung tâm như trong một số phẫu thuật tim điều trị sốc nhiễm khuẩn huyết gây suy đa tạng, đặc biệt suy hô hấp cấp tiến triển, ngoài việc sử dụng kháng sinh, bù dịch, sử dụng thuốc và phương tiện hỗ trợ hô hấp tuần hoàn, cần thiết phải chú trọng đến dinh dưỡng, nâng cao thể trạng và tập vật lý trị liệu, phục hồi chức động hành trình xây nhà vệ sinh tặng cô trò điểm trường miền núi Na Khê, Hà Giang dịp 1/6Đức Anh Trước đó, tối 26/3/2023, bệnh nhân Nguyễn Văn D được đưa đến Khoa Hồi sức tích cực Bệnh viện Huế trong tình trạng khó thở, mệt nhiều, da tái lạnh, huyết áp tụt thấp. Bệnh nhân được chẩn đoán sốc nhiễm khuẩn, suy đa tạng, suy hô hấp cấp tiến triển nặng, viêm cơ tim tối cấp, nguy cơ tử vong rất nhân được chỉ định phối hợp 3 loại thuốc vận mạch và trợ tim liều cao nhưng không nâng được huyết áp lên mức đảm bảo tưới máu các tạng trong cơ thể, cung lượng tim rất thấp. Xác định đây là một trường hợp viêm cơ tim thể tối cấp, nguy cơ tử vong cao, các bác sĩ đã khẩn trương hội chẩn liên khoa để đưa ra phương án tối ưu nhất cấp cứu bệnh nhân. Bệnh nhân D được tiến hành thực kỹ thuật VA-ECMO kết hợp thở máy xâm nhập, lọc máu liên tục CRRT. Sau một tuần điều trị tích cực, chức năng co bóp của tim cải thiện, bệnh nhân được ngưng hỗ trợ sĩ Bệnh viện Huế tích cực điều trị cho bệnh nhân Nguyễn Văn nhiên, sau đó bệnh nhân D bị rối loạn đông máu gây chảy máu phế nang ồ ạt, nhiều đợt tổn thương phổi nặng kết hợp suy thận, suy gan rất nặng. Trước tình hình bệnh diễn biến nghiêm trọng, bệnh nhân được các bác sĩ Bệnh viện Huế thực hiện nhiều kỹ thuật như thở máy, lọc máu liên tục CRRT, thay huyết tương trong suy gan cấp TPE, nội soi phế quản phối hợp điều trị nhiễm khuẩn hô hấp, dinh dưỡng tối ưu, tập phục hồi chức năng… Bệnh nhân sau đó được ngưng lọc máu, ngưng thở máy và được cho xuất viện sau hơn 2 tháng điều trị trong niềm vui, xúc động của người thân và gia đạo Bệnh viện Huế tặng hoa chúc mừng bệnh nhân D trong ngày xuất Phạm Như Hiệp, Giám đốc Bệnh viện Huế cho biết, VA-ECMO là kỹ thuật hỗ trợ tim và phổi giúp cứu sống cho rất nhiều bệnh nhân nguy kịch, không đáp ứng với các điều trị thông thường, giúp tim và phổi nghỉ ngơi và chờ thời gian hồi phục. Thời gian qua, Khoa Hồi sức tích cực Bệnh viện Huế đã triển khai kỹ thuật này với tiếp cận mạch máu ngoại vi qua da trong hỗ trợ hô hấp và tuần hoàn với tỷ lệ thành công cao, ít biến chứng. Trong điều trị sốc nhiễm khuẩn huyết gây suy đa tạng, đặc biệt suy hô hấp cấp tiến triển, ngoài việc sử dụng kháng sinh, bù dịch, sử dụng thuốc và phương tiện hỗ trợ hô hấp tuần hoàn, các bác sĩ còn chú trọng đến dinh dưỡng nâng cao thể trạng và tập vật lý trị liệu để giúp bệnh nhân sớm phục hồi chức năng sau quá trình điều Khoa Bài viết được tham vấn chuyên môn cùng Lê Dương Tiến - CK Nội cơ xương khớp, Khoa Khám bệnh & Nội khoa, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Đà Nẵng. Viêm cơ là tình trạng viêm xảy ra tại vùng cơ bắp. Yếu, sưng và đau là những triệu chứng viêm cơ phổ biến nhất. Nguyên nhân gây viêm cơ bao gồm nhiễm trùng, chấn thương, bệnh tự miễn và tác dụng phụ của thuốc. Điều trị viêm cơ thay đổi tùy theo nguyên nhân gây bệnh. 1. Viêm cơ là gì? Viêm cơ là tình trạng viêm tại các tổ chức cơ bắp gây ra bởi nhiều nguyên nhân khác nhau như nhiễm trùng, chấn thương, tình trạng tự miễn và tác dụng phụ của thuốc. Triệu chứng đặc trưng của viêm cơ là yếu, sưng và đau cơ. Các phương pháp điều trị viêm cơ là khác nhau tùy thuộc vào nguyên nhân gây bệnh. 2. Các loại nhiễm trùng gây viêm cơ Bệnh tự miễn Tình trạng viêm toàn thân có thể gây viêm cơ, trong đó có bệnh tự miễn - hệ miễn dịch tấn công vào các mô cơ quan của chính nó. Một số bệnh có khả năng gây viêm cơ nghiêm trọng bao gồmViêm da cơ địaViêm đa cơViêm cơ thể Inclusion body myositis IBMMột số bệnh tự miễn khác có xu hướng gây ra các dạng viêm cơ nhẹ hơn, bao gồmLupusXơ cứng bìViêm khớp dạng thấpBệnh tự miễn thường là nguyên nhân gây viêm cơ nghiêm trọng nhất, cần điều trị lâu dài. Viêm da cơ địa có thể gây ra tình trạng viêm cơ Nhiễm trùng Nhiễm vi - rút là tình trạng nhiễm trùng phổ biến nhất gây ra viêm cơ. Ngoài ra, vi khuẩn, nấm hoặc các sinh vật khác cũng có khả năng gây ra viêm cơ. Vi - rút hoặc vi khuẩn có thể xâm nhập trực tiếp vào mô cơ hoặc giải phóng các chất gây tổn thương sợi cơ. Một số bệnh do vi - rút gây ra như cúm, cảm lạnh thông thường, HIV là một vài trong số các bệnh có khả năng gây viêm cơ. Thuốc Thuốc chữa bệnh và một số loại chất khác có thể là nguyên nhân gây ra tổn thương cơ tạm thời. Thuốc gây viêm cơ hoặc bệnh về cơ bao gồmStatinColchicinePlaquenil hydroxychloroquineAlpha-interferonCocaineRượuBệnh về cơ có thể xảy ra ngay sau khi bắt đầu dùng thuốc, hoặc có thể xảy ra sau khi dùng thuốc trong nhiều tháng hoặc nhiều năm. Đôi khi nó được gây ra bởi sự tương tác giữa hai loại thuốc khác nhau. Viêm cơ nghiêm trọng do thuốc là rất hiếm. Chấn thương Tập thể dục cường độ cao có thể dẫn đến đau, sưng và yếu cơ trong nhiều giờ hoặc vài ngày sau khi tập luyện. Các triệu chứng trên là dấu hiệu của viêm cơ. Các triệu chứng viêm cơ sau khi tập thể dục hoặc chấn thương sẽ giảm đi nhanh chóng sau khi nghỉ ngơi và phục hồi sức khỏe. Tiêu cơ vân Tiêu cơ vân xảy ra khi cơ bắp bị tổn thương trong thời gian ngắn. Đau cơ, yếu và sưng là triệu chứng của tiêu cơ vân. Nước tiểu cũng có thể chuyển sang màu nâu sẫm hoặc đỏ. 3. Triệu chứng viêm cơ Triệu chứng chính của viêm cơ là yếu cơ có thể nhận thấy qua thăm khám lâm sàng hoặc các xét nghiệm. Đau cơ có thể có hoặc không. Viêm da cơ, viêm đa cơ và một số tình trạng viêm khác có xu hướng gây yếu cơ dần dần và tiến triển nặng sau vài tuần hoặc vài tháng. Các vị trị yếu cơ thường gặp là cổ, vai, hông và lưng. Yếu cơ có thể gây té ngã và khó khăn khi đứng dậy khỏi ghế hoặc sau khi ngã. Các triệu chứng khác có thể gặp trong viêm cơ bao gồmPhát banMệt mỏiDa vùng tay dày lênKhó nuốtKhó thởNhững người bị viêm cơ do vi - rút thường có các triệu chứng nhiễm vi - rút như sổ mũi, sốt, ho và đau họng, hoặc buồn nôn và tiêu chảy. Đa số các triệu chứng nhiễm vi - rút có thể biến mất vài ngày hoặc vài tuần trước khi các triệu chứng viêm cơ bắt số ít người có triệu chứng đau trong bệnh viêm cơ. Hầu hết các cơn đau cơ không phải do tình trạng viêm mà do chấn thương, căng thẳng, hoặc các bệnh thông thường như cảm lạnh và cúm. Những cơn đau cơ thông thường này được gọi là chứng đau cơ. Bác sĩ nghi ngờ viêm cơ dựa trên triệu chứng yếu cơ hoặc các dấu hiệu khác liên quan đến viêm cơ. Các xét nghiệm chẩn đoán viêm cơ bao gồmXét nghiệm máu Nồng độ enzyme cơ cao, chẳng hạn như creatine kinase cao, là dấu hiệu chỉ điểm của viêm cơ. Các xét nghiệm khác như xét nghiệm máu kiểm tra các kháng thể bất thường giúp xác định tình trạng tự miễn MRI Một máy quét sử dụng nam châm công suất cao và máy tính tạo ra hình ảnh của các cơ. Quét MRI có thể giúp xác định các khu vực của viêm cơ và thay đổi trong cơ theo thời Bằng cách chèn các điện cực kim vào cơ bắp, bác sĩ có thể kiểm tra phản ứng của cơ với tín hiệu thần kinh điện. EMG có thể xác định các cơ bị yếu hoặc bị tổn thương do viêm thiết cơ Đây là xét nghiệm chính xác nhất để chẩn đoán viêm cơ. Bác sĩ xác định yếu cơ bằng cách rạch một đường nhỏ và lấy một mẫu mô cơ nhỏ để xét nghiệm. Sinh thiết cơ là xét nghiệm chẩn đoán cuối cùng ở hầu hết những người bị viêm cơ. Xét nghiệm máu là một trong những phương pháp chẩn đoán bệnh viêm cơ 5. Điều trị viêm cơ Điều trị viêm cơ thay đổi tùy theo nguyên nhân. Tình trạng viêm gây viêm cơ có thể cần điều trị bằng thuốc ức chế hệ miễn dịch, bao gồmPrednisoneAzathioprine ImuranMethotrexateViêm cơ do nhiễm trùng thường là do vi - rút, và không có phương pháp điều trị cụ thể. Viêm cơ do vi khuẩn là không phổ biến và thường cần dùng kháng sinh để ngăn ngừa sự lây lan của vi khuẩn đe dọa đến tính dù tiêu cơ vân hiếm khi xảy ra do viêm cơ, nhưng một khi xảy ra có thể gây tổn thương thận vĩnh viễn. Những người bị tiêu cơ vân phải nhập viện để được truyền dịch tĩnh mạch liên tục với số lượng cơ liên quan đến một loại thuốc được điều trị bằng cách ngừng thuốc. Trong trường hợp viêm cơ do thuốc statin, tình trạng viêm thường giảm trong vòng vài tuần sau khi ngừng nhân gây viêm cơ bao gồm nhiễm trùng, chấn thương, bệnh tự miễn và tác dụng phụ của thuốc. Điều trị viêm cơ thay đổi tùy theo nguyên nhân gây bệnh vì vậy tất nhiên cần phải khám ngay để tìm nguyên nhân chính gây viêm cơ. Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. Bài viết tham khảo nguồn XEM THÊM Viêm cơ nhiễm khuẩn Những điều cần biết Tìm hiểu thông tin về viêm cơ, viêm đa cơ, viêm da cơ Điều trị bệnh viêm mô tế bào theo hướng dẫn của Bộ Y tế Dịch vụ từ Vinmec Bệnh viêm đa cơ Dermatomyositis là bệnh có viêm cơ kèm theo tổn thương da hoặc không. Viêm đa cơ là bệnh tự miễn và đáp ứng với thuốc ức chế miễn dịch. Bệnh có thể xuất hiện ở mọi lứa tuổi, thường gặp ở lứa tuổi thiếu niên 10-15 tuổi và tuổi trung niên 45-60 tuổi, nữ giới mắc bệnh nhiều hơn nam giới. Tỷ lệ mắc bệnh viêm đa cơ trong cộng đồng ước tính 5-10 trường hợp/1 triệu dân. Chẩn đoán xác địnhTiêu chuẩn chẩn đoán của Tanimoto và cộng sự năm 1995. Tiêu chuẩn này có độ nhạy 98,9% và độ đặc hiệu 95,2%Chẩn đoán xác định bệnh viêm đa cơ khi có ít nhất 4 trong 8 triệu chứng sauĐau cơ do viêm gây nên hoặc đau có tính chất tự phát;Yếu cơ vùng gốc chi;Tăng nồng độ CK creatinine kinase trong huyết thanh hoặc aldolase;Điện cơ có các hiện tượng biến đổi nguồn gốc cơ thời gian ngắn, đơn vị vận động nhiều pha với các rung giật tự phát;Khi sinh thiết cơ xuất hiện hình ảnh thâm nhiễm cơ vân kèm theo dấu hiệu thoái hóa và hoại tử sợi cơ thực bào hoạt động, nhân trung tâm hoặc có các bằng chứng hoạt động;Viêm khớp không có hình ảnh bị bào mòn trên X quang, không có hủy khớp hoặc đau khớp;Các triệu chứng toàn thân sốt nhẹ trên 370 C, CRP tăng hoặc tốc độ máu lắng tăng > 20 mm/h bằng phương pháp Westergren;Kháng thể kháng Jo-1 dương tính; Người bệnh xuất hiện đau cơ Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh viêm đa cơ của Bohan và Peter năm 1975, gồm 5 yếu tốYếu cơ vùng gốc chi hai bên đối xứng;Sinh thiết cơ thấy xuất hiện triệu chứng của bệnh viêm cơ;Men cơ trong huyết thanh tăng;Điện cơ có dấu hiệu của viêm cơTổn thương ở da điển hình của bệnh cơ do viêm ban Gottron, ban màu đỏ hoặc tím ở vùng mi mắt, ban đỏ hình chữ V ở cổ và ngực, bàn tay thợ cơ đoán xác định viêm đa cơChẩn đoán chắc chắn viêm đa cơ khi có tất cả 4 yếu tố đầu đoán gần như chắc chắn viêm đa cơ khi có 3/4 yếu tố đầu tiênChẩn đoán nghi ngờ viêm đa cơ khi có 2/4 yếu tố đầu tiên Sinh thiết cơ trên người bệnh viêm cơ Chẩn đoán phân biệtBệnh viêm đa cơ đôi khi phải chẩn đoán phân biệt với các tình trạng bệnh lý có gây biểu hiện yếu cơYếu cơ mạn tính hoặc bán cấp nguyên nhân do các bệnh lý thần kinh tổn thương tủy, xơ hóa cột bên, loạn dưỡng cơ, nhược cơ... Các dấu hiệu thần kinh vận động, điện cơ và sinh thiết cơ có thể giúp chẩn đoán phân biệt bệnh viêm đa cơ với các tình trạng bệnh lý cơ cấp tính trong các bệnh viêm đa cơ hội chứng Guillain-Barré, viêm tủy cắt ngang, nhiễm độc thần kinh, viêm cơ do virus. Ở các bệnh lý này thường có dấu hiệu co rút cơ, khai thác tiền sử, khám cảm giác, các xét nghiệm độc tố và vi sinh có thể giúp chẩn đoán phân cơ do thuốc Khai thác kỹ biểu hiện lâm sàng bệnh viêm đa cơ đặc biệt tiền sử dùng thuốc có thể giúp chẩn đoán phân cơ do nguyên nhân đau cơ, đau khớp trong một số bệnh lý đau cơ do thấp, viêm khớp có thể gây yếu khám lâm sàng, các xét nghiệm về viêm, miễn dịch đặc biệt kết quả sinh thiết cơ bình thường giúp chẩn đoán phân biệt cơ trong các bệnh lý nội tiết và chuyển hóa như cường hoặc suy tuyến giáp, cường vỏ thượng thận. Chẩn đoán phân biệt viêm đa cơ dựa vào các kết quả xét nghiệm học môn nội tiết. Cần chẩn đoán phân biệt với suy tuyến giáp 2. Điều trị bệnh viêm đa cơ Nguyên tắc điều trị bệnh viêm đa cơĐiều trị thuốc kết hợp với phục hồi chức năng hợp corticoid và các thuốc điều trị cơ bản methotrexat hoặc azathioprin trong các thể thông thường hoặc cyclophosphamid trong các thể kháng điều trị hoặc có tổn thương phổi kẽ. Kết hợp truyền tĩnh mạch immunoglobulin có hiệu quả tuy giá thành tránh các biến chứng do sát các bệnh ung thư kết hợp, đặc biệt ung thư cơ quan sinh dục ở Điều trị bằng thuốcCorticoid là thuốc điều trị chính trong bệnh viêm đa cơ, thường kết hợp với những thuốc điều trị cơ bản DMARD.Corticoid đường uống, với liều khởi đầu 1-2 mg/kg/ngày, dùng 1 lần/ngày hoặc chia 3- 4 lần/ngày nếu dùng 1 lần/ngày không kiểm soát được bệnh. Duy trì liều cao đến khi các triệu chứng lâm sàng của bệnh thuyên giảm và nồng độ enzym CK trong huyết thanh giảm trở về mức bình thường, trung bình khoảng 6- 8 tuần. Sau đó giảm liều dần, điều trị liều duy trì trung bình 5- 10mg/ truyền tĩnh mạch liều cao truyền tĩnh mạch mỗi ngày mg x 3 ngày. Chỉ định khi viêm đa cơ nặng, tiến triển cấp tính, có tổn thương tim mạch hoặc viêm phổi kẽ nặng. Corticoid đường uống được sử dụng điều trị bệnh Các thuốc điều trị cơ bản DMARD thường kết hợp với corticoid trong điều trị bệnh viêm đa cơ. Nhóm này bao gồm methotrexate, azathioprine, định các thể viêm đa cơ thông dùng Dùng đường uống, liều 7,5- 15mg mỗi tuần tuần, có thể tăng liều lên đến 20mg mỗi tuần tùy theo đáp ứng của bệnh tác dụng không mong muốn suy tế bào gan, suy tủy xương, viêm phổi. Hàng tháng cần theo dõi tế bào máu ngoại vi và enzym gan khi dùng thuốc kéo định khi không đáp ứng với điều trị với dùng Dùng đường uống với liều khởi đầu 1,5- 2mg/kg/ngày, liều trung bình 150- 200mg/ngày. Giảm liều khi các triệu chứng lâm sàng thuyên định trong các thể kháng điều trị với methotrexat hoặc azathioprin hoặc trong trường hợp có tổn thương phổi dùng mỗi tháng một lần truyền tĩnh mạch liều 500mg- 1000 mg; trong 6 tháng liên tục; tiếp theo, có thể duy trì 03 tháng một liều như trên. Có thể dùng thuốc theo đường uống với liều dùng 1- 2 mg/kg/ngày, liều tối đa 150 mg/ngày song nguy cơ ung thư bàng quang dụng không mong muốn viêm bàng quang chảy máu, suy tế bào gan, suy tủy xương, rụng tóc, cảm giác nóng bừng ở đầu trong thời gian truyền. Thuốc tiêm Cyclophosphamide Các biện pháp khácTruyền tĩnh mạch immunoglobulin IVIGChỉ định điều trị hỗ trợ trong trường hợp viêm đa cơ nặng, không đáp ứng với các phác đồ thông thường. Kết hợp với phương pháp điều trị nêu dùng 1-2 g/kg/ngày, chia truyền từ 2-5 ngày mỗi 04 tuần. Ngừng truyền khi các triệu chứng của bệnh được cải huyết tương PlasmapheresisChỉ định điều trị hỗ trợ trong trường hợp viêm đa cơ nặng. Kết hợp với các biện pháp điều trị nêu đa cơ gây ra những thương tổn ở da và cơ cho người bệnh đồng thời gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm nếu không được điều trị kịp thời. Để quá trình điều trị đạt được hiệu quả cao, bạn nên thăm khám và phát hiện bệnh THÊMViêm cơ nhiễm khuẩn Những điều cần biếtTìm hiểu thông tin về viêm cơ, viêm đa cơ, viêm da cơNhiễm trùng nào dẫn đến viêm cơ? XEM THÊM Thuốc HCQ trong điều trị da liễu Kỹ thuật thay huyết tương trong điều trị bệnh nhược cơ Chẩn đoán và điều trị nhược cơ

bệnh viêm đa cơ